Skip to main content

Chương 02: Kinh Điển: Lĩnh Vực Nghiên Cứu của Bình Luận Văn Bản Tân Ước

·11182 words·53 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Phạm vi của bình luận văn bản Tân Ước phải được xác định trước khi chúng ta có thể thực hiện công tác này. Do đó, điều cần thiết là phải xác định đúng lĩnh vực của bộ môn này, tức là xác định những tác phẩm cấu thành Thánh Kinh Tân Ước và cách chúng được xem là một phần của tập hợp các sách này. Việc xác định các sách thuộc phạm vi bình luận văn bản có liên quan trực tiếp đến vấn đề kinh điển Tân Ước.

Kinh điển (canon) có thể được định nghĩa là tập hợp các sách được Hội Thánh đầu tiên công nhận là có thẩm quyền trong các vấn đề tín lý và thực hành phụng vụ (liturgical - định nghĩa này sẽ được làm rõ và bảo vệ trong phần 3 của chương này). Những sách kinh điển này có thể được phân biệt với các văn phẩm khác chỉ có giá trị bổ sung hoặc hỗ trợ cho những mục đích này (chẳng hạn như sách Didache - một cẩm nang hướng dẫn thờ phượng thời kỳ đầu).

Thuật ngữ “kinh điển” xuất phát từ tiếng Hy Lạp κανών, ban đầu có nghĩa là cây thước đo lường hoặc danh sách, nhưng ít nhất từ thế kỷ thứ tư, nó đã được các tín hữu dùng theo nghĩa bóng để chỉ tập hợp các sách được xem là Kinh Thánh được Thánh Linh hà hơi (inspiration). Quá trình chọn lựa những sách này để trở thành một phần của kinh điển thường được gọi là “quá trình phong kinh” (canonization).

Trong chương này, chúng ta sẽ thấy rằng, ngoài việc kinh điển cung cấp nền tảng cho bình luận văn bản, kinh điển cũng được định hình bởi bình luận văn bản, vì phần lớn các bằng chứng ban đầu về kinh điển Cơ Đốc được rút ra từ việc phân tích các bản sao chép cổ và nội dung của chúng.

I. CHỨNG CỨ VỀ KINH ĐIỂN TÂN ƯỚC THỜI KỲ SƠ KHAI: KINH ĐIỂN TÂN ƯỚC TRONG BA THẾ KỶ ĐẦU
#

Về sự hình thành của kinh điển Tân Ước, có hai quan điểm chính:

  • Quan điểm đầu tiên, được ủng hộ bởi cả các học giả xưa và nay, cho rằng để đáp lại Marcion và phong trào Montanus (xem bên dưới), kinh điển Tân Ước đã nhanh chóng hình thành dưới sự lãnh đạo của Hội Thánh tại La Mã vào nửa sau thế kỷ thứ hai. Quan điểm này đã trở thành sự đồng thuận trong ngành nghiên cứu Tân Ước và được duy trì cho đến gần đây.
  • Quan điểm thứ hai, được nhiều học giả đương đại chấp nhận, cho rằng thời kỳ quyết định của quá trình phong kinh Tân Ước không phải là thế kỷ thứ hai, mà là vào thế kỷ thứ tư và thứ năm, khi các hội đồng kinh điển (canonical councils) được triệu tập.

Hai loại bằng chứng thường được xem xét khi đánh giá sự tồn tại của kinh điển trong vài thế kỷ đầu của Cơ Đốc giáo: (1) bằng chứng từ các bản sao chép và (2) danh sách kinh điển cổ. Trong chương này, chúng tôi lập luận theo quan điểm truyền thống, khẳng định rằng hai loại bằng chứng này ủng hộ sự phát triển sớm của kinh điển Tân Ước vào thế kỷ thứ hai và thứ ba, điều này đã được các hội đồng thế kỷ thứ tư xác nhận.

1.1. Bằng Chứng từ Tân Ước: Kinh Điển trong Thế Kỷ Thứ Nhất
#

Phao-lô và các tác giả Tân Ước khác có nhận thức rằng họ đang viết Kinh Thánh không? Nói cách khác, liệu Phao-lô và các tác giả này có ý thức kinh điển - tức là biết rằng họ đang viết những tài liệu sẽ được công nhận là kinh điển không? Họ có nghĩ rằng những câu chuyện và thư tín của họ một ngày nào đó sẽ được tập hợp lại thành một tác phẩm đa tác giả mà chúng ta gọi là Tân Ước không?

Rất có khả năng các tác giả thời kỳ đầu không có một quan điểm phát triển đầy đủ về kinh điển như vậy. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Phao-lô và các tác giả Tân Ước khác không nhận thức được rằng họ đang viết những tài liệu có thẩm quyền được hà hơi bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Hãy cùng xem xét một số ví dụ từ các thư tín của Phao-lô.

  • Trong Ga-la-ti 1:12, Phao-lô khẳng định rằng ông nhận được Phúc Âm của mình qua sự mặc khải từ Chúa Giê-xu Christ (xem thêm Ga-la-ti 1:1, 11).
  • Rô-ma 16:25-27 cho thấy rằng Phao-lô xem toàn bộ thư của mình ngang hàng với các sách tiên tri trong Cựu Ước.
  • Trong 1 Cô-rinh-tô 7:25, Phao-lô tạm thời bước ra khỏi thẩm quyền sứ đồ của mình, nói rằng Chúa không truyền lệnh cho người Cô-rinh-tô về vấn đề này, nhưng ông thì có. Sau đó, ông khẳng định rõ ràng trong cuộc thảo luận về ân tứ thuộc linh rằng: “Những điều tôi viết cho anh em là mệnh lệnh từ Chúa” (1 Cô-rinh-tô 14:37).
  • Trong 1 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13, Phao-lô xem sứ điệp của mình là lời của Đức Chúa Trời, chứ không phải lời của loài người.
  • Mệnh lệnh của Phao-lô trong Cô-lô-se 4:16, yêu cầu thư gửi Hội Thánh Cô-lô-se phải được đọc cho người Lao-đi-xê, cho thấy rằng ông có ý định gửi thư này đến một phạm vi rộng hơn, không chỉ giới hạn trong những người được trực tiếp đề cập trong thư.

Những người khác trong Hội Thánh đầu tiên dường như cũng có cùng nhận thức này. Chẳng hạn, 2 Phi-e-rơ 3:16 đề cập đến một nhóm thư tín của Phao-lô (số nhiều) mà nhiều người gặp khó khăn khi hiểu, giống như “các Kinh Thánh khác.” Dạng số ít của cùng một từ được dùng cho “Kinh Thánh” ở đây (γραφή) cũng xuất hiện trong 2 Phi-e-rơ 1:20 để mô tả các sách tiên tri trong Cựu Ước. Mặc dù Phao-lô có thể chưa hình dung toàn bộ quá trình phong kinh, nhưng rõ ràng ông - cũng như Phi-e-rơ - đã nhận thức rằng mình đang viết những tài liệu có thẩm quyền, được hà hơi bởi Thánh Linh, xứng đáng được Hội Thánh đầu tiên thu thập và sử dụng.

Các sách Phúc Âm và sách Khải Huyền được viết trong bối cảnh văn chương khác với các thư tín, nhưng chúng có điểm chung là ghi lại lời của Chúa Giê-xu - Đấng mà các sứ đồ nhận lãnh thẩm quyền từ Ngài. Khi ghi lại lời của Chúa Giê-xu, các tác giả cho thấy rằng họ đang ghi lại lời của một Đấng được linh cảm và có thẩm quyền độc nhất.

Ma-thi-ơ ghi lại lời sai phái của Chúa Giê-xu (Ma-thi-ơ 28:16-20), bao gồm lời kêu gọi môn đồ hóa muôn dân, như một sứ điệp có thẩm quyền dành cho cả độc giả ban đầu của Ma-thi-ơ lẫn Hội Thánh. Giăng ghi lại sự sai phái của những môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-xu để được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh và truyền đạt sứ điệp của Ngài (Giăng 14 và 16). Sách Khải Huyền thậm chí còn trực tiếp hơn các sách Phúc Âm, vì nó ghi lại một tường thuật trực tiếp về sự mặc khải của Chúa Giê-xu Christ đã sống lại.

Nói cách khác, một số tác giả kinh điển của thế kỷ thứ nhất - bao gồm ít nhất là Phao-lô, các tác giả Phúc Âm, Phi-e-rơ và Giăng, tác giả sách Khải Huyền - dường như xem các tác phẩm của họ là Kinh Thánh, tức là truyền đạt thẩm quyền của Chúa Giê-xu Christ và là sự tiếp nối của sự mặc khải trong Cựu Ước, dù có thể họ không nhìn nhận các tác phẩm của mình như một bộ sách hoàn chỉnh mà ngày nay chúng ta gọi là Tân Ước.

