Skip to main content

Chương 05: Các Loại Bản Văn Tân Ước

·2718 words·13 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Khi các bản gốc (autograph) được sao chép, và những bản sao chép này tiếp tục được sao chép trong các cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên, những thay đổi nhỏ hoặc biến thể đã xuất hiện. Khi các bản sao chép bắt đầu lan rộng khắp thế giới cổ đại, những bản sao chép được sản xuất và lưu hành ở các khu vực khác nhau bắt đầu có những biến thể hoặc cách đọc tương tự nhau. Alands ví hiện tượng này như những gợn sóng trên mặt hồ:

Việc lưu hành một tài liệu bắt đầu từ nơi (hoặc khu vực Hội thánh) xuất xứ của nó, nơi tác giả viết ra, hoặc từ nơi nó được gửi đến… Các bản sao chép của bản gốc sẽ được tạo ra để sử dụng trong các Hội thánh lân cận. Việc lưu hành một quyển sách giống như những gợn sóng từ một hòn đá ném xuống hồ, lan rộng ra mọi hướng cùng một lúc. Khi một quyển sách được chia sẻ qua việc sao chép lặp đi lặp lại trong một giáo phận hoặc khu vực đô thị, những mối liên kết chặt chẽ giữa các giáo phận sẽ chuyển nó từ khu vực này sang khu vực khác, nơi quá trình này sẽ được lặp lại.

Chúng ta có bằng chứng về quá trình truyền tải văn bản này trong Cô-lô-se 4:16, nơi những người nhận thư tại Cô-lô-se được lệnh đọc lá thư gửi đến Lao-đi-xê trong Hội thánh của họ và cho phép lá thư gửi đến họ được đọc trong Hội thánh tại Lao-đi-xê. Khi các bản sao chép của Tân Ước được lan truyền ngày càng xa khỏi nơi xuất xứ của nó, quá trình lưu hành này cuối cùng đã tạo ra một số nhóm văn bản có cơ sở địa lý hoặc các loại hình bản văn (text-type).

Các loại hình bản văn có chung một số cách đọc tương tự, nhưng không phổ biến trong các nhóm khác. Vào thời điểm nhiều loại hình bản văn này được xác định, chúng thường được gắn với các địa điểm cụ thể. Do đó, một số người tin rằng loại hình bản văn Alexandria có liên quan đến Alexandria, Ai Cập (một trung tâm nghiên cứu văn bản cổ xưa trước thời Tân Ước) và là loại hình cổ nhất, gần nhất với các bản gốc. Tuy nhiên, các nhóm văn bản khác cũng đôi khi được các học giả cho rằng đã hình thành tại Caesarea ở Palestine (loại hình bản văn Caesarean), tại Rô-ma (loại hình bản văn phương Tây), và tại Byzance (loại hình bản văn Byzantine, còn được gọi là loại hình bản văn Syria hoặc Koine, đôi khi được liên kết rộng rãi với bản văn Đa số, the Majority text).

Sau khi xem xét ngắn gọn về việc sử dụng các loại hình bản văn trong bình luận Tân Ước, chúng ta sẽ khảo sát từng nhóm và giá trị của nó đối với bình luận văn bản trong chương này.

I. VIỆC SỬ DỤNG CÁC LOẠI HÌNH BẢN VĂN TRONG LÃNH VỰC BÌNH LUẬN VĂN BẢN TÂN ƯỚC
#

Phần lớn các nhà bình luận văn bản đương đại xem loại hình bản văn Alexandria là bằng chứng vượt trội cho văn bản Tân Ước. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng. Những ấn bản đầu tiên của Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp được dựa trên loại hình bản văn Byzantine. Xu hướng này tiếp tục trong khoảng ba trăm năm, cho đến khi các học giả như J. J. Griesbach, Constantine Tischendorf, B. F. Westcott và F. J. A. Hort nhận ra sự vượt trội của nhóm bản sao chép Alexandria.

