Skip to main content

Chương 04: Những Ngụy Biện Về Lý Luận

·16107 words·76 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God
Table of Contents

Tại Sao Xe Cứu Hỏa Có Màu Đỏ

Bài vè gốc (Tiếng Anh)Bản dịch Tiếng Việt
They have four wheels and eight men;Chúng có bốn bánh và tám người;
four plus eight is twelve;bốn cộng tám là mười hai;
twelve inches make a ruler;mười hai inch tạo thành một cây thước đo;
a ruler is Queen Elizabeth;một thước đo là Nữ hoàng Elizabeth;
Queen Elizabeth sails the seven seas;Nữ hoàng Elizabeth đi qua bảy đại dương;
the seven seas have fish;bảy đại dương có cá;
the fish have fins;cá có vây;
the Finns hate the Russians;người Phần Lan ghét người Nga;
the Russians are red;người Nga thì màu đỏ;
fire engines are always rushin’;xe cứu hỏa luôn vội vã chạy tới;
so they’re red.vậy nên chúng màu đỏ.

Tôi không nhớ mình đã học được bài vè thú vị này ở đâu, nhưng nó đặt ra chủ đề về logic ở một dạng cực đoan. Chúng ta thấy lập luận này thật nực cười; nhưng tại sao nó lại nực cười? Bản chất của những sai sót khi chúng ta chuyển từ dòng này sang dòng khác, hoặc thậm chí ngay trong một dòng, là gì? Tại sao chúng ta không thể chấp nhận lập luận này như một câu trả lời hợp lý cho câu hỏi, “Tại sao xe cứu hỏa có màu đỏ?”

I. BẢN CHẤT VÀ TÍNH PHỔ QUÁT CỦA LOGIC
#

Trước khi liệt kê các ngụy biện logic thường xuất hiện trong công tác giải kinh, tôi cần nói đôi chút về bản chất của logic. Dù có nguy cơ đơn giản hóa quá mức, tôi sẽ phân biệt bốn cách hiểu về từ “logic”:

  1. “Logic” ở cấp độ lý thuyết và ký hiệu là một thuật ngữ toàn diện, đề cập đến tập hợp các mối quan hệ tiên đề, tức là “phân tích và đánh giá cách sử dụng bằng chứng để rút ra kết luận đúng”.
  2. “Logic” trong ngôn ngữ thông thường, ở cấp độ phi học thuật, là từ đồng nghĩa với các thuật ngữ như “hợp lý”, “thực tiễn” — một kế hoạch hợp lý có thể là một kế hoạch khả thi, một bước đi phi lý có thể là một bước đi liều lĩnh.
  3. “Logic” đôi khi có nghĩa là một hình thức trình bày lập luận: tức là, người ta có thể tham gia vào “lập luận logic”, dù các bước họ thực hiện có thể chứa những ngụy biện.
  4. “Logic” trong ngôn ngữ phổ thông cũng có thể ám chỉ một tập hợp các quan điểm hoặc một cách nhìn nhận, mà chưa chắc đã “logic” theo nghĩa đầu tiên. Ví dụ, chúng ta thường nói về “logic phương Tây”, “logic Nhật Bản”, “logic của thị trường” hay “logic của sinh thái”. Theo nghĩa thứ tư này, một hệ logic có thể đối nghịch với một hệ logic khác: logic của chủ nghĩa cộng sản và logic của chủ nghĩa tư bản tranh đấu ở nhiều cấp độ khác nhau.

Như Arthur Gibson đã chỉ ra, W. F. Albright từng cố gắng liên hệ “logic nguyên thủy” với sự bất lực trong việc kiểm soát qua kinh nghiệm nhân sinh thông thường, thế giới giấc mơ, hiện tượng tôn giáo; “logic thực nghiệm” với Kinh Thánh Hebrew; và “logic hình thức” với cách tư duy của người Hy Lạp.

Bây giờ tôi chỉ quan tâm đến cách hiểu đầu tiên về logic; nhưng vì sự nhầm lẫn giữa các cách sử dụng thuật ngữ “logic” gây ra nhiều tranh luận, tôi cần làm rõ tầm quan trọng của những sự phân biệt này một cách sắc nét hơn. Một cuộc trao đổi bài viết giữa John V. Dahms và Norman L. Geisler cho thấy có sự nhầm lẫn về điểm này. Chẳng hạn, ở một chỗ Dahms nói rằng:

“Cảm quan thẩm mỹ không thêm gì vào vấn đề đang bàn. Nó chỉ xác định liệu các ý tưởng và dữ liệu thực nghiệm có thực sự tương thích hay không khi logic nói rằng chúng không tương thích.”