1.2. Những Tập Hợp Văn Bản Ban Đầu và Việc Hình Thành Kinh Điển
#

📜 Bằng chứng từ các giáo phụ thời kỳ đầu

Bằng chứng về sự hình thành sớm của Kinh điển Tân Ước được xác nhận qua nhiều lời chứng từ Hội Thánh thời kỳ đầu. Một tập hợp gồm mười ba thư tín của Phao-lô, bốn sách Phúc Âm, Công vụ các Sứ đồ, cùng một số thư tín khác của các sứ đồ, đã được các giáo phụ đầu tiên công nhận. Nhiều học giả trước đây cho rằng những tuyên bố của các giáo phụ về các sách Tân Ước là sự đối phó trực tiếp trước quan điểm của giáo sư Marcion ở thế kỷ thứ hai (khoảng năm 140). Marcion tin rằng Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu khác biệt với Đức Chúa Trời của Cựu Ước – Đấng phán xét công lý – khiến Cựu Ước trở nên lỗi thời đối với Cơ Đốc nhân và do đó không thuộc về Kinh điển. Marcion cũng chủ trương rằng chỉ nên có một sách Phúc Âm duy nhất, đó là Lu-ca, và một nhóm thư tín duy nhất, là các thư của Phao-lô (ngoại trừ 1 & 2 Ti-mô-thê và Tít). Do đó, Kinh điển của phái Marcion chỉ bao gồm Phúc Âm Lu-ca và mười thư tín của Phao-lô.

Quan điểm này ngày nay không còn phổ biến như trước, vì khả năng cao không phải là các giáo phụ phản ứng trước Marcion - người đầu tiên lập danh sách Kinh điển - mà chính Marcion đã phản ứng trước một bộ Kinh điển Cơ Đốc đã hình thành từ trước đó. Trong giới học thuật hiện đại, ý tưởng này đã xuất hiện ít nhất từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX qua công trình của Theodor Zahn, và sau đó được các học giả như Adolf Harnack, T. C. Skeat, Graham Stanton, T. K. Heckel, và Martin Hengel tiếp tục phát triển.

Quan điểm phổ biến về sự hình thành Kinh điển Tân Ước vào thế kỷ thứ hai, hoặc thậm chí từ thế kỷ thứ nhất, được ủng hộ ở nhiều mức độ khác nhau bởi ít nhất năm giáo phụ thời kỳ đầu: (1) Tatian (110-180), (2) Justin Martyr (100-165), (3) Irenaeus (thế kỷ thứ hai và ba), (4) Clement ở thành Alexandria (150-215), và (5) Tertullian (160-225).

  • Tác phẩm Diatessaron của Tatian (khoảng năm 170; xem chương 4 bên dưới) là một bản tổng hợp bốn sách Phúc Âm hiện nằm trong Kinh điển và có niên đại sớm hơn hầu hết các bản sao chép Tân Ước mà chúng ta hiện có, bao gồm các bản mã quan trọng. Việc bốn sách Phúc Âm được sử dụng làm cơ sở cho sự tổng hợp này cho thấy bộ sưu tập này đã sớm được tiếp nhận một cách có thẩm quyền.
  • Justin Martyr đề cập đến một sách Phúc Âm duy nhất (Dialogue 10.2; 100.1) và đến các sách Phúc Âm số nhiều (1 Apol. 66), điều này có thể cho thấy ông đã nghĩ đến bốn sách Phúc Âm trong Kinh điển, nhưng điều này không hoàn toàn chắc chắn. Điều đáng chú ý hơn là ông đề cập đến các “ký sự” (memoirs, Dialogue 106.3) do các sứ đồ và những người theo họ biên soạn, mà khả năng cao là chỉ về hai sách Phúc Âm do các sứ đồ viết (Ma-thi-ơ và Giăng), và hai sách được viết bởi những người theo họ (Lu-ca và Mác).
  • Khoảng năm 180, Irenaeus đã lập luận chi tiết để bảo vệ bốn sách Phúc Âm trong Kinh điển, không thêm cũng không bớt. Skeat đã đưa ra một giả thuyết hợp lý rằng lập luận của Irenaeus dựa trên một truyền thống lập luận trước đó về bộ sưu tập bốn sách Phúc Âm, dựa trên Ê-xê-chi-ên 1:1-21 và Khải Huyền. F. F. Bruce cho rằng phép so sánh của Irenaeus giữa bốn luồng gió và bốn sách Phúc Âm phản ánh mức độ phổ biến và sự chấp nhận rộng rãi của chúng - chúng giống như những hiện tượng tự nhiên trong sự lan tỏa của mình. Ngoài những tham chiếu đến các sách Phúc Âm, Irenaeus cũng gọi các tác phẩm sau là “Kinh Thánh”: Công vụ các Sứ đồ và mười ba thư tín của Phao-lô. Tuy nhiên, trong khi 1 Phi-e-rơ và hai thư của Giăng (1 và 2 Giăng) được đánh giá tương tự như các thư tín của Phao-lô, thì Gia-cơ và Hê-bơ-rơ có lẽ không được coi trọng bằng.
  • Clement ở thành Alexandria trực tiếp đề cập đến “bốn sách Phúc Âm” (Stromata 3.91). Ông hiểu rằng sách Hê-bơ-rơ được Phao-lô viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ cho người Do Thái, nhưng sau đó được Lu-ca dịch sang tiếng Hy Lạp để sử dụng trong các cộng đồng Hy Lạp (Hist. eccl. 6.14.1-3 của Eusenius). Vì vậy, ông xác nhận mười bốn thư tín của Phao-lô và trích dẫn I Phi-e-rơ, I-II Giăng, Giu-đe, và Khải Huyền như là Kinh Thánh. Mặc dù Clement ở thành Alexandria cũng trích dẫn các tài liệu Cơ Đốc thời kỳ đầu để hỗ trợ cho quan điểm của mình, bao gồm cả những sách Phúc Âm không thuộc Kinh điển, nhưng Hengel đã nhận định đúng khi trích dẫn Clement rằng: “Tân Ước, các sách Phúc Âm và các tác phẩm của các sứ đồ là ‘thẩm quyền tối cao.’” Đối với Clement, xét về thẩm quyền, chính “bốn sách Phúc Âm là những điều đã được truyền lại cho chúng ta” (Stromata 3.13.93).
  • Tertullian, thường được xem là cha đẻ của thần học La-tinh, phân biệt giữa các sách Phúc Âm do các sứ đồ viết và những sách do môn đồ của các sứ đồ viết: “Vậy, trong số các sứ đồ, Giăng và Ma-thi-ơ trước hết gieo đức tin vào lòng chúng ta; còn trong số những người thuộc về các sứ đồ, Lu-ca và Mác sau đó củng cố đức tin ấy” (Chống Marcion 4.2.2). Tertullian đề cập đến bốn sách Phúc Âm, Công Vụ các Sứ đồ, mười ba thư tín của Phao-lô, I Giăng, I Phi-e-rơ, Giu-đe, và Khải Huyền như một “tập sách” có thẩm quyền trọn vẹn (Praescr. 32).

Dẫn chứng từ các tác giả thế kỷ thứ hai để xác lập một quan điểm phổ biến có nguồn gốc từ thời kỳ trước đó là một nguyên tắc phương pháp luận đầu tiên được Zahn sử dụng, và sau này được các học giả như Graham Stanton và Peter Balla tiếp tục áp dụng. Nguyên tắc này chủ yếu liên quan đến việc truy ngược từ sự phát triển hoàn chỉnh của một khái niệm hoặc một tiến trình về lại những gốc rễ ban đầu của nó. Theo Balla, “Nếu chúng ta không tìm thấy dấu hiệu của một sự thay đổi lớn trong quan điểm của Hội Thánh phản ánh qua các nguồn trước đó, có thể lập luận rằng tình hình được Irenaeus diễn đạt rõ ràng vào khoảng năm 180 cũng áp dụng cho những thập kỷ trước đó.”

Bức tranh tổng quát từ các giáo phụ về một bộ Kinh điển hình thành sớm, bao gồm ít nhất bốn sách Phúc Âm, Công vụ các Sứ đồ, cùng mười ba hoặc mười bốn thư tín của Phao-lô, được xác nhận qua bằng chứng từ các bản sao chép. Mặc dù Phao-lô có thể chưa đặt các thư tín của mình trong sự phát triển rộng lớn hơn của bộ Kinh điển thuộc Hội Thánh hậu sứ đồ, nhưng có bằng chứng vững chắc cho thấy ông và/hoặc các cộng sự thân cận của ông có thể đã tham gia vào việc thu thập các thư tín của mình, dẫn đến sự hình thành một bộ Kinh điển Phao-lô ngay trong thế kỷ thứ nhất.

📜 Bằng chứng từ 𝔓46

𝔓46, một bản sao chép giấy cói quan trọng (có niên đại khoảng 180-200), củng cố luận điểm này, vì bản sao chép này chứa sách Hê-bơ-rơ và các thư tín được quy cho Phao-lô trong Tân Ước, ngoại trừ 2 Tê-sa-lô-ni-ca, các thư mục vụ, và thư Phi-lê-môn. Điều này cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng một bộ Kinh điển Phao-lô đã tồn tại vào cuối thế kỷ thứ hai.