Mặc dù ấn bản in đầu tiên của Tân Ước thường được ghi nhận là do học giả vĩ đại người Hà Lan Desiderius Erasmus xuất bản năm 1516 - một nhà thần học nổi tiếng vì những tranh luận với nhà cải chánh Tin Lành Martin Luther - nhưng trước đó, đã có ấn bản năm 1514 của bộ Đa ngữ Complutensian (phần Tân Ước) - Complutensian Polyglot, một phiên bản Hy Lạp-Latin của toàn bộ Kinh Thánh. Tuy được in sớm hơn, nhưng bộ Đa ngữ (Polyglot) này không được xuất bản ngay do các vấn đề chính trị giáo hội. Trong khi các bản sao chép được sử dụng để biên soạn bộ Đa ngữ Complutensian vẫn chưa được biết rõ, thì chắc chắn Erasmus chủ yếu dựa vào một số lượng tương đối nhỏ các bản sao chép thế kỷ 12 và 13 thuộc nhóm Byzantine, và không tham khảo các bản sao chép cổ hơn, dù chúng có sẵn.

Vì sự phổ biến của ấn bản này, một nhà xuất bản sau đó đã gọi văn bản do Erasmus biên soạn là Textus Receptus (“bản văn được tiếp nhận”), vì nó được chấp nhận rộng rãi như là văn bản Hy Lạp của Tân Ước. Nhưng như Kurt Aland và Barbara Aland lưu ý, các ấn bản của Erasmus không phải lúc nào cũng đồng nhất:

“Văn bản do Colinaeus xuất bản vào năm 1534 - là ấn bản đầu tiên sau năm lần xuất bản của Erasmus (được chỉnh sửa liên tục) - cho thấy có nhiều điểm khác biệt với chúng, một phần có nguồn gốc từ văn bản Complutensian … và một phần do sử dụng thêm các bản sao chép khác.”

Tuy nhiên, Textus Receptus vẫn được xem là bản đại diện tốt nhất cho văn bản Tân Ước trong vài thế kỷ.

Dù một số học giả, đặc biệt là Johann Jakob Griesbach (1745-1812), đã đặt nghi vấn về Textus Receptus ở một số chỗ, nhưng bước ngoặt chính khiến Textus Receptus không còn chiếm ưu thế là việc phát hiện ra Codex Sinaiticus (xem chương 4) bởi Constantine Tischendorf (1815-1874) và những ấn bản toàn diện của Tân Ước mà ông đã cẩn thận biên soạn, đặc biệt là ấn bản thứ tám có sử dụng Sinaiticus.

Tischendorf xem bằng chứng Alexandria này (xem bên dưới) là bằng chứng quan trọng nhất có sẵn về văn bản Tân Ước thời kỳ đầu, và biểu thị tính ưu tiên của nó trong bình luận văn bản bằng cách dùng chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái Hê-bơ-rơ (א, aleph) làm ký hiệu. Nhưng chính Brooke Foss Westcott (1825-1901) và Fenton John Anthony Hort (1828-1892) mới thật sự định hình quỹ đạo của việc ưu tiên cao độ loại hình bản văn Alexandria trong bình luận văn bản Tân Ước đương đại.

Cùng với Codex Sinaiticus, họ nhấn mạnh Codex Vaticanus (xem chương 4) như là những bằng chứng Alexandria quan trọng của văn bản Tân Ước. Họ tin rằng khi Codex Vaticanus và Codex Sinaiticus cùng đồng thuận, cách đọc đó thể hiện Bản Văn Trung Lập (neutral text), qua đó các biến thể khác cần được so sánh. Mặc dù các học giả ngày nay cho rằng họ không đánh giá bản văn Alexandria cao đến mức đó (dù văn bản Tân Ước được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay dựa trên hai bản mã này), nhưng hầu hết vẫn xem nó là bằng chứng cổ nhất và đáng tin cậy nhất về văn bản Tân Ước.

II. CÁC LOẠI BẢN VĂN CỤ THỂ TRONG TÂN ƯỚC
#

2.1. Bản Văn Alexandrian (Alexandrian Text)
#

Hai bản sao chép cổ nhất và gần như đầy đủ nhất của Tân Ước, Codex SinaiticusCodex Vaticanus (xem chương 4), là những đại diện của loại hình bản văn Alexandria. Không phải như Westcott và Hort đề xuất rằng Sinaiticus và Vaticanus cùng nhau tạo thành một bằng chứng riêng biệt, mạnh mẽ hơn, khác với loại hình bản văn Alexandria.