Nếu ở đây Dahms sử dụng “logic” theo nghĩa đầu tiên, thì điều ông nói là vô lý. Nếu logic theo nghĩa đầu tiên cho thấy rằng một số dữ liệu là không tương thích, thì mọi cảm quan thẩm mỹ trên thế giới không thể chứng minh rằng chúng thực sự tương thích. Nhưng nếu ông ấy sử dụng “logic” theo nghĩa thứ ba, để chỉ một lập luận được cấu trúc theo các phạm trù logic nhưng có thể mắc lỗi do các bước sai sót, bằng chứng không đầy đủ, hoặc các yếu tố tương tự, thì dữ liệu có thể bị đánh giá là không tương thích bởi “lập luận logic này” (tức là theo hình thức lập luận được cấu trúc này) trong khi trên thực tế chúng vẫn có thể hợp lý theo nghĩa đầu tiên. Cảm quan thẩm mỹ có thể giúp chúng ta nghi ngờ rằng dữ liệu thực chất là logic (nghĩa đầu tiên), mặc dù logic (nghĩa thứ ba) cho rằng chúng không hợp lý. Nhưng Dahms thường xuyên nhầm lẫn giữa hai cách hiểu của “logic”.

Tôi đã lập luận ở nơi khác rằng Jack B. Rogers và Donald McKim phạm phải chính lỗi tương tự khi họ nói rằng John Calvin đối lập đức tin với logic (nghĩa đầu tiên). Calvin không làm điều đó. Thay vào đó, ông đối lập đức tin với một lập luận logic cụ thể (nghĩa thứ ba) mà ông cho thấy là thực chất sai lầm.

Điểm mấu chốt là logic theo nghĩa đầu tiên mang tính phổ quát. Nó không thể bị bác bỏ như một lý thuyết gây tranh cãi của Aristotle. Thay vào đó, nó là tập hợp các mối quan hệ (được Aristotle và những người khác trình bày một cách khéo léo) phải được áp dụng nếu bất kỳ sự hiểu biết nào có thể tồn tại và nếu bất kỳ sự truyền đạt tri thức nào theo dạng đề xuất (propositional knowledge) có thể xảy ra. Ngay cả những dân tộc thích giao tiếp chủ yếu bằng hình ảnh cũng sử dụng logic theo nghĩa này; và một nhà thần học biện chứng (dialectical theologian) hoặc tin rằng những niềm tin có vẻ mâu thuẫn của mình cuối cùng vẫn có thể tương thích về mặt logic, hoặc ông ấy đang nói những điều vô nghĩa.

Đó là lý do tại sao, chẳng hạn, một người tin rằng Chúa Giê-xu vừa là Đức Chúa Trời vừa là con người sẽ cố gắng trình bày chân lý này theo cách không thể bị chứng minh là phi lý, dù cho sự giải thích về bản chất của Đức Chúa Trời-là-người này không thể hoàn toàn đầy đủ. Nền tảng cần thiết của mọi tri thức nhất quán và mọi sự truyền đạt hợp lý chính là logic đơn giản theo nghĩa đầu tiên. Những “luật” căn bản của logic, như luật phi mâu thuẫn và luật loại trừ trung gian, là các nguyên lý phổ quát.

Giờ đây, chúng ta ở vào vị trí thuận lợi hơn để khảo sát các ngụy biện logic khác nhau. Trong danh sách tôi cung cấp, những ngụy biện khác có thể bổ sung cho ngụy biện logic cụ thể đang được thảo luận, nhưng trọng tâm của danh sách này vẫn là từng ngụy biện logic riêng biệt. Hơn nữa, một số mục phản ánh cùng một lỗi logic như một số mục khác, nhưng vì chúng là những ứng dụng khác nhau của lỗi đó, tôi đôi khi giới thiệu chúng với những tên gọi riêng biệt.

II. DANH SÁCH CHỌN LỌC CÁC NGỤY BIỆN LOGIC
#

2.1. Phép Phân Đôi Sai: Một Cách Viện Dẫn Không Đúng Luật Bài Trung (The Law of Excluded Middle)
#

Chúng ta đã xem xét các sự phân ly ngữ nghĩa (“semantic disjunction,” chương 1, mục 11); nhưng những sự phân ly sai lầm — một yêu cầu sai lầm về việc phải chọn một trong hai trong khi sự bổ sung lẫn nhau của hai lựa chọn là vẫn có thể chấp nhận được — lại vô cùng phổ biến và có thể gây tổn hại nghiêm trọng đến sự giải kinh công bằng và khách quan.