Cách giải thích hợp lý nhất cho điều này là giả định rằng đã có một quá trình thu thập có hệ thống các thư tín này ngay trong thế kỷ thứ nhất. Những người có khả năng thực hiện quá trình thu thập này nhất có thể là chính Phao-lô hoặc các cộng sự thân cận của ông trong những chuyến hành trình truyền giáo, bao gồm thư ký, các nhà truyền giáo đồng hành, và những người gây dựng Hội Thánh. Theo cách nhìn này về sự hình thành Kinh điển Phao-lô, Phao-lô đã soạn thảo một tập hợp thư tín cá nhân và thư tín dành cho Hội Thánh trong suốt các chuyến hành trình truyền giáo của mình.

Đối với mỗi thư tín, Phao-lô sử dụng các thư ký, và đối với nhiều thư tín - nếu không phải hầu hết - ông đã tạo bản sao chép, theo tập quán viết thư thời bấy giờ. Những bản sao này được giữ bởi chính Phao-lô hoặc các cộng sự của ông, mà thường trong cùng một nhóm, vì họ di chuyển cùng nhau. Bất kể ông đã viết các thư tín trong tù ở đâu đi chăng nữa, thì cuối cùng Phao-lô cũng đã bị giam cầm tại Rô-ma.

Điều này có nghĩa là Phao-lô và các cộng sự thân cận của ông có thể đã trực tiếp chịu trách nhiệm thu thập các thư tín của ông - không phải như một suy nghĩ muộn màng, bằng cách có ai đó đi đến các thành phố khác nhau để gom lại các thư tín (và do đó có nguy cơ một số thư bị thất lạc), mà là bởi chính họ đã có sẵn các bản sao chép của những thư tín này trong tay. Về bản chất, điều này cũng ngụ ý rằng việc thu thập các thư tín của Phao-lô có thể đồng nghĩa với việc xuất bản chúng, vì chúng được phổ biến rộng rãi hơn - ban đầu có thể bởi chính Phao-lô, rồi sau đó bởi các thế hệ môn đồ tiếp nối ông.

Dựa trên điều này, người ta có thể kỳ vọng rằng tất cả các thư tín mà Phao-lô được cho là đã viết đều được bảo tồn, bao gồm cả những thư khác gửi cho người Cô-rinh-tô và người Lao-đi-xê (mặc dù có khả năng thư gửi Lao-đi-xê chính là thư Ê-phê-sô). Không rõ lý do tại sao những thư này bị thất lạc, trừ khi chúng đơn giản là không được sao chép ngay từ đầu (có thể vì thư gửi người Cô-rinh-tô (xem 2 Cô-rinh-tô 2:4) quá nghiêm khắc) hoặc chính chúng đã bị thất lạc trong hành trình truyền giáo của Phao-lô, vốn bao gồm cả những lần đắm tàu.

Câu hỏi vẫn còn đó về lý do tại sao các thư tín mục vụ và thư Phi-lê-môn không được đưa vào bản sao chép giấy cói 𝔓46. Liệu những sách này có bị loại khỏi Kinh điển Phao-lô ngay từ đầu không? Hội Thánh sơ khai có xem chúng là ngụy thư (pseudepigraphal, được viết dưới danh nghĩa một tác giả - trong trường hợp này là Phao-lô - nhưng thực chất bởi một tác giả khác) không? Một số yếu tố có thể giúp làm sáng tỏ câu hỏi này. Trước hết, toàn bộ tài liệu gốc đã không được bảo tồn đầy đủ trong phần còn lại của 𝔓46. Bản sao chép bắt đầu từ Rô-ma 5 và bị gián đoạn ở 1 Tê-sa-lô-ni-ca. Một số học giả đã lập luận rằng, dựa trên kích thước chữ viết và kích thước dự kiến của quyển sách, những bức thư này có thể đã không được đưa vào bản gốc.

Có hai đề xuất đưa ra những lời giải thích hợp lý cho tình huống này:

  • Thứ nhất, theo Jeremy Duff, chúng ta cần nhớ rằng về cuối bản giấy cói, kích thước chữ viết nhỏ lại, dường như nhằm tiết kiệm không gian. Duff nhấn mạnh rằng điều này có thể cho thấy tác giả nhận ra mình đang sắp hết chỗ và viết bằng chữ nhỏ hơn để có thể đưa những thư Phao-lô bị thiếu vào bản sao chép (nếu không đủ chỗ, tác giả cũng có thể thêm một hoặc nhiều tờ nữa).
  • Thứ hai, theo Jerome Quinn, trong khi một số học giả cho rằng việc loại bỏ các thư tín mục vụ ra khỏi 𝔓46 là do Hội Thánh sơ khai sớm nhận ra rằng những thư này được viết dưới danh nghĩa của Phao-lô nhưng thực chất bởi một tác giả khác, điều này vẫn chưa giải thích được việc loại trừ thư Phi-lê-môn, một thư vốn được chấp nhận rộng rãi là của Phao-lô.

Quinn đề xuất rằng lời giải thích hợp lý nhất là 𝔓46 đại diện cho một trong hai tập hợp văn phẩm của Phao-lô được lưu hành trong Hội Thánh sơ khai: (1) các thư gửi cho Hội Thánh (thư Hội Thánh) và (2) các thư gửi cho cá nhân (thư cá nhân). Ông đưa ra các bằng chứng sau để hỗ trợ cho sự phân chia này:

  • (a) Giấy cói 𝔓32 là một mảnh của thư Tít, có niên đại không muộn hơn năm 200, ban đầu có chứa nhiều hơn thư Tít, nhưng không có cách nào xác định được những thư nào, ít nhất cho thấy rằng có một tập hợp bao gồm Tít đã được lưu hành trước khi bước sang thế kỷ thứ hai;
  • (b) Vào khoảng cùng thời gian đó, Tertullian phản hồi việc Marcion loại bỏ các thư mục vụ, đề cập đến một sự phân biệt rõ ràng giữa thư Hội Thánh và thư cá nhân của Phao-lô, điều này dường như đã được biết đến rộng rãi (Marc. 21);
  • (c) Mảnh Muratorian (fragment) duy trì sự phân biệt giữa thư Hội Thánh và thư cá nhân.

Có ba tập hợp văn phẩm của Phao-lô được lưu hành trong Hội Thánh sơ khai: (1) một tập hợp các thư cá nhân, (2) một tập hợp các thư Hội Thánh, và (3) một tập hợp theo phái Marcion gồm mười thư Phao-lô (loại trừ các thư mục vụ).

Lý do bộ kinh điển của Marcion cuối cùng bị Tertullian và Hội Thánh sơ khai bác bỏ là vì tập hợp mười ba thư đã được chấp nhận cùng với bốn sách Phúc Âm và Công vụ đã lưu hành trước đó. Điểm mà Tertullian phản đối Marcion là sự thiếu nhất quán của ông khi đưa thư Phi-lê-môn vào tập hợp của mình nhưng lại loại bỏ các thư mục vụ, vì ông đã chọn một cách tùy tiện một thư từ tập hợp các thư cá nhân. Do đó, nếu 𝔓46 ban đầu không bao gồm các thư mục vụ và Phi-lê-môn, thì lý do có thể nằm ở chỗ những thư này thuộc loại thư cá nhân, và ý định của người sao chép là tập hợp một bộ thư dành cho Hội Thánh.

Vì Phao-lô trực tiếp tham gia vào việc viết và thu thập các thư của mình, nên tập hợp thư của Phao-lô có lẽ được hình thành đầu tiên. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi một trong những bằng chứng sớm nhất về kinh điển là kinh điển của văn phẩm Phao-lô. Tuy nhiên, chúng ta cũng có bằng chứng về một tập hợp các sách Phúc Âm kinh điển và Công vụ được hình thành ngay sau đó, thể hiện qua bản sao chép giấy cói 𝔓45 (đầu thế kỷ thứ ba), trong đó chứa các phần của cả bốn sách Phúc Âm và Công vụ. Không khó để hình dung rằng các sách Phúc Âm và Công vụ có thể đã được hình thành theo cách tương tự như tập hợp văn phẩm Phao-lô. Nếu Lu-ca giữ lại các bản sao chép của các tác phẩm của mình (sách Phúc Âm và Công vụ) và dường như có một bản sao của Mác, thì chỉ cần thêm các bản sao của Giăng và Ma-thi-ơ vào tập hợp khi nó được lưu hành trong Hội Thánh sơ khai.

📜 Bằng chứng từ mảnh giấy cói (papyri) khác

Có bằng chứng về việc tập hợp các bộ sưu tập như vậy trong hai thế kỷ đầu tiên. 𝔓4 là một mảnh giấy cói của sách Lu-ca, 𝔓64 là một mảnh giấy cói của sách Ma-thi-ơ, và 𝔓67 cũng là một mảnh giấy cói của sách Ma-thi-ơ. Ban đầu, chúng được xem là ba bản sao chép riêng biệt, nhưng những điểm tương đồng về đặc điểm chữ viết và nguồn gốc đã khiến một số học giả tin rằng chúng thuộc cùng một bản sao chép Phúc Âm, được sao chép vào khoảng năm 150-175. Có vẻ như bản sao chép này chứa ít nhất hai sách Phúc Âm được lưu hành cùng nhau.

