Skip to main content

Câu 25: Sứ đồ Phao-lô và Sứ Đồ Gia-cơ Có Mâu Thuẫn Với Nhau Trong Lời Dạy Dỗ Về Sự Xưng Công Bình Bởi Việc Làm Hay Không?

·2985 words·15 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Tôi sẽ lập luận rằng Gia-cơ và Phao-lô thực ra không mâu thuẫn với nhau về vai trò của việc làm trong sự xưng công chính, mặc dù một số học giả cho rằng có sự đối lập. Những lập luận ủng hộ sự mâu thuẫn bao gồm: (1) Gia-cơ rõ ràng phủ nhận rằng sự xưng công chính chỉ bởi đức tin (Gia-cơ 2:24), trong khi Phao-lô khẳng định rằng các tín hữu được xưng công chính chỉ bởi đức tin (Rô-ma 3:28). (2) Phao-lô tuyên bố rằng Áp-ra-ham được xưng công chính bởi đức tin, nhưng Gia-cơ lại nói rằng ông được xưng công chính bởi việc làm khi dâng Y-sác làm tế lễ (Rô-ma 4:1–8; Ga-la-ti 3:6–9; Gia-cơ 2:21). (3) Phao-lô trích dẫn Sáng thế ký 15:6 để chứng minh rằng Áp-ra-ham được xưng công chính bởi đức tin, không phải bởi việc làm (Rô-ma 4:3; Ga-la-ti 3:6), nhưng Gia-cơ lại trích dẫn cùng một câu Kinh Thánh để khẳng định sự xưng công chính bởi việc làm (Gia-cơ 2:23). Những lập luận này có vẻ đối lập mạnh mẽ, nhưng tôi sẽ lập luận rằng Gia-cơ đang chống lại một sự xuyên tạc giáo lý của Phao-lô, trong đó một lối sống vô luật pháp được biện hộ bằng cách bóp méo giáo lý xưng công chính của Phao-lô.

Có những giải pháp khác đã được đề xuất để hòa giải sự khác biệt giữa Phao-lô và Gia-cơ. Một khả năng là Gia-cơ và Phao-lô có ý nghĩa khác nhau khi sử dụng từ “việc làm” (“erga”). Trong lịch sử, các nhà giải kinh Công giáo La Mã đã cho rằng Phao-lô loại trừ các việc làm nghi lễ khỏi vai trò trong sự xưng công chính. Theo cách hiểu này, Gia-cơ đề cập đến các việc làm đạo đức. Vì vậy, không có sự mâu thuẫn, vì theo quan điểm Công giáo La Mã, Phao-lô cũng tin rằng việc làm tốt góp phần vào sự xưng công chính. Tuy nhiên, các nhà Cải Chánh kịch liệt phản đối cách hiểu này, khẳng định rằng “việc làm” trong các thư tín của Phao-lô không thể bị giới hạn trong các nghi lễ như cắt bì hay giữ các ngày lễ.

Điều thú vị là, như chúng ta đã thấy, quan điểm mới về Phao-lô thường cho rằng những việc làm mà Phao-lô loại trừ khỏi sự xưng công chính là những điều tạo ra rào cản giữa người Do Thái và dân ngoại, tập trung vào phép cắt bì, luật ăn uống và ngày Sa-bát. Những người ủng hộ quan điểm mới đến từ một nền tảng khác so với học thuật Công giáo La Mã thế kỷ XVI, nhưng cách giải thích của họ lại có điểm tương đồng đáng chú ý. Tuy nhiên, giải pháp này không thuyết phục, như chúng ta đã lập luận trước đó, vì không có bằng chứng rõ ràng rằng Phao-lô giới hạn “việc làm của luật pháp” hoặc “việc làm” chỉ trong các nghi lễ hoặc các luật lệ phân biệt người Do Thái với dân ngoại.