Chẳng hạn, khi liệt kê các phương pháp giải thích khác nhau, John D. Grassmick bắt đầu bằng cách đề cập đến phương pháp mà ông gọi là phương pháp ẩn dụ; và để minh họa, ông nhắc đến quan điểm của Leon Morris rằng con số 144.000 trong Khải huyền 7 được xác định là Hội thánh Cơ Đốc. Grassmick tiếp tục liệt kê một số phương pháp khác và cuối cùng chọn phương pháp mà ông ưa thích: “Cách tiếp cận giải thích theo ngữ pháp – lịch sử – bối cảnh” (grammatical – historical – contextual)

Bỏ qua vấn đề liệu cách gọi phương pháp của Morris là “ẩn dụ” có phù hợp hay không, Grassmick đã phân tích rằng phương pháp của Morris và phương pháp của ông là đối lập nhau. Trên thực tế, dù chúng ta có chấp nhận cách giải thích của Morris hay không, thì mọi bước mà Grassmick thực hiện để đi đến kết luận đều có thể được bao hàm trong phương pháp của ông.

Con số 144.000 có thể được xem là mang tính biểu tượng có chủ đích trong một cuốn sách thuộc thể loại văn chương lai thế học, nơi mà (tất cả các bên đều đồng ý) các con số thường mang ý nghĩa biểu tượng. Và Morris có thể muốn lập luận rằng trong Khải huyền 7, mười hai chi phái, mỗi chi phái cung cấp 12.000 người, tạo thành một biểu tượng kiểu mẫu không khác gì các biểu tượng kiểu mẫu mà chính Grassmick cũng chấp nhận ở những chỗ khác.

Chúng ta có thể đánh giá lý do của Morris cho yếu tố biểu tượng này là hợp lý hoặc không hợp lý; nhưng Grassmick chắc chắn đã không công bằng với Morris khi ông áp đặt một sự phân ly không chính đáng lên các phương pháp mà ông liệt kê.

Hãy xem xét kết luận của H. J. Held khi ông phát hiện rằng, trong những đoạn mà Ma-thi-ơ dựa theo Mác, các tường thuật của Ma-thi-ơ về những phép lạ thực tế ngắn hơn một cách đáng kể so với Mác, trong khi những suy tư thần học về phép lạ lại được giữ lại đầy đủ hơn: “Những phép lạ không quan trọng vì chính chúng, mà vì thông điệp chúng truyền tải.”

Hãy chú ý đến hình thức phân ly: “không phải điều này … mà là điều kia.” Chúng ta có thể tự hỏi liệu có nhà viết Phúc Âm nào quan tâm đến phép lạ chỉ vì chính chúng hay không. Nếu Ma-thi-ơ chỉ đơn thuần điều chỉnh trọng tâm nhấn mạnh, tại sao lại diễn đạt sự điều chỉnh đó theo cách phân ly?

Dĩ nhiên, một số sự phân ly hình thức chỉ là phương tiện thể hiện phong cách viết văn của tác giả, không nên được hiểu như những sự phân ly thực sự. Thơ ca Hebrew thường thể hiện những biện pháp nghệ thuật này, và Tân Ước cũng có phần của nó. Ví dụ, câu nói “Ta muốn sự thương xót, không phải của lễ” (Ô-sê 6:6) về mặt hình thức là một sự phân ly; nhưng thực tế, đó là một cách gây sốc để khiến con người suy nghĩ về sự không tương thích giữa việc dâng của lễ một mặt, trong khi mặt khác lại nuôi dưỡng sự thù hận, cay đắng và ác cảm một cách vô tình.

Sự thương xót quan trọng hơn của lễ; nhưng tiên tri Ô-sê không đề xuất việc bãi bỏ ngay lập tức nghi lễ thờ phượng. Tương tự, chúng ta có thể hy vọng rằng một số sự phân ly hình thức được các học giả hiện đại đưa ra không nhằm mục đích gì hơn ngoài việc đóng vai trò như những biện pháp tu từ; nhưng thường thì bối cảnh của các bài viết của họ lại làm chúng ta mất đi cái hy vọng đó.

Khó xác định hơn — và vì lý do đó nguy hiểm hơn — là sự phân ly giả định nhưng không được diễn đạt rõ ràng. Hãy xem xét đoạn văn này từ Zane C. Hodges:

Việc nhầm lẫn giữa các điều kiện của môn đồ hóa với lời mời gọi đón nhận sự sống đời đời như một món quà miễn phí là một sai lầm giải thích nghiêm trọng. “Ai khát, hãy đến; ai muốn, hãy nhận nước sự sống cách nhưng không” (Khải huyền 22:22) rõ ràng là một ân huệ vô điều kiện. “Nếu ai đến cùng Ta mà không … thì không thể làm môn đồ Ta” thể hiện một mối quan hệ hoàn toàn có điều kiện. Không nhận ra sự phân biệt đơn giản này là mở cửa cho sự nhầm lẫn và sai lầm ở cấp độ căn bản nhất.