𝔓75, chứa các phần của Lu-ca và Giăng, có niên đại vào cuối thế kỷ thứ hai hoặc đầu thế kỷ thứ ba, có tiêu đề sách Phúc Âm ở cuối sách Lu-ca và đầu sách Giăng, đặt liền kề nhau. Có thể chỉ hai sách Phúc Âm này được lưu hành cùng nhau, nhưng việc sử dụng các tiêu đề cho thấy có khả năng cả bốn sách Phúc Âm đều được bao gồm. Như Eldon Epp lưu ý khi trích dẫn công trình của T. C. Skeat, “đã có những lập luận hợp lý rằng cả 𝔓64 + 𝔓67 + 𝔓4 (150-157) và 𝔓75 (cuối thế kỷ thứ hai hoặc đầu thế kỷ thứ ba) đều là một phần của các bản sao chép Phúc Âm bốn sách nguyên thủy.”

Các tiêu đề sách Phúc Âm đóng vai trò quan trọng trong cuộc thảo luận này. Hengel lập luận rằng các tiêu đề (“Phúc Âm theo X”) hẳn đã được thêm vào từ rất sớm để phân biệt các sách Phúc Âm với nhau trong các thư viện và kho lưu trữ phụng vụ của Hội Thánh sơ khai. Những tiêu đề này cung cấp bằng chứng về việc sử dụng sớm nhiều sách Phúc Âm kinh điển trong phụng vụ. Qua việc sử dụng này, các sách Phúc Âm dần có được thẩm quyền và giá trị khi chúng được dùng riêng lẻ trong các Hội Thánh khác nhau. Cuối cùng, với sự ra đời của dạng sách đóng (codex), các sách Phúc Âm bắt đầu được lưu hành theo từng nhóm hai hoặc ba sách trong đầu thế kỷ thứ hai, cho đến giữa thế kỷ thứ hai, cả bốn sách Phúc Âm đã bắt đầu được lưu hành cùng nhau, dẫn đến sự hình thành một bản sao chép như 𝔓45.

Dựa trên bằng chứng từ các giáo phụ Hội Thánh và các bản sao chép, có vẻ như vào thế kỷ thứ hai đã tồn tại một dạng kinh điển được công nhận bao gồm các văn phẩm Cơ Đốc có thẩm quyền. Điều này không có nghĩa là tất cả các văn phẩm hiện nay được xem là kinh điển đã được đóng thành một tập duy nhất vào thời điểm đó hoặc thậm chí được xem xét trực tiếp trong mối liên hệ với nhau. Việc các văn phẩm không được lưu hành rộng rãi trên khắp thế giới cổ đại chắc chắn đã ngăn cản điều này.

Thay vào đó, trong giai đoạn đầu này, các tín hữu có lẽ đã nghĩ về các văn phẩm thiêng liêng của họ theo các tập hợp kinh điển gắn liền với từng tác giả hoặc nội dung cụ thể. Chúng ta thấy rằng cộng đồng của thư 2 Phi-e-rơ dường như có quyền tiếp cận một tập hợp các thư của Phao-lô, cũng như nhiều cộng đồng khác, và họ gặp khó khăn trong việc hiểu chúng (2 Phi-e-rơ 3:16). Các thư của Phao-lô cũng được lưu hành và sao chép (Cô-lô-se 4:16). Do đó, có thể đã tồn tại một dạng kinh điển Phao-lô từ rất sớm.

Các sách Phúc Âm đầu tiên (Mác và Ma-thi-ơ) có lẽ đã cung cấp những ghi chép đầu tiên về Chúa Giê-xu, tiếp theo là Lu-ca và sau đó là Giăng. Sách Công vụ tự nhiên được liên kết với sách Phúc Âm Lu-ca, vì Lu-ca là tác giả của cả hai (mặc dù Công vụ ban đầu được lưu hành độc lập, thường cùng với các thư tín Chung - tức Gia-cơ, 1&2 Phi-e-rơ, 1-2-3 Giăng, và/hoặc Giu-đe), cho đến khi cuối cùng tập hợp các văn phẩm này được xem là kho tàng tông đồ có thẩm quyền về truyền thống Chúa Giê-xu. Trong quá trình này, các tín hữu có thể đã đọc một hoặc hai sách Phúc Âm cùng nhau cho đến khi cả bốn sách Phúc Âm cùng với Công vụ được lưu hành rộng rãi, như chúng ta thấy trong 𝔓45.

Dưới phạm vi của kinh điển này, một khuôn khổ kinh điển ngầm định dường như đã được thiết lập, trong đó các tập hợp các tác phẩm của các sứ đồ được thu thập trong một phương diện, và các tập hợp sách Phúc Âm do những nhân chứng sứ đồ (về công việc của các sứ đồ) biên soạn được thu thập trong một phương diện khác. Những tác giả của các văn bản này dường như đã xem văn chương của họ như sự tiếp nối của sự mặc khải trong Cựu Ước, và những người trong Hội Thánh đầu tiên dường như đã coi chúng với cùng một thẩm quyền.

François Bovon lập luận rằng một kinh điển hình thành sớm như vậy là hệ quả tự nhiên của cấu trúc hai phần trong văn chương của Tân Ước. Ông đề xuất rằng có một cấu trúc Phúc Âm - Sứ đồ — một cấu trúc kinh điển hai phần bao gồm câu chuyện về sứ điệp và sứ mạng của Chúa Giê-xu (các sách Phúc Âm), được thuật lại và giải thích bởi những môn đồ được Ngài sai phái (các sứ đồ) — trong văn chương của Tân Ước, cung cấp một khuôn khổ nội tại dẫn đến sự hình thành kinh điển vào thế kỷ thứ hai.

  • Sự sai phái của Phao-lô dường như được xem như một sự mặc khải từ Chúa Giê-xu Christ (Phúc Âm) để rao giảng về Ngài cho dân ngoại (Ga-la-ti 1:15-16) (sứ mạng sứ đồ).
  • Truyền thống Giăng (tức những tác phẩm được quy về sứ đồ Giăng) cũng tương tự, với sách Phúc Âm nhấn mạnh về Ngôi Lời trong phần mở đầu, và 1 Giăng bổ sung yếu tố chứng ngôn sứ đồ. Sự sai phái của Chúa Giê-xu đối với các môn đồ và lời hứa về Đức Thánh Linh là giáo sư của họ trong Giăng 14 và 16 củng cố mô hình này. Sách Khải Huyền kết hợp cả hai yếu tố trong phần mở đầu, tập trung vào sự mặc khải cho Giăng để truyền lại cho các đầy tớ khác của Chúa Giê-xu.
  • Chúng ta cũng thấy mô hình Phúc Âm – Sứ đồ trong cấu trúc của Lu-ca và Công vụ các Sứ đồ, nơi có một bản tường thuật Phúc Âm, theo sau là ký thuật về chức vụ sứ đồ thời kỳ đầu. Chính các sách Phúc Âm cũng ủng hộ cấu trúc này, bao gồm các tường thuật trước và sau lễ Phục Sinh, cung cấp thông tin về sứ điệp và chức vụ của Chúa Giê-xu, đồng thời mô tả sự sai phái của các sứ đồ.

Các giáo phụ sứ đồ và những nhà biện giáo đầu tiên (những người bảo vệ đức tin) dường như đã nắm bắt được cấu trúc này và bắt đầu quy tụ các dòng truyền thống Cơ Đốc ban đầu thành những tập hợp toàn diện hơn. Như Bovon trình bày:

“Cấu trúc Phúc Âm - Sứ đồ, hiện diện từ thế hệ đầu tiên của các tín hữu, mở đường cho việc hình thành một tập hợp mới các sách Kinh Thánh như một phần bổ sung hoặc đối ứng với bản Bảy Mươi (Septuagint) mà Hội Thánh đã kế thừa. Do đó, việc hình thành một kinh điển Tân Ước là sự hiện thực hóa hợp lý của cấu trúc thần học này. Sự hiện diện của cặp Phúc Âm - Sứ đồ trong thời kỳ của các giáo phụ sứ đồ và các nhà biện giáo đã bảo đảm sự chuyển tiếp từ các quy chuẩn do Phao-lô, Lu-ca và Giăng thiết lập sang các nhân chứng của Tân Ước từ thời Irenaeus ở thành Lyon trở về sau”.