Tương tự, trái với quan điểm của Công giáo La Mã, không có bằng chứng rõ ràng cho thấy Phao-lô và Gia-cơ sử dụng thuật ngữ “việc làm” với ý nghĩa khác nhau. Dầu vậy, học giả Rainbow có thể đã đúng khi nói rằng Phao-lô loại trừ các việc làm trước khi cải đạo, trong khi Gia-cơ tập trung vào các việc làm sau khi cải đạo. Điều này không có nghĩa là các việc làm sau khi cải dạo là hoàn hảo hoặc tự chúng có thể bảo đảm sự xưng công chính trước Đức Chúa Trời, vì Gia-cơ thừa nhận rằng ngay cả các tín hữu cũng phạm tội bằng nhiều cách khác nhau (Gia-cơ 3:2).

Tuy nhiên, có khả năng rằng Phao-lô và Gia-cơ sử dụng thuật ngữ “xưng công chính” (“dikaioō”) với sắc thái khác nhau.

  • Phao-lô dùng từ “dikaioō” để chỉ sự công chính được ban cho kẻ không tin, dạy rằng chính những kẻ không tin được Đức Chúa Trời tuyên bố là công chính nhờ sự công chính của Đấng Christ.
  • Gia-cơ, mặt khác, sử dụng động từ “dikaioō” để chỉ sự tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng những người làm việc lành là đúng trước mặt Ngài.

Vì vậy, quan điểm phổ biến cho rằng “dikaioō” trong thư Gia-cơ có nghĩa là “được chứng minh là công chính” hoặc “được thể hiện là công chính” không thuyết phục. Thuật ngữ này có nghĩa là “tuyên bố là công chính” trong cả Phao-lô và Gia-cơ, nhưng trong Phao-lô, nó đề cập đến sự tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng những ai tin cậy Đấng Christ là công chính dù họ vốn là kẻ không tin, trong khi trong Gia-cơ, nó đề cập đến sự tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng những ai làm việc lành được xưng công chính.

Quan điểm của các nhà Cải Chánh thường được hiểu rằng con người được chứng minh là công chính trước mặt người khác bởi việc làm của họ (xem Ma-thi-ơ 11:19; Lu-ca 7:35), nhưng họ không được Đức Chúa Trời tuyên bố là công chính bởi việc làm của mình. Giải pháp này khá hấp dẫn và giúp giải quyết sự mâu thuẫn được cho là tồn tại giữa Phao-lô và Gia-cơ. Tuy nhiên, quan điểm này khó có thể xử lý các bằng chứng một cách thỏa đáng. Như đã lập luận trước đó, đúng là Phao-lô sử dụng thuật ngữ dikaioō với ý nghĩa “được tuyên bố là công chính.” Nhưng khó thuyết phục hơn khi cho rằng Gia-cơ sử dụng từ này với ý nghĩa “được chứng minh là công chính” hoặc “được thể hiện là công chính.” Thuật ngữ dikaioō có thể mang ý nghĩa này trong Lu-ca 7:35, nhưng cách định nghĩa như vậy không phổ biến. Hơn nữa, trong một bối cảnh bàn về đức tin, việc làm và sự xưng công chính, chúng ta cần có bằng chứng ngữ cảnh mạnh mẽ để gán một ý nghĩa khác cho từ “xưng công chính.” Việc gán cho từ “xưng công chính” ý nghĩa “tuyên bố là công chính” không chỉ phù hợp với cách dùng phổ biến của từ này mà còn hợp lý trong bối cảnh của thư Gia-cơ.

