Sắc lệnh sứ đồ được Lu-ca mô tả trong Công vụ 15. Các lãnh đạo Hội thánh từ Giê-ru-sa-lem và An-ti-ốt đã nhóm họp tại Giê-ru-sa-lem để xác định liệu phép cắt bì có bắt buộc đối với dân ngoại tin nhận Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si hay không. Như chúng ta đã thấy trong câu hỏi 30, họ quyết định rằng phép cắt bì không cần thiết. Tuy nhiên, Gia-cơ đề nghị rằng dân ngoại nên tuân giữ bốn quy định khác, và những luật này thường được gọi là sắc lệnh sứ đồ.
Nội dung của những luật này được nhắc lại ba lần:
- Gia-cơ nói rằng các tín hữu dân ngoại nên “tránh những vật đã ô uế bởi thần tượng, tránh sự gian dâm, tránh đồ bị bóp chết, và tránh huyết” (Công vụ 15:20).
- Những yêu cầu tương tự cũng được ghi lại trong lá thư mà hội thánh Giê-ru-sa-lem gửi cho tín hữu dân ngoại: “Tránh những vật đã dâng cho thần tượng, tránh huyết, tránh đồ bị bóp chết, và tránh sự gian dâm” (Công vụ 15:29).
- Gia-cơ nhắc nhở Phao-lô về nội dung của sắc lệnh khi ông trở lại Giê-ru-sa-lem: “Còn về dân ngoại đã tin, chúng tôi đã gửi thư với quyết định rằng họ phải tránh những vật đã dâng cho thần tượng, tránh huyết, tránh đồ bị bóp chết, và tránh sự gian dâm” (Công Vụ 21:25).
Tại sao những yêu cầu này được thêm vào sau khi Hội thánh đã đồng ý rằng dân ngoại không cần phải chịu phép cắt bì? Liệu luật pháp có quay trở lại bằng cửa sau sau khi đã bị loại bỏ ở cửa trước? Và những yêu cầu này có ý nghĩa gì? Hội đồng đã quyết định chính xác điều gì mà dân ngoại phải làm?
Cần lưu ý rằng vấn đề này thực sự còn phức tạp hơn, vì văn bản chính xác của sắc lệnh cũng đang được tranh luận. Chẳng hạn, một số bản sao chép phương Tây bỏ qua mệnh lệnh liên quan đến đồ bị bóp chết và thêm vào một dạng phủ định của Luật Vàng. Nếu cách đọc này được chấp nhận, sắc lệnh sẽ bao gồm các điều cấm về đạo đức. Những người dân ngoại mới tin được hướng dẫn như những tân tín hữu. Họ phải (1) tránh thờ thần tượng, (2) giết người (“huyết”), (3) tránh tội lỗi tình dục, và (4) không làm điều gì với người lân cận mà họ không muốn người lân cận làm với mình.
Ưu điểm của cách giải thích này là nó loại bỏ khó khăn chính trong văn bản. Nếu theo các bản sao chép phương Tây, thì phép cắt bì không phải là điều kiện để được cứu rỗi, nhưng điều này không có nghĩa là không có yêu cầu đạo đức nào đối với tín hữu. Dân ngoại có thể hiểu sai sự tự do khỏi luật pháp nếu họ nghĩ rằng họ được phép thờ thần tượng, giết người lân cận, phạm tội tình dục, và đối xử tệ bạc với người khác. Mặc dù cách đọc của các văn bản phương Tây trả lời tốt các câu hỏi được đặt ra trong Công vụ 15, nhưng nó cần bị bác bỏ. Một trong những nguyên tắc chính trong phê bình văn bản là (nếu mọi yếu tố khác đều tương đương) cách đọc khó hơn nên được chấp nhận là nguyên gốc. Nguyên tắc này áp dụng tốt cho sắc lệnh sứ đồ. Cách đọc khó hơn bao gồm đồ bị bóp chết, điều mà văn bản phương Tây đã loại bỏ. Ngoài ra, các bản sao chép tốt nhất cũng ủng hộ sắc lệnh sứ đồ bao gồm đồ bị bóp chết và không chứa dạng phủ định của Luật Vàng. Nói cách khác, bằng chứng bên ngoài từ truyền thống bản sao chép cũng chống lại cách đọc phương Tây. Cả bằng chứng nội tại và bằng chứng bên ngoài đều phản đối cách đọc phương Tây.
Một số học giả cho rằng sắc lệnh sứ đồ bắt nguồn từ các điều răn của Nô-ê (xem Sáng thế ký 9), nhưng văn bản trong Sáng thế ký không đề cập đến sự gian dâm hay những vật dâng cho thần tượng, do đó, việc liên hệ sắc lệnh với các điều răn dành cho Nô-ê đối với dân ngoại không có sức thuyết phục.