Ví dụ, Tertullian công nhận tầm quan trọng của mối liên hệ này khi ông nói (đã được trích dẫn ở trên): “Trong số các sứ đồ, Giăng và Ma-thi-ơ trước hết gieo đức tin vào chúng ta; trong khi những người thuộc hàng sứ đồ, Lu-ca và Mác, sau đó làm mới lại đức tin ấy” (Marc. 4.2.2). Ông làm rõ hơn mối liên hệ này trong một tác phẩm khác, nơi ông phân chia Tân Ước thành “các sách Phúc Âm” và “các sứ đồ” (Prax. 15). Tường thuật của Eusebius (xem bên dưới) về Papias, giám mục thành Hierapolis vào đầu thế kỷ thứ hai, đã thấy rõ nhu cầu kết nối Mác trực tiếp với truyền thống sứ đồ (Hist. eccl. 3.39.15-16).

“Và vị trưởng lão thường nói thế này: Mác trở thành người phiên dịch của Phi-e-rơ và ghi chép chính xác tất cả những gì ông nhớ, tuy không theo thứ tự, về những lời nói hoặc việc làm của Chúa. Vì ông chưa từng nghe Chúa, cũng chưa từng theo Ngài, nhưng sau này, như tôi đã nói, ông theo Phi-e-rơ, người thường giảng dạy theo nhu cầu, nhưng không sắp xếp có hệ thống các lời phán của Chúa. Vì vậy, Mác không làm gì sai khi ghi lại từng điểm riêng lẻ theo trí nhớ của mình. Vì ông chỉ chú tâm vào một điều: không bỏ sót bất cứ điều gì ông đã nghe và không đưa ra bất kỳ tuyên bố sai lệch nào trong đó”.

Điều này có nghĩa là chỉ còn lại sách Lu-ca và Hê-bơ-rơ. Bovon đúng khi đặt Lu-ca vào trường phái Phao-lô, nhưng Hê-bơ-rơ rõ ràng khó xác định hơn theo tiêu chí sứ đồ nghiêm ngặt do sự không chắc chắn về tác giả của nó. Tuy nhiên, việc sách này được đưa vào 𝔓46 giữa các thư tín của Phao-lô (sau Rô-ma và trước 1 Cô-rinh-tô) cùng với quan điểm của một số giáo phụ đầu tiên rằng tài liệu này do Phao-lô soạn hoặc trực tiếp truyền tải tư tưởng của Phao-lô (ví dụ, được Lu-ca truyền lại) cho thấy rằng ít nhất trong một số nhóm thuộc Hội Thánh đầu tiên, nó được xem như một tài liệu thuộc Phao-lô. Điều này sẽ đáp ứng tiêu chí sứ đồ đối với tính kinh điển và do đó cho phép nó được đưa vào bộ kinh điển.

Theo giả thuyết này, kinh điển không phải là kết quả của áp lực từ Marcion hoặc từ các ảnh hưởng sơ khai khác như Ngộ giáo (Gnosticism - một tà giáo thời kỳ đầu nhấn mạnh tri thức đặc biệt và thuyết duy linh) hay Môn-ta-nít (Montanism, một phong trào tiên tri thời kỳ đầu), như một số người đã giả định. Cũng như Marcion, có vẻ như Ngộ giáo là một phản ứng đối với các tác phẩm trong kinh điển Tân Ước của chúng ta, hơn là một lực thúc đẩy sự hình thành bộ kinh điển. Môn-ta-nít thậm chí còn ít được biết đến hơn, nhưng nó cũng dường như là một phản ứng đối với Tân Ước, đặc biệt là sách Phúc Âm Giăng.

Mặc dù những ảnh hưởng này có thể đã góp phần định hình và đẩy nhanh quá trình tạo ra các tuyên bố mang tính chất giáo hội chung và chính thức về bản chất và ranh giới của bộ kinh điển, nhưng bộ kinh điển đã bắt đầu hình thành từ rất sớm trong các cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên, như một hệ quả của cấu trúc nội tại, sứ điệp và tác giả của các tác phẩm. Những đặc điểm này khiến các tác phẩm sau này được công nhận là bộ kinh điển được nhóm lại trong tâm trí của các tín hữu đầu tiên, và do đó dẫn họ đến việc tập hợp chúng thành các bộ sách từ khá sớm trong quá trình phát triển của Cơ Đốc giáo thời kỳ đầu.

Mục đích và tiền đề này được hỗ trợ đáng kể bởi sự phát minh của sách đóng (codex), một dạng sách (không phải cuộn giấy) cho phép các tín hữu đầu tiên tập hợp văn chương thánh của họ thành những bộ sưu tập thích hợp, như chúng ta đã thấy trong các bản giấy cói từ thế kỷ thứ hai và thứ ba.

1.3. Các Danh Sách Kinh Điển Cổ
#

Ngoài các bằng chứng từ chính Tân Ước, các giáo phụ đầu tiên, và bằng chứng từ các bản sao chép trong những bộ sưu tập cổ về văn học Tân Ước, sự hình thành một kinh điển ổn định—bao gồm các Thư tín của Phao-lô, cả bốn sách Phúc Âm và Công Vụ, cùng một số thư tín Công Giáo, với Khải Huyền, Gia-cơ và II Phi-e-rơ được một số người chấp nhận—trong đầu thế kỷ thứ hai được củng cố bởi các danh sách kinh điển cổ. Những danh sách này tương ứng chặt chẽ với kinh điển đã được các hội đồng chính thức công nhận vào thế kỷ thứ tư và thứ năm.

📜 Mảnh Văn Bản Muratorian

Mảnh văn bản Muratorian, được Antonio Muratori phát hiện tại Milan, là một danh sách kinh điển cổ từ thế kỷ thứ bảy đến thứ tám, viết bằng tiếng La-tinh, bao gồm tất cả các sách trong Tân Ước, ngoại trừ thư Hê-bơ-rơ, thư Gia-cơ và các thư tín của Phi-e-rơ. Nó cũng bác bỏ rõ ràng các sách không thuộc quy điển như “Người Chăn Chiên” của Hermas (Shepherd of Hermas).

Mặc dù khả năng thư Hê-bơ-rơ và Gia-cơ từng có trong danh sách kinh điển này vẫn cần phải được xem xét do tình trạng phân mảnh của văn bản, nhưng khó có thể hình dung chúng được đặt ở đâu - trước phần thảo luận (vốn bắt đầu với bốn sách Phúc Âm), hay sau đó, vì văn bản kết thúc bằng việc đề cập đến các sách ngoài kinh điển. Tuy nhiên, sự có mặt của thư Giu-đe dường như gợi ý rằng những tài liệu này có thể đã xuất hiện trong một phiên bản sớm hơn của mảnh văn bản Muratorian hoặc ở giai đoạn đầu trong lịch sử truyền tải của nó. Ở cấp độ cao nhất, sự vắng mặt của chúng vẫn chưa có kết luận chắc chắn.

Các học giả truyền thống cho rằng mảnh văn bản Muratorian cung cấp một danh sách sớm nhất về các tác phẩm kinh điển trong cộng đồng Cơ Đốc nhân ở Đông phương thời kỳ đầu, với niên đại vào cuối thế kỷ thứ hai (khoảng năm 180-200). Tuy nhiên, gần đây, quan điểm này đã bị đặt nghi vấn. Một số học giả như Albert Sundberg và Geoffrey Hahneman lập luận rằng niên đại thực sự của văn bản này thuộc cuối thế kỷ thứ tư.

Những luận điểm truyền thống mạnh mẽ nhất ủng hộ niên đại thế kỷ thứ hai của mảnh Muratorian bao gồm:

  • Nhận xét trong mảnh văn bản Muratorian ghi rằng tác phẩm “Người Chăn Chiên” của Hermas (100-145) được viết “rất gần đây, trong thời đại của chúng ta” (dòng 73-74), và rằng Pius được cho là giám mục thành La Mã (dòng 75), điều này dường như đặt văn bản này vào khoản thời gian không muộn hơn năm 200.
  • Graham Stanton cũng đã đưa ra một số luận điểm quan trọng. Ông chỉ ra rằng các sách Phúc Âm được đặt tiêu đề theo cách gọi của thế kỷ thứ hai, tương tự như cách Irenaeus sử dụng (ví dụ: “sách Phúc Âm thứ tư”). Stanton cũng lưu ý rằng cuộc thảo luận khá mở rộng về Phúc Âm Giăng là điều thường thấy trong thế kỷ thứ hai, do những cuộc tấn công về quyền tác giả của sứ đồ Giăng từ nhóm Alogi, nhưng không còn phổ biến vào thế kỷ thứ tư, khi quyền tác giả của Phúc Âm này không bị nghi vấn nữa. Tuy nhiên, đóng góp chính từ nghiên cứu của Stanton nằm việc minh họa những khác biệt về văn phong giữa danh sách kinh điểm của mảnh Muratorian và các danh sách từ các hội đồng ở thế kỷ thứ tư.
  • Các luận điểm khác, chẳng hạn như việc sử dụng các thuật ngữ phổ biến của La Mã và sự vắng mặt của thư Hê-bơ-rơ và Gia-cơ, cũng được đưa vào để ủng hộ một niên đại sớm, nhưng chúng không thật sự thuyết phục. Dầu vậy, khi xét chung, những luận điểm này cùng nhau tạo thành một cơ sở vững chắc ủng hộ niên đại sớm của mảnh văn bản.