Có vẻ như cả Gia-cơ và Phao-lô đều sử dụng từ “xưng công chính” theo nghĩa cứu rỗi, nhưng Phao-lô sử dụng từ này theo một cách đặc biệt, khi ông nghĩ về việc Đức Chúa Trời tuyên bố những kẻ không công chính là công chính. Gia-cơ, mặt khác, nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời tuyên bố những người công chính là công chính. Tuy nhiên, tôi sẽ lập luận rằng điều này không có nghĩa là Gia-cơ và Phao-lô mâu thuẫn với nhau. Bối cảnh cứu rỗi trong Gia-cơ rất rõ ràng, vì ông hỏi liệu một đức tin không có việc làm có thể “cứu” được không (Gia-cơ 2:14). “Cứu” gần như chắc chắn đề cập đến sự giải cứu khỏi cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời vào ngày Chúa trở lại (xem Gia-cơ 5:7–9), cùng ý nghĩa mà nó thường có trong các thư tín của Phao-lô. Như vậy, cả “cứu” và “xưng công chính” đều liên quan đến địa vị của một người trước mặt Đức Chúa Trời. Gia-cơ trích dẫn Sáng thế ký 22 để chứng minh sự cần thiết của việc làm (Gia-cơ 2:21), và không có gợi ý nào trong chương đó cho rằng việc dâng Y-sác làm của tế lễ được truyền lệnh để người ta ca ngợi Áp-ra-ham. Trong Sáng thế ký, Đức Chúa Trời khẳng định rằng Ngài biết Áp-ra-ham kính sợ Ngài vì ông sẵn lòng dâng con trai mình (Sáng thế ký 22:12), và Ngài xác nhận phước lành dành cho Áp-ra-ham vì sự vâng lời của ông (Sáng thế ký 22:18). Việc xem sự công chính chỉ có ý nghĩa trong mắt con người không giải thích tốt lập luận trong Gia-cơ 2:14–26 hoặc văn mạch của câu chuyện trong Sáng thế ký 22.

Nếu Gia-cơ sử dụng “dikaioō” để chỉ sự tuyên bố công chính bởi việc làm, trong khi Phao-lô sử dụng thuật ngữ này để chỉ món quà công chính được ban cho kẻ không tin, thì liệu Gia-cơ và Phao-lô có mâu thuẫn với nhau không?

Một giải pháp khác được đề xuất là Gia-cơ khác với Phao-lô vì ông sử dụng thuật ngữ này để chỉ sự xưng công chính trong thời kỳ cuối cùng — sự tuyên bố sẽ được thực hiện vào Ngày Phán Xét. Cách hiểu này giúp chúng ta tiến gần hơn đến việc giải quyết sự khác biệt giữa Phao-lô và Gia-cơ, nhưng vẫn chưa hoàn toàn thành công. Thuật ngữ “xưng công chính” mang tính thời kỳ cuối trong Phao-lô, vì nó đề cập đến sự phán xét cuối cùng, vốn đã được công bố trước thời hạn. Phao-lô nhấn mạnh rằng các tín hữu hiện tại đã được xưng công chính bởi đức tin (Rô-ma 5:1). Bản án cuối cùng đã thuộc về những người ở trong Đấng Christ (Rô-ma 8:1). Điều quan trọng cần lưu ý là Gia-cơ có thể sử dụng từ “cứu” để chỉ sự giải cứu trong thời kỳ cuối cùng (Gia-cơ 1:21; 2:14; 4:12; 5:20). Phao-lô cũng thường sử dụng động từ “cứu” để chỉ sự giải cứu cuối cùng (xem Rô-ma 5:9). Tuy nhiên, không có bằng chứng cho thấy Gia-cơ và Phao-lô sử dụng từ “xưng công chính” theo cách khác nhau về mặt thời kỳ cuối. Chúng ta có thể đồng ý rằng “xưng công chính” mang tính thời kỳ cuối vì nó đại diện cho bản án của Đức Chúa Trời được tuyên bố vào Ngày Phán Xét. Tuy nhiên, Gia-cơ nhấn mạnh rằng bản án này đã được công bố trong lịch sử, giống như Phao-lô.

Tôi đã lập luận rằng Gia-cơ và Phao-lô sử dụng thuật ngữ dikaioō với sắc thái khác nhau (dù không phải với định nghĩa khác nhau): Gia-cơ đề cập đến sự tuyên bố công chính dựa trên việc làm được thực hiện, trong khi Phao-lô nói về phán quyết của Đức Chúa Trời rằng những kẻ không tin nhưng đặt lòng tin nơi Đấng Christ được kể là công chính. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Gia-cơ và Phao-lô mâu thuẫn với nhau. Chúng ta cần nhận ra rằng họ đang giải quyết những hoàn cảnh và tình huống khác nhau, và những bối cảnh đó phải được xem xét khi hiểu lập trường của Phao-lô và Gia-cơ về sự xưng công chính.