Witherington đưa ra một lập luận thú vị rằng tất cả các điều cấm trong sắc lệnh sứ đồ đều liên quan đến việc thờ phượng trong các đền thờ ngoại giáo. Tuy nhiên, thật khó để thấy làm thế nào lệnh cấm ăn thịt có huyết lại chỉ giới hạn trong những gì diễn ra tại các đền thờ ngoại giáo; do đó, sắc lệnh dường như có phạm vi rộng hơn việc thờ phượng trong các đền thờ ngoại giáo.
Nhiều học giả cho rằng sắc lệnh dựa trên Lê-vi ký 17–18. Theo quan điểm này, sắc lệnh cấm (1) ăn thực phẩm không được giết mổ đúng cách, (2) ăn thịt có huyết, (3) kết hôn trong nội bộ các mối quan hệ huyết thống được quy định trong Lê-vi ký 18:6–18, và (4) ăn thực phẩm dâng cho thần tượng. Có khả năng cách hiểu này về sắc lệnh là đúng, và nó sẽ được đánh giá kỹ lưỡng. Richard Bauckham đưa ra một cách giải thích cụ thể hơn, tìm thấy chìa khóa trong cụm từ “ở giữa các ngươi/họ” trong Lê-vi ký 17:8, 10, 12, 13 và 18:26. Theo Bauckham, những điều răn này, vốn dựa trên Lê-vi ký 17–18, được yêu cầu đối với dân ngoại sống giữa dân Y-sơ-ra-ên. Do đó, theo Bauckham, những điều răn này không phải là một sự thỏa hiệp thực tiễn nhằm tạo điều kiện cho sự giao hảo giữa người Do Thái và dân ngoại, mà thực chất là những điều răn bắt buộc đối với dân ngoại sống giữa Y-sơ-ra-ên.
Một trong những nan đề với cách giải thích của Bauckham liên quan đến Phao-lô. Theo sách Công vụ, Phao-lô đã tham gia hội đồng sứ đồ và chấp nhận sắc lệnh sứ đồ. Bauckham cho rằng sau này Phao-lô đã thay đổi quan điểm và cuối cùng bác bỏ sắc lệnh của hội đồng. Nhưng nếu Phao-lô không đồng ý với các sứ đồ khác và với hội đồng Giê-ru-sa-lem về vấn đề này, có vẻ như ông sẽ làm rõ sự bác bỏ của mình đối với lập trường của họ trong các lập luận của ông trong 1 Cô-rinh-tô 8:1–11:1. Chúng ta có thể mong đợi rằng Phao-lô sẽ tương tác với lập luận dựa trên Lê-vi ký 17–18, nhưng sự tương tác đó lại không xuất hiện. Có lẽ một khả năng khác sẽ thích hợp hơn nếu chúng ta chấp nhận phân tích của Bauckham là đúng.
Có lẽ Phao-lô tin rằng một số dân ngoại ở những khu vực địa lý nhất định không sống giữa dân Y-sơ-ra-ên. Nếu quan điểm sau này là đúng, thì Phao-lô có thể đã chấp nhận sắc lệnh trong một số vùng địa lý nhất định. Sau đó, khi ông đi đến các khu vực khác nhau của Đế quốc La Mã, là nơi các quy định trong sắc lệnh sẽ không còn áp dụng.
C. K. Barrett, mặt khác, hiểu sắc lệnh chủ yếu theo nghĩa đạo đức. Ông cho rằng những điều bị cấm là (1) thờ thần tượng, (2) gian dâm, (3) giết người, và (4) ăn thực phẩm không theo luật kosher (chế độ ăn kiêng của người Do thái). Tuy nhiên, trái với Barrett, có vẻ như việc đề cập đến huyết không liên quan đến giết người mà đến việc ăn thực phẩm có huyết, theo Lê-vi ký 17. Có thể thấy lạ khi có cả sự đề cập đến huyết và việc rút huyết đúng cách từ động vật, nhưng điều này có thể được giải thích như một mối quan tâm lớn của người Do Thái. Tương tự, có vẻ như lệnh cấm không nhắm đến việc thờ thần tượng nói chung, mà bối cảnh thiên về việc cấm ăn thực phẩm dâng cho thần tượng. Theo tôi, một sự điều chỉnh nhẹ đối với quan điểm phổ biến sẽ phù hợp nhất với bằng chứng. Từ “porneia” đề cập đến tội lỗi tình dục, nhưng phần còn lại của các quy định liên quan đến những vấn đề đặc biệt nhạy cảm trong mối giao hảo giữa người Do Thái và dân ngoại. Do đó, sắc lệnh đề cập đến việc (1) kiêng ăn thịt có huyết, (2) ăn thịt mà huyết không được rút đúng cách, và (3) ăn thực phẩm dâng cho thần tượng. Sắc lệnh thêm vào sự hạn chế về (4) tội lỗi tình dục vì đây là một thói xấu phổ biến trong dân ngoại.