Tuy nhiên, đã có những phản hồi đối với các đề xuất và luận điểm ủng hộ niên đại thế kỷ thứ tư. Lee McDonald tổng hợp chín luận điểm như vậy.

  1. Đầu tiên, ông cho rằng những danh sách kinh điển như thế không tồn tại trong thế kỷ thứ hai và các sách được đề cập vẫn chưa được đưa vào kinh điển.
  • Luận điểm này thực chất là một sự ngụy biện, khi giả định trước rằng những hiện tượng như vậy không xảy ra trong thế kỷ thứ hai. Cách lập luận này đã ngầm khẳng định điều đang còn tranh cãi - liệu Mảnh Muratori có phải là một tài liệu như vậy hay không - mà không cần chứng minh. Người ta luận lập rằng chúng ta không có tài liệu tương tự nào khác để so sánh, vì ngay cả trong thế kỷ thứ tư, chúng ta cũng chỉ có một vài danh sách của Hội Thánh chung (ecumenical) xuất phát từ các hội đồng thực tế, mặc dù có những danh sách khác xuất hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau (ví dụ: các thư tín lễ hội - festal letters).
  • Ngay cả khi chấp nhận luận điểm cơ bản này - rằng danh sách của Hội Thánh chung hoặc danh mục không phải là hiện tượng của thế kỷ thứ hai - chúng ta vẫn có thể phân biệt giữa (1) “danh mục chính thức” chỉ đơn thuần liệt kê các tài liệu có thẩm quyền và (2) những tác phẩm thảo luận lý do tại sao một số tài liệu được chấp nhận là có thẩm quyền. Mặc dù có thể chấp nhận rằng loại danh mục đầu tiên chỉ xuất hiện từ thế kỷ thứ tư, nhưng không có gì cho thấy rằng loại danh mục thứ hai không xuất hiện trong thế kỷ thứ hai, như Peter Balla đã lưu ý.
  1. Thứ hai, McDonald cho rằng niên đại phải thuộc thế kỷ thứ tư vì các sách Phúc Âm không được bảo vệ, như chúng ta thấy trong các bài viết của Irenaeus.
  • Tuy nhiên, điều chúng ta có trong các bài viết của Irenaeus và các nhà biện hộ đầu tiên chính là sự bảo vệ, trong khi mảnh văn bản Muratorian dường như chỉ đơn thuần là một tuyên bố về những gì đã được chấp nhận và không được chấp nhận vào thời điểm nó được viết.
  1. Thứ ba, sách Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-môn (Wisdom of Solomon) được đề cập trong mảnh văn bản Muratorian, một chi tiết chỉ có những tương đồng vào thế kỷ thứ tư.
  • Điều này cũng mắc phải lỗi ngụy biện đặt vấn đề cần chứng minh làm tiền đề, bởi vì luận điểm đưa ra chính là mảnh văn bản này phản ánh chính xác hiện tượng này trong thế kỷ thứ hai. Dù sao đi nữa, sách Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-môn cũng đã được các giáo phụ thế kỷ thứ hai như Clement và Tertullian nhắc đến.
  1. Thứ tư, hai tác phẩm khác, De AbraamExpositio fidei catholice, được tìm thấy cùng với mảnh văn bản Muratorian trong bộ sách lớn hơn mà nó thuộc về (toàn bộ bộ sưu tập này được gọi là Codex Muratori), có niên đại vào thế kỷ thứ tư.
  • Tuy nhiên, không hiếm khi các bộ sách (codices) bao gồm các tài liệu trải dài qua nhiều thời kỳ khác nhau. Chẳng hạn, Codex Sinaiticus có sự đa dạng đáng kể về niên đại của các tài liệu trong bộ sưu tập, vì nó bao gồm Bản Bảy Mươi, Tân Ước, thư tín của Ba-na-ba, và Người Chăn Chiên của Hermas.
  1. Thứ năm, có ý kiến cho rằng phong cách La-tinh của văn bản thuộc thế kỷ thứ tư chứ không phải thế kỷ thứ hai.
  • Tuy nhiên, tiếng La-tinh của mảnh văn bản này rất kém, và đã bị ảnh hưởng bởi các phương pháp sao chép không chính xác.
  1. Thứ sáu, cụm từ La-tinh urbs Roma (dòng 76), đề cập đến thành phố La Mã, được cho là phổ biến hơn ở phương Tây.
  • Tuy nhiên, ngôn ngữ này xuất hiện cả ở phương Đông lẫn phương Tây, vì vậy luận điểm này không ảnh hưởng đến cuộc tranh luận.
  1. Thứ bảy, việc loại trừ thư Hê-bơ-rơ và Gia-cơ không phải là một luận điểm mạnh để chứng minh nguồn gốc Đông phương, điều mà chúng ta có thể chấp nhận, hoặc để xác định một niên đại muộn.

  2. Thứ tám, việc loại trừ thư Hê-bơ-rơ, Gia-cơ và các thư tín của Phi-e-rơ trở nên kỳ lạ khi xét đến việc Giu-đe được đưa vào danh sách và một số tác phẩm khác bị bác bỏ. Đây thực sự là một bí ẩn đối với một niên đại sớm hoặc (có lẽ càng đúng hơn) một niên đại muộn của mảnh văn bản, và dù sao đi nữa, nó vẫn là một bằng chứng chưa có kết luận chắc chắn.

  3. Cuối cùng, thứ chín, tuyên bố trong mảnh Muratorian ghi rằng, “rất gần đây, trong thời đại của chúng ta,” đòi hỏi một niên đại quá muộn đối với tác phẩm Người Chăn Chiên của Hermas. Tác phẩm này có lẽ đã được viết vào đầu thế kỷ thứ hai, thay vì cuối thế kỷ thứ hai - thời điểm được cho là mảnh văn bản Muratorian được viết - và việc loại bỏ nó khỏi kinh điển phải là một diễn biến của thế kỷ thứ tư, vì nhiều tác giả thời kỳ đầu đã đánh giá cao tác phẩm này.

  • Không có trở ngại đáng kể nào đối với việc các tác giả được trích dẫn như Clement ở thành Alexandria và Irenaeus có thể tiếp cận tác phẩm Người Chăn Chiên của Hermas, nếu chúng ta giữ nguyên niên đại theo truyền thống của tác phẩm này là vào khoảng năm 150. Về việc mảnh Muratorian bác bỏ Người Chăn Chiên như là một tác phẩm thuộc kinh điển, thì vốn chỉ có Irenaeus đề cập rõ ràng đến tác phẩm này như là “Kinh Thánh.” Không có bằng chứng chắc chắn rằng Hội Thánh thế kỷ thứ hai xem tác phẩm này là Kinh Thánh, ngay cả khi họ đánh giá cao nó, như chính mảnh văn bản Muratorian có ghi rằng nó “thật sự nên được đọc” (dòng 77), nhưng không nằm trong số các sách của các tiên tri và sứ đồ (dòng 79-80).

✅ Tóm lại, các luận điểm ủng hộ niên đại muộn của mảnh văn bản Muratorian rõ ràng còn thiếu sót và thường dẫn đến các lỗi ngụy biện. Bằng chứng cho một niên đại sớm vẫn rất thuyết phục.

❓Vậy, mảnh văn bản từ thế kỷ thứ hai này có ý nghĩa gì đối với việc truy tìm sự phát triển của kinh điển Tân Ước?

Như đã đề cập ở trên, mặc dù một số sách kinh điển hiện đại không có mảnh văn bản Muratorian, nhưng thật khó để xác định liệu chúng đã bị mất trong quá trình truyền tải văn bản hay do bản sao chép bị hư hại. Tuy nhiên, các sách được đưa vào và bị loại trừ đều có ý nghĩa quan trọng, vì mảnh văn bản này cho thấy phần lớn kinh điển Tân Ước đã được tiếp nhận vào cuối thế kỷ thứ hai dưới dạng một cuộc thảo luận thực tế về các tài liệu đã được chấp nhận.

Việc đề cập đến sách “Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-môn, được sáng tác bởi các đồng sự của Sa-lô-môn” là một chi tiết kỳ lạ, nhưng có thể đang ám chỉ đến sách Châm Ngôn. Và mảnh văn bản này dường như xác nhận rằng một nhóm tài liệu rất giống với kinh điển, sau này được phê chuẩn vào thế kỷ thứ tư, đã được tiếp nhận và sử dụng ngay từ thế kỷ thứ hai. Việc Người Chăn Chiên của Hermas bị loại trừ nhưng vẫn được khuyến khích đọc cũng mang lại cái nhìn sâu sắc hơn về tư duy ban đầu đối với tài liệu này.