Dù sự đồng chứng của hai thủ bản (codices) quan trọng này chắc chắn thể hiện một cách đọc rất tốt và đáng tin cậy, ngày nay, nhìn chung người ta chấp nhận rằng cách đọc này đơn giản là một phần của loại hình bản văn Alexandria rộng lớn hơn. Trên thực tế, các bản sao chép thuộc truyền thống Alexandria hiện được công nhận là có trọng lượng lớn hơn so với các bản sao chép từ những truyền thống khác.

2.2. Bản Văn Phương Tây (Western Text)
#

Dựa trên các trích dẫn Tân Ước từ giáo phụ Irenaeus, vốn có những nét tương đồng với các bản sao chép muộn của loại bản văn Tây phương, Westcott và Hort cho rằng nó có thể được xác định niên đại sớm nhất vào thế kỷ thứ hai. Tuy nhiên, họ vẫn hoài nghi về giá trị của loại hình bản văn Tây phương như một bằng chứng độc lập đối với văn bản Tân Ước, ngoại trừ trong một số trường hợp có các câu ngắn hơn. Dù vậy, có rất ít bằng chứng bổ sung để chứng minh sự phát triển liên tục của một loại hình bản văn Tây phương vào thế kỷ thứ hai, và các trích dẫn từ Irenaeus có lẽ chỉ cho thấy một dạng tiền Tây phương hoặc bản văn sơ khai của loại hình này.

Bản văn Tây phương như chúng ta biết ngày nay có lẽ đã xuất hiện hoàn chỉnh vào đầu thế kỷ thứ 4 dưới sự nỗ lực từ phương Đông (nhiều học giả thậm chí còn đặt câu hỏi liệu “Tây phương” có phải là một nhãn hiệu phù hợp cho nhóm văn bản này hay không) nhằm chỉnh sửa các bản sao chép sẵn có để làm cho chúng phù hợp hơn với mục đích phụng vụ và thần học.

Ngày nay, loại hình bản văn Tây phương được bảo tồn chủ yếu trong ba hình thức:

  • Các sách Phúc Âm và Công vụ được thể hiện qua Codex Bezae Cantabrigiensis (được ký hiệu là D), một bản sao chép song ngữ Hy Lạp-Latin có niên đại từ thế kỷ thứ năm.
  • Hai đại diện quan trọng khác của truyền thống Tây phương nằm trong các bản dịch cổ:
    1. Các bản sao chép ke thuộc bản dịch Cổ Latin (Old Latin Version), và
    2. Bản dịch Cổ Syriac (Old Syriac Version).

2.3. Bản Văn Caesarean (Caesarean Text)
#

Loại hình bản văn Caesarea là nhóm văn bản được phát hiện muộn nhất trong các dòng văn bản (textual families) và có số lượng đại diện ít nhất. Nó được W. H. Farrar xác định vào năm 1868 khi ông nhận thấy sự tương đồng giữa ba bản sao chép Phúc Âm dạng chữ nhỏ, tạo thành nhóm mà ngày nay được gọi là Gia đình 13 (Family 13) hoặc Gia đình Farrar (Family Farrar). Các bản sao chép khác được cho là theo truyền thống Caesarea bao gồm Codex KoridethiGia đình 1 (Family 1).

Các trích dẫn Tân Ước của Origen thường được cho là tương ứng với bản văn Caesarea, và nhà bình luận văn bản hiện đại J. Harold Greenlee đã đề xuất rằng các trích dẫn Phúc Âm của Cyril ở thành Jerusalem phụ thuộc vào một loại hình bản văn Caesarea. Các nghiên cứu gần đây đã đặt nghi vấn nghiêm túc về sự tồn tại của loại hình bản văn Caesarea, đặc biệt vì nó có khá ít bản sao chép và có niên đại muộn.

2.4. Bản Văn Byzantine (Byzantine Text)
#

Cho đến gần đây trong ngành bình luận văn bản hiện đại, loại hình bản văn Byzantine hầu như bị loại bỏ hoàn toàn như là bằng chứng đáng tin cậy cho văn bản Tân Ước. Nhiều người (một số ít học giả nghiêm túc cố gắng thiết lập cơ sở học thuật vững chắc cho lý thuyết này) vẫn tiếp tục khẳng định giá trị của nó đối với ngành bình luận văn bản ngày nay, chủ yếu dựa trên tiền đề thần học rằng Đức Chúa Trời đã bảo tồn Lời Ngài trong truyền thống Byzantine, giả định rằng số lượng quan trọng hơn niên đại của các bản sao chép trong việc xác định độ tin cậy (do đó bản văn Byzantine còn được gọi là Bản Văn Đa Số, the Majority text), và/hoặc bởi những giả định thúc đẩy chủ nghĩa cơ bản cực đoan chỉ sử dụng Kinh Thánh bản King James Version (KJV-only fundamentalism). Tuy nhiên, không có lập luận nào trong số trên chứng minh được tính thuyết phục.