Nếu cách hiểu này về sắc lệnh là đúng, tại sao Hội thánh sứ đồ tại Giê-ru-sa-lem lại chấp nhận sắc lệnh? Liệu nó có đại diện cho một sự thỏa hiệp đối với nguyên tắc Phúc Âm không bị ràng buộc bởi luật pháp, vốn đã được xác nhận qua quyết định rằng phép cắt bì không phải là điều kiện bắt buộc?
Không có sự thỏa hiệp hay mâu thuẫn nào ở đây. Hội đồng sứ đồ đã xác định rằng luật pháp không phải là điều kiện để được cứu rỗi. Do đó, phép cắt bì không được áp đặt lên dân ngoại như một nghi thức gia nhập vào Hội thánh của Chúa Giê-xu Christ. Nguyên tắc cơ bản của Phúc Âm không bị ràng buộc bởi luật pháp đã được thiết lập tại hội đồng, nhưng sau đó Gia-cơ chuyển sang xem xét vấn đề giao hảo giữa người Do Thái và dân ngoại. Luật pháp không phải là điều kiện để được cứu rỗi, nhưng hội thánh Giê-ru-sa-lem đã khuyến nghị tuân giữ một số luật đặc biệt nhạy cảm đối với người Do Thái. Những quy định này không phải là điều kiện để được cứu rỗi. Chúng được khuyến nghị như là một phương tiện để tạo điều kiện cho sự giao hảo giữa người Do Thái và dân ngoại. Lý do này dường như được gợi ý qua nhận xét của Gia-cơ trong Công vụ 15:21, “Vì từ các đời trước, Môi-se đã có những người giảng dạy Ngài tại mỗi thành, và được đọc trong các nhà hội vào ngày Sa-bát.” Gia-cơ khẳng định rằng dân ngoại đã nhận thức được những điều nhạy cảm của người Do Thái, vì luật pháp Môi-se được đọc gần như ở mọi thành phố của cộng đồng Do Thái hải ngoại. Do đó, dân ngoại - quen thuộc với những phong tục gây khó chịu cho người Do Thái - được yêu cầu, vì tình yêu thương, tránh gây phiền lòng các anh chị em Do Thái của mình.
Cách hiểu này phù hợp với lời khuyên của Gia-cơ dành cho Phao-lô trong Công vụ 21:25. Gia-cơ nhắc nhở Phao-lô rằng dân ngoại không bị yêu cầu phải tuân giữ luật pháp, mặc dù người Do Thái vẫn tiếp tục giữ nó. Thay vào đó, các yêu cầu chỉ giới hạn trong một số vấn đề đặc biệt nhạy cảm đối với tín hữu Do Thái; do đó, dân ngoại được yêu cầu tuân giữ một số quy định, không phải vì sự cứu rỗi, mà vì tình yêu thương.
TÓM TẮT
Vai trò của sắc lệnh sứ đồ trong quan điểm của Lu-ca về luật pháp là một vấn đề phức tạp và gây tranh cãi. Tôi đã bảo vệ quan điểm rằng sắc lệnh này không mâu thuẫn với sự tự do khỏi luật pháp Cựu Ước mà Lu-ca dạy ở những chỗ khác. Sắc lệnh không phải là điều kiện để được cứu rỗi. Hội đồng sứ đồ đã khuyến nghị rằng dân ngoại nên tránh một số thực hành nhất định để tạo điều kiện cho sự giao hảo giữa người Do Thái và dân ngoại.
Câu Hỏi Thảo Luận
- Nội dung của sắc lệnh sứ đồ theo văn bản phương Tây là gì, và tại sao cách đọc này nên bị bác bỏ?
- Quan điểm nào về sắc lệnh được đề xuất bởi những người thấy nền tảng của nó trong Lê-vi ký 17–18?
- Richard Bauckham hiểu sắc lệnh như thế nào, và bạn đánh giá quan điểm của ông ra sao?
- Quan điểm nào về sắc lệnh được đề xuất trong chương này?
- Nội dung của sắc lệnh có mâu thuẫn với sự tự do khỏi luật pháp được trình bày trong phần còn lại của Lu-ca và Công vụ không?