📜 Eusebius

Eusebius, giám mục thành Caesarea tại Palestine (265-340) và là một sử gia Hội Thánh thế kỷ thứ tư, có mối quan tâm sâu sắc đến việc ghi chép sự phát triển của kinh điển Tân Ước. Ông thảo luận về quan điểm của nhiều giáo phụ thời kỳ đầu đối với các sách Kinh Thánh, thường ghi lại ý kiến của họ dưới dạng danh sách. Một số học giả cho rằng Eusebius sử dụng những danh sách này để thúc đẩy mối quan tâm của mình trong việc thiết lập một danh mục có thẩm quyền về Kinh Thánh. Tuy nhiên, không có lý do gì để nghi ngờ rằng Eusebius đã cố gắng hết sức nhằm ghi nhận trung thực quan điểm của các giáo phụ thời kỳ đầu, chủ yếu để bảo tồn lịch sử tranh luận, hơn là để thúc đẩy một chương trình nghị sự cá nhân.

Trong tác phẩm Lịch Sử Hội Thánh (Hist. eccl. 6.14.5-7), được viết khoảng năm 325, Eusebius ghi lại sự chấp nhận bốn sách Phúc Âm của Clement ở thành Alexandria. Những sách được viết đầu tiên là hai sách có gia phả. Sau đó, sự giảng dạy của Phi-e-rơ tại La Mã được ghi lại bởi Mác như là sách Phúc Âm thứ ba, và sách của Giăng được viết sau cùng.

Theo Eusebius, Origen (185-254) phân loại các sách Cơ Đốc có thẩm quyền thành ba nhóm:

  1. homologoumena (những tác phẩm được chấp nhận rộng rãi),
  2. amphiballomena (những tác phẩm bị nghi ngờ trong một số khu vực của Hội Thánh), và
  3. pseudē (những tác phẩm giả mạo được các tà giáo biên soạn)

Theo ghi chép của Eusebius, Origen công nhận trong nhóm đầu tiên một số thư của Phao-lô (có khả năng là mười ba thư), cũng như bốn sách Phúc Âm, Công vụ, Khải Huyền, một thư ngắn của Giăng, và thư Hê-bơ-rơ, mà tác giả chưa rõ. Các sách 2 Giăng, 3 Giăng và 2 Phi-e-rơ thuộc nhóm thứ hai. Kinh điển của chúng ta bao gồm những sách từ danh sách thứ nhất và thứ hai của Origen.

Một số học giả cho rằng Eusebius đang áp đặt các phân loại của thế kỷ thứ tư lên Origen, nhưng điều này không có khả năng, vì danh sách của Eusebius lại sử dụng các phân loại khác để phân loại sách quy điển (Hist. eccl. 3.25). Ông phân biệt giữa

  1. homologoumenoi (những tác phẩm được công nhận),
  2. antilegomenoi (những sách bị tranh luận), và
  3. Những tác phẩm không đáng tin

Trong nhóm đầu tiên, Eusebius bao gồm bốn sách Phúc Âm, Công vụ, mười ba thư của Phao-lô (có vẻ như thư Hê-bơ-rơ là thư thứ mười bốn), 1 Giăng, 1 Phi-e-rơ, và có thể là sách Khải Huyền của Giăng. Nhóm thứ hai bao gồm Gia-cơ, Giu-đe, 2 Phi-e-rơ, 2 Giăng và 3 Giăng. Nhóm thứ ba gồm Công Vụ của Phao-lô, Người Chăn Chiên của Hermas, Khải Huyền của Phi-e-rơ, Thư của Ba-na-ba, Giáo huấn của các Sứ đồ (Didache), và có thể là sách Khải Huyền của Giăng.

II. KINH ĐIỂN TÂN ƯỚC TRONG THẾ KỶ IV VÀ V: NHỮNG DANH MỤC CỦA Hội Thánh CHUNG, CÁC HỘI ĐỒNG VÀ CÁC BẢN SAO CHÉP
#

Các thế kỷ thứ tư và thứ năm trong quá trình hình thành kinh điển được đánh dấu chủ yếu bởi sự quan tâm của các hội đồng Hội Thánh đến việc thảo luận về bản chất và ranh giới của kinh điển, lập danh sách các tài liệu có thẩm quyền (tức kinh điển), và tập hợp các tài liệu này thành các tập sách (codices). Dưới đây là một số danh mục, hội đồng (councils), và tập sách quan trọng từ thế kỷ thứ tư và thứ năm có liên quan đến việc hiểu kinh điển Tân Ước.

📜 Danh Mục trong Thủ Bản (Codex) Claromontanus

Đứng thứ hai chỉ sau danh mục các tác phẩm kinh điển được liệt kê trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius (năm 325) (đã được thảo luận ở phần trước) là danh mục có trong Thủ Bản Claromontanus - một bản sao chép song ngữ Hy Lạp-La-tinh có niên đại vào thế kỷ thứ sáu. Đây là một trong những danh sách kinh điển sớm nhất của thế kỷ thứ tư, bảo tồn một tài liệu có niên đại từ khoảng năm 303 đến 367.

Danh sách này bao gồm bốn sách Phúc Âm, mười thư của Phao-lô (loại trừ 1&2 Tê-sa-lô-ni-ca và Phi-líp), bảy thư tín chung, sách Khải Huyền, và một số tác phẩm ngụy thư (tất cả đều được đánh dấu - có lẽ để chỉ ra sự nghi ngờ hoặc quan điểm rằng những tác phẩm này không có thẩm quyền ngang bằng với các sách khác).

📜 Danh Sách Cheltenham (Danh Mục Mommsen)

Danh sách Cheltenham, có nguồn gốc từ Bắc Phi khoảng năm 360, được nhà học giả cổ điển người Đức Theodor Mommsen phát hiện vào năm 1885, và do đó đôi khi được các học giả gọi là Danh Mục Mommsen.

Danh sách này mở đầu bằng một trích dẫn từ Khải Huyền 4:10 về hai mươi bốn trưởng lão, và dựa trên cách giải nghĩa ẩn dụ, nó đi đến kết luận rằng có hai mươi bốn tác phẩm được linh cảm (inspiration): bốn sách Phúc Âm, Công vụ, mười ba thư của Phao-lô, ba thư của Giăng, hai thư của Phi-e-rơ, và sách Khải Huyền.

📜 Epiphanius

Trong một luận văn chống lại các tà giáo, Epiphanius ở thành Salamis tại Cyprus đã đưa ra một danh sách các tác phẩm kinh điển (khoảng năm 374-377). Trong số các sách Tân Ước được chấp nhận kinh điển, ông bao gồm bốn sách Phúc Âm, mười bốn thư của Phao-lô (gồm cả thư Hê-bơ-rơ), Công vụ, các thư tín chung (Gia-cơ, 1-3 Giăng, Phi-e-rơ, và Giu-đe), và sách Khải Huyền. Điều đáng chú ý là ông cũng đưa sách Sự Khôn Ngoan của Sa-lô-mônBen Sira vào danh sách các sách Tân Ước.

📜 Cyril, Gregory, and Amphilochius

Đây là ba danh sách được biên soạn trong một khoảng thời gian tương đối ngắn, tất cả đều nằm trong khoảng từ năm 350 đến năm 380.

  • Cyril ở thành Jerusalem (năm 350) đã đưa ra một danh sách các Sách Kinh Thánh được hà hơi trong một bài giảng giáo lý của mình, bao gồm bốn sách Phúc Âm (ông bác bỏ Phúc Âm của Thô-ma theo thuyết Manichaean), Công vụ, bảy thư tín chung (Gia-cơ, 1-2 Phi-e-rơ, 1-3 Giăng, và Giu-đe), cũng như mười bốn thư của Phao-lô (bao gồm thư Hê-bơ-rơ).

  • Một thời gian sau, Gregory ở thành Nazianzus (năm 380) đã biên soạn một danh sách các sách trong Kinh Thánh Cơ Đốc dưới dạng thơ để giúp ghi nhớ. Danh sách Tân Ước của ông bao gồm bốn sách Phúc Âm, mười bốn thư của Phao-lô (bao gồm thư Hê-bơ-rơ), và bảy thư tín chung. Ông khẳng định rằng bất cứ sách nào nằm ngoài danh sách này đều không phải là chính thống.

  • Cuối cùng, Amphilochius ở thành Iconium (năm 380) cũng đưa ra một danh sách vào thời điểm này, bao gồm bốn sách Phúc Âm, Công vụ, mười ba thư của Phao-lô, thư Hê-bơ-rơ, bảy thư tín chung, và sách Khải Huyền - mặc dù ông thừa nhận rằng có một số người đặt nghi vấn về tính kinh điển của thư Hê-bơ-rơ và sách Khải Huyền.

📜 Thư Lễ Hội (Festal Letter) của Athanasius

Vào năm 367, Athanasius, giám mục thành Alexandria (328-373), đã đọc Bức Thư Lễ Hội thứ ba mươi chín của mình, công bố ngày lễ Phục Sinh. Đây là tài liệu đầu tiên liệt kê chính xác hai mươi bảy sách được các hội đồng cuối thế kỷ thứ tư quyết định đưa vào Tân Ước.