Mặc dù một phân tích toàn diện về vấn đề này nằm ngoài phạm vi của chương này, nhưng một phản hồi ngắn gọn đối với một số lập luận mang tính văn bản là cần thiết ở đây:

  • Giả định thần học rằng Đức Chúa Trời đã bảo tồn Lời Ngài một cách đặc biệt trong Hội thánh Byzantine hoàn toàn không có cơ sở về mặt giải kinh, lịch sử và lý luận. Không có cách nào để chứng minh hoặc bác bỏ tuyên bố này: nó không thể bị bác bỏ và không có giá trị giải thích.
  • Lập luận dựa trên số lượng rõ ràng bị phá vỡ khi nhận ra rằng hầu hết các bản sao chép Byzantine có niên đại sau thế kỷ thứ 9. Việc những người sao chép thời trung cổ sao chép một số lượng lớn các bản sao chép muộn không có nghĩa là truyền thống bản sao chép được sao chép theo cách nào đó chính xác hơn so với những bản sao chép từ vài thế kỷ trước, vốn dựa trên các văn bản thậm chí còn sớm hơn. Nếu không, ngày nay người ta chỉ cần sao chép thật nhiều bản sao chép Alexandria là có thể khiến truyền thống đó trở nên đáng tin cậy hơn mỗi khi một bản sao được tạo ra.
  • Hơn nữa, luận điệu của những người theo chủ nghĩa cơ bản (fundamentalists) và những người ủng hộ chỉ sử dụng KJV (KJV-only advocates) hiếm khi dựa trên sự nghiêm ngặt của học thuật Kinh Thánh, mà thay vào đó họ khăng khăng duy trì một lý thuyết không thể đứng vững trước bằng chứng văn bản và lịch sử (chưa kể đến lập luận ngầm rằng Đức Chúa Trời không chỉ bảo tồn văn bản Byzantine mà còn cả bản dịch của nó trong KJV).

Không có bằng chứng nào về một truyền thống Byzantine trước thế kỷ thứ 4, cũng không có trích dẫn nào về bản văn Byzantine từ các giáo phụ trước thế kỷ thứ 4. Như chúng ta đã thảo luận, các bản sao chép sớm nhất của Tân Ước được tìm thấy trong các mảnh giấy cói (papyri), và trong số 128 mảnh hiện có, không có mảnh nào chứa các cách đọc đặc trưng của Byzantine. Một kết luận hợp lý rút ra từ điều này là bản văn Byzantine có lẽ là kết quả của những nỗ lực nhằm chuẩn hóa văn bản Hy Lạp (được xác nhận thêm bởi thực tế rằng truyền thống Byzantine liên tục có các cách đọc dài hơn ở những nơi mà nó không đồng ý với các truyền thống khác) và không phản ánh một truyền thống sớm của văn bản Tân Ước.

III. TÓM TẮT
#

Khi từng sách Tân Ước được tiếp nhận và lưu hành trong Hội thánh đầu tiên, nhiều bản sao chép đã được tạo ra và phân phối khắp thế giới cổ đại. Khi các bản sao chép được lưu hành trong các khu vực địa lý cụ thể, chúng bắt đầu mang những đặc điểm và/hoặc cách đọc riêng biệt theo từng địa phương, dẫn đến sự hình thành các loại hình bản văn hoặc các nhóm văn bản.

Bốn nhóm văn bản chính đã được các nhà bình luận văn bản Tân Ước xác định và nghiên cứu: (1) Alexandria, (2) Tây phương, (3) Caesarean, và (4) Byzantine. Tuy nhiên, chúng tôi đề xuất rằng các loại hình bản văn Tây phương và Byzantine có thể là kết quả của một quá trình chỉnh sửa tiêu chuẩn hóa.


NỀN TẢNG CĂN BẢN CỦA BÌNH LUẬN VĂN HỌC TÂN ƯỚC