Thật vậy, chúng ta đang tiến gần hơn đến việc giải quyết sự căng thẳng giữa Gia-cơ và Phao-lô khi xem xét cách họ sử dụng thuật ngữ “đức tin” (“pistis”). Khi Gia-cơ nói rằng đức tin không thể tự mình xưng công chính, ông đang đề cập đến sự chấp nhận tri thức đơn thuần. Ví dụ, ma quỷ cũng tin vào sự độc thần, nhưng loại “đức tin” này không phải là sự chấp nhận trọn vẹn và vui mừng dẫn đến việc chúng tiếp nhận Chúa Giê-su Christ làm Chúa và Cứu Chúa. Thay vào đó, đức tin của ma quỷ là chính thống về mặt thần học nhưng khiến chúng run sợ trước sự phán xét (Gia-cơ 2:19).

Theo Gia-cơ, đức tin cứu rỗi là đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ làm Cứu Chúa và Chúa Tể, đặt trọn cuộc đời mình trong tay Ngài. Gia-cơ phê phán một loại “đức tin” chỉ đồng ý với Phúc Âm trên lý thuyết nhưng không chi phối toàn bộ con người. Nói cách khác, Gia-cơ không phủ nhận lập luận của Phao-lô rằng đức tin xưng công chính, nhưng Gia-cơ xác định rõ loại đức tin nào thực sự xưng công chính.

Đức tin thật sự xưng công chính không bao giờ tách rời khỏi việc làm. Việc làm chắc chắn sẽ theo sau như bông trái của đức tin ấy. Đức tin chỉ đơn thuần chấp nhận giáo lý về mặt tri thức nhưng không dẫn đến một đời sống được biến đổi là “chết” (Gia-cơ 2:17, 26) và “vô ích” (Gia-cơ 2:20). Loại đức tin này không đem lại “ích lợi” (ophelos, Gia-cơ 2:14, 16 RSV) theo nghĩa là nó không cứu một người khỏi sự phán xét vào Ngày Cuối Cùng. Những ai có đức tin chết và cằn cỗi sẽ không thoát khỏi sự phán xét. Đức tin thật được chứng minh qua việc làm (Gia-cơ 2:18).

Gia-cơ không phủ nhận rằng đức tin cứu rỗi, nhưng đó là đức tin sinh ra (sunergeō) việc làm và được hoàn thiện (teleioō) bởi việc làm (Gia-cơ 2:22). Đức tin cứu rỗi là đức tin sống động, hành động và năng động. Nó phải sinh ra việc làm, giống như lòng thương xót đối với người nghèo chắc chắn sẽ dẫn đến việc chăm sóc thực tế cho nhu cầu vật chất của họ (Gia-cơ 2:15–16).

TÓM TẮT

Gia-cơ và Phao-lô thực ra không mâu thuẫn với nhau về vai trò của đức tinviệc làm trong sự xưng công chính. Gia-cơ đồng ý với Phao-lô rằng đức tin là gốc rễ, còn việc làm là bông trái. Gia-cơ giải quyết một tình huống khác với Phao-lô, vì Phao-lô phủ nhận rằng việc làm có thể đóng vai trò là nền tảng của mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời. Một mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời chỉ có được bởi đức tin. Phao-lô chống lại những người cố gắng thiết lập mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời dựa trên việc làm. Ông lập luận rằng Đức Chúa Trời tuyên bố những người không có sự công chính là công chính nếu họ đặt lòng tin nơi Đấng Christ để được cứu rỗi. Gia-cơ, mặt khác, phản bác những người nghĩ rằng mối quan hệ đúng đắn với Đức Chúa Trời là chân thật nếu có đức tin mà không cần có việc làm đi kèm. Gia-cơ nhìn sự tuyên bố công chính của Đức Chúa Trời từ một góc độ khác, không phải như nền tảng của mối quan hệ với Đức Chúa Trời, mà là kết quả của đức tin. Gia-cơ chống lại chủ nghĩa vô luật pháp, trong khi Phao-lô đối phó với chủ nghĩa luật pháp.