Ông là tác giả đầu tiên của Hội Thánh Đông phương kể từ Origen chấp nhận sách Khải Huyền là có thẩm quyền. Thư Hê-bơ-rơ được xếp vào nhóm các thư tín của Phao-lô. Không có đề cập nào đến các sách ngụy thư. DidacheNgười Chăn Chiên của Hermas, dù không thuộc kinh điển, vẫn được xem là hữu ích cho sự gây dựng đức tin.

📜 Latin Vulgate

Jerome đã dịch (hoặc đúng hơn là chỉnh sửa từ bản La-tinh cổ) bốn sách Phúc Âm sang tiếng La-tinh vào năm 383. Bản dịch của ông sau đó được mở rộng để bao gồm toàn bộ Tân Ước và trở thành Vulgata La-tinh. Có sự đồng thuận rằng Jerome là người thực hiện phần Phúc Âm của phiên bản này, nhưng vai trò của ông trong việc biên soạn phần còn lại của Tân Ước vẫn còn là vấn đề tranh luận. Phần Tân Ước của bản Kinh Thánh La-tinh này bao gồm toàn bộ hai mươi bảy sách của Tân Ước và được Hội Thánh Tây phương công nhận rộng rãi.

📜 Rufinus và Giáo Hoàng Innocent

Rufinus ở thành Aquileia (345-410) được biết đến nhiều nhờ bản dịch các trước tác của Origen. Ông đã cung cấp cho thế hệ của mình một bài giải thích về Tín Điều Các Sứ Đồ, trong đó ông nhân cơ hội để biên soạn một danh sách các sách mà ông cho là được hà hơi bởi Đức Thánh Linh. Danh sách này tương đồng với danh mục của Athanasius và Jerome, bao gồm hai mươi bảy sách của kinh điển Tân Ước.

Vào năm 405, trong một lá thư gửi Exsuperius, Giáo hoàng Innocent, giám mục thành Toulouse (?–417), đã xác nhận hai mươi bảy sách này, với ngoại lệ là thư Hê-bơ-rơ - ông không đề cập đến thư này trong phần thảo luận của mình.

📜 Hội đồng Hippo và Hội đồng Carthage

Ở phương Đông, dưới ảnh hưởng của Augustine, ba hội đồng đã nhóm họp để bàn về ranh giới của kinh điển Cơ Đốc. Hội đồng đầu tiên diễn ra vào năm 393, gọi là Hội đồng Hippo, nhưng hồ sơ từ hội đồng này không còn tồn tại. May mắn thay, các quyết định của nó đã được tái xác nhận tại Hội đồng Carthage lần thứ ba vào năm 397, nơi mà 27 sách của Tân Ước được công nhận - một quyết định được khẳng định lại tại Hội đồng Carthage lần thứ sáu vào năm 419.

📜 Các Thủ Bản Thế Kỷ IV và V

Đến ít nhất vào giữa thế kỷ IV, toàn bộ các thủ bản (codices) hoàn chỉnh của Tân Ước đã bắt đầu được tập hợp (xem chương 3). Hai văn kiện như vậy được bảo tồn trong Thủ Bản Vaticanus (Codex Vaticanus) và Thủ Bản Sinaiticus (Codex Sinaiticus). Thông qua việc biên soạn một Tân Ước, các ký lục và viên chức phải đối diện với quyết định về những gì thực sự thuộc về tập hợp văn chương này. Thủ Bản Sinaiticus là thủ bản duy nhất còn lại trong số các thủ bản sớm có đầy đủ cả 27 sách của Tân Ước kinh điển, cùng với thư của Barnabas và một số phần từ Người Chăn Chiên của Hermas ở cuối.

  • Thủ Bản Vaticanus chứa hầu hết các sách của Tân Ước quy điển, phần lớn thư Hê-bơ-rơ (bị gián đoạn ở Hê-bơ-rơ 9), các thư cá nhân của Phao-lô (các thư tín mục vụ và Phi-lê-môn), và sách Khải Huyền có lẽ ban đầu cũng được bao gồm nhưng đã không được còn do tình trạng phân mảnh của thủ bản.
  • Thủ Bản Alexandrinus, từ thế kỷ V, bảo tồn toàn bộ bốn sách Phúc Âm (nhưng không phải toàn bộ sách Ma-thi-ơ), Công vụ, Gia-cơ, 1&2 Phi-e-rơ, 1-3 Giăng, Giu-đe, mười bốn thư Phao-lô (bao gồm thư Hê-bơ-rơ) và Khải Huyền, cùng với 1-2 Clement.

III. KINH ĐIỂN VÀ CÁC VĂN BẢN THÁNH: VẤN ĐỀ THUẬT NGỮ
#

Hiện tại, đây là thời điểm thích hợp để suy ngẫm sâu hơn về định nghĩa của kinh điển đã được giới thiệu ở đầu chương này. Eugene Ulrich chỉ ra ba đặc điểm thiết yếu trong việc định nghĩa khái niệm kinh điển: (1) chính cuốn sách là kinh điển, không phải hình thức văn bản của nó; (2) nó bao hàm sự đánh giá có suy nghĩ của các giáo phẩm và hội đồng; và (3) nó liên quan đến một danh sách đóng (a closed list).

Do đó, James Sanders, John Barton và Albert Sundberg, cùng với một số học giả khác nghiên cứu về vấn đề kinh điển Tân Ước, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân biệt giữa (1) các văn bản thiêng liêng — những văn bản được công nhận là thánh và có thẩm quyền, được sử dụng trong thực hành phụng vụ — và (2) các văn bản kinh điển, tức là những sách xuất hiện trong danh sách kinh điển dựa trên quyết định của các hội đồng chính thức. Sự phân biệt này thường được duy trì bởi những người ủng hộ sự phát triển của kinh điển Tân Ước vào thế kỷ IV/V, dựa trên quyết định của các hội đồng.

Lập luận của những người theo quan điểm này là, mặc dù “các văn bản thiêng liêng” có thể đã tồn tại trước các hội đồng, nhưng những văn bản này chỉ có thể được xem là “kinh điển” — theo nghĩa của họ — từ cuối thế kỷ IV trở đi. Vấn đề với sự phân biệt này là nó giới hạn cuộc thảo luận một cách sai lầm. Các định nghĩa được đưa ra khiến cho một kinh điển thế kỷ II trở nên lỗi thời một cách mặc định. Điều này khó có thể thuyết phục. Việc tái định nghĩa “kinh điển” để giới hạn sự xuất hiện của nó trong một thời kỳ cụ thể - thế kỷ IV đến V - không chứng minh được rằng nó thực sự xuất hiện trong thời kỳ đó. Như chúng ta đã thấy, bằng chứng ủng hộ quan điểm này vẫn chưa đủ thuyết phục.

IV. TÓM TẮT
#

Kinh điển Tân Ước nên được định nghĩa là tập hợp các văn bản mà Hội Thánh đầu tiên xem là có thẩm quyền trong các vấn đề giáo lý và thực hành phụng vụ. Định nghĩa này có ưu điểm là không định trước thời điểm hình thành kinh điển, cho phép tất cả các bằng chứng được cân nhắc một cách công bằng.

Theo định nghĩa này, có bằng chứng cho thấy một kinh điển cố định đã tồn tại từ thế kỷ II, bao gồm ít nhất bốn sách Phúc Âm và mười ba hoặc mười bốn thư của Phao-lô (tùy thuộc vào cách nhìn nhận thư Hê-bơ-rơ). Bằng chứng cho điều này được tìm thấy trong sự lưu hành sớm của hai nhóm tài liệu này cùng nhau và trong nội dung của mảnh văn bản Muratorian.

Tình trạng của các thư khác dường như vẫn đang được thảo luận dựa trên cách chúng phù hợp với khuôn khổ Phúc Âm - Sứ đồ, nhưng các thư của Gia-cơ, Giăng và Phi-e-rơ, cũng như Khải Huyền, rõ ràng đã được chấp nhận trong nhiều cộng đồng Hội Thánh, ngay cả vào thời kỳ khá sớm. Các hội đồng và các văn kiện khác của thế kỷ IV và V chỉ đơn thuần cung cấp tuyên bố chính thức về những vấn đề này trong các khu vực địa lý tương ứng, xác nhận những sách nào thực sự phù hợp với cấu trúc Phúc Âm - Sứ đồ của văn chương kinh điển.

Thật vậy, kinh điển đã được thiết lập một cách nội tại bởi những tiêu chí mà Hội Thánh tự xem là của chính mình ngay khi các văn bản được viết ra, và kinh điển đã được đóng lại ngay khi vị sứ đồ cuối cùng qua đời. Nỗ lực của Hội Thánh trong khoảng bốn thế kỷ đầu tiên chủ yếu là khám phá những tác phẩm nào phù hợp với khuôn khổ Phúc Âm - Sứ đồ, chứ không phải quyết định tác phẩm nào là kinh điển. Tiêu chí để xác định tính kinh điển nằm trong chính các văn bản, chứ không phải trong quá trình ra quyết định của Hội Thánh.


NỀN TẢNG CĂN BẢN CỦA BÌNH LUẬN VĂN HỌC TÂN ƯỚC