Dĩ nhiên, những nhận xét trên cần được làm rõ thêm. Như đã lập luận trước đó, trong một số bối cảnh, Phao-lô cũng nhấn mạnh rằng việc làm tốt là bông trái của đức tin và là điều cần thiết cho sự xưng công chính (ví dụ, Rô-ma 2:13; 4:17–22). Mục đích của Gia-cơ, như được thấy trong toàn bộ bức thư của ông, là nhấn mạnh rằng việc làm tốt là cần thiết cho sự cứu rỗi. Bức thư của ông dường như đang chống lại một tình huống mà sự buông thả đạo đức được chấp nhận. Tuy nhiên, Gia-cơ không nên được hiểu là đang dạy các tín hữu có thể đạt được sự cứu rỗi dựa trên việc làm tốt, vì những việc làm công chính chỉ là bông trái của đức tin.

Gia-cơ nhận ra rằng tất cả các tín hữu đều phạm tội theo nhiều cách (Gia-cơ 3:2), và rằng chỉ một tội lỗi cũng khiến một người trở thành kẻ phạm luật (2:10–11). Con người, với bản chất tội lỗi, không có khả năng thực hiện những việc làm đủ để xứng đáng với sự xưng công chính. Họ được cứu bởi ân điển của Đức Chúa Trời, vì trong sự nhân từ và rộng lượng của Ngài, Ngài đã ban cho các tín hữu sự sống mới (1:18). Ngay cả đức tin cũng là một món quà từ Đức Chúa Trời, vì Ngài đã chọn một số người để “giàu có trong đức tin và thừa hưởng vương quốc” (2:5). Điều mà Gia-cơ nhấn mạnh là đức tin thật luôn phải được thể hiện qua việc làm tốt. Nhưng những việc làm tốt ấy vẫn còn xa sự hoàn hảo, như Gia-cơ 3:2 làm rõ. Học giả Kierkegaard đã diễn đạt ý của Gia-cơ một cách đáng nhớ:

“Giống như một đứa trẻ tặng quà cho cha mẹ mình, nhưng món quà đó được mua bằng những gì đứa trẻ đã nhận từ cha mẹ; tất cả sự phô trương thường đi kèm với việc tặng quà đều biến mất, vì đứa trẻ nhận từ cha mẹ món quà mà nó tặng lại cho cha mẹ.”

Vậy thì, Phao-lô và Gia-cơ không mâu thuẫn với nhau, dù họ giải quyết những hoàn cảnh khác nhau. Cả hai đều khẳng định sự ưu tiên của đức tin trong sự xưng công chính, và cả hai cũng khẳng định rằng việc làm tốt là bông trái của đức tin, nhưng không phải là nền tảng của sự xưng công chính. Những gì Gia-cơ dạy phù hợp với Phao-lô và với những gì chúng ta thấy ở những phần khác trong Tân Ước.

Câu Hỏi Thảo Luận:

  1. Các học giả Công giáo La Mã thường giải thích ý nghĩa của thuật ngữ “việc làm” trong Phao-lô và Gia-cơ như thế nào?
  2. Phao-lô và Gia-cơ có sử dụng từ “xưng công chính” với ý nghĩa khác nhau không?
  3. Tôi đã đề xuất rằng từ “đức tin” trong Phao-lô và Gia-cơ có nghĩa gì?
  4. Những hoàn cảnh mà Phao-lô và Gia-cơ giải quyết giúp làm sáng tỏ sự nhấn mạnh của họ về sự xưng công chính như thế nào?
  5. Mối quan hệ giữa việc làm tốt và đức tin là gì?

40 CÂU HỎI VỀ CƠ ĐỐC NHÂN VÀ LUẬT PHÁP CỰU ƯỚC