Thực tế, không chỉ trong đoạn văn này mà xuyên suốt cả cuốn sách, Hodges đã giả định rằng có một sự phân ly giữa ân điển và yêu cầu. Ông chưa bao giờ đấu tranh với khả năng (theo quan điểm của tôi, là một điều chắc chắn) rằng trong các vấn đề thuộc linh, ân điển và yêu cầu không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau: tất cả phụ thuộc vào mối quan hệ, mục đích và chức năng của chúng.

Hệ quả của sự phân ly giả định này trong tư tưởng của Hodges không chỉ dẫn đến một luận đề mà theo tôi là sai lầm — rằng Kinh Thánh dạy rằng một người có thể được cứu đời đời ngay cả khi không có chút bằng chứng nào về điều đó trong đời sống của họ — mà còn kéo theo một loạt các phán đoán giải kinh và lịch sử đầy vấn đề.

2.2. Không Nhận Ra Sự Phân Biệt
#

Một ví dụ điển hình về ngụy biện này — ngụy biện lập luận rằng vì “x” và “y” giống nhau ở một số khía cạnh, nên chúng giống nhau ở mọi khía cạnh — xuất hiện trong một bài viết gần đây của David C. Steinmetz:

Phụ nữ có thể bị cấm giảng dạy, dạy dỗ và cử hành Thánh lễ chỉ khi có thể chứng minh từ Kinh Thánh rằng trong Chúa Giê-xu thực sự có sự phân biệt nam và nữ (ngược lại với Phao-lô) và rằng trong những ngày sau rốt, con trai sẽ nói tiên tri trong khi con gái phải im lặng (ngược lại với Phi-e-rơ). Phụ nữ đã thuộc về chức tư tế hoàng gia. Nếu không, họ thậm chí không phải là thành viên của Hội thánh.

Steinmetz là một nhà sử học xuất sắc và một tác giả có sức thuyết phục; nhưng dù những dòng này có hấp dẫn đến đâu, chúng không chứng minh được điều mà ông nghĩ rằng chúng làm được. Dĩ nhiên, Kinh Thánh dạy rằng trong Chúa Giê-xu không có sự phân biệt nam và nữ (Ga-la-ti 3:28); nhưng liệu Kinh Thánh có ý nói rằng nam và nữ giống nhau về mọi mặt không? Ai sẽ sinh con? Hay bây giờ đến lượt tôi?

Ngữ cảnh của Ga-la-ti 3:28 cho thấy mối quan tâm trong đoạn này là về sự xưng công chính. Trong vị thế trước mặt Đức Chúa Trời, nam và nữ là một: không ai có lợi thế đặc biệt, mỗi người đều được xưng công chính bởi ân điển qua đức tin. Nhưng Phao-lô đã viết những đoạn khác (1 Cô-rinh-tô 14:33b–36; 1 Ti-mô-thê 2:11–15) mà, thoạt nhìn, dường như đặt ra một số sự phân biệt giữa vai trò của nam và nữ trong Hội Thánh.

Ngay cả khi ai đó cuối cùng quyết định rằng những đoạn này không có nghĩa như vẻ bề ngoài của chúng, thì về mặt phương pháp luận, không thể quyết định trước rằng vì nam và nữ giống nhau ở một số khía cạnh, nên họ giống nhau ở mọi khía cạnh.

Điều này cũng đúng với các đoạn khác mà Steinmetz đề cập. Theo Lu-ca, Phi-e-rơ trích dẫn Giô-ên rằng cả nam và nữ đều sẽ nói tiên tri (Công vụ 2:17); và chắc chắn trong Tân Ước, phụ nữ thực sự có nói tiên tri (Công vụ 21:9; 1 Cô-rinh-tô 11:2–16). Nhưng Phi-e-rơ cũng nói rằng người nữ là chiếc bình yếu hơn (1 Phi-e-rơ 3:7).

Dù điều này được hiểu theo nghĩa sức mạnh thể chất hay điều gì khác, nó vẫn hàm ý một sự phân biệt nào đó; và có thể lập luận một cách vững chắc từ bằng chứng trong Tân Ước rằng có sự phân biệt giữa ân tứ nói tiên tri — mà cả nam và nữ đều có thể nhận lãnh — và thẩm quyền giảng dạy được Hội Thánh công nhận trên nam giới, mà chỉ nam giới mới có thể đảm nhiệm.

Những điều tương tự cũng có thể được nói về cách Steinmetz xử lý khái niệm “chức tế lễ hoàng gia.” Dù một người có kết luận thế nào về điều mà toàn bộ Kinh Thánh thực sự nói về mối quan hệ vai trò giữa nam và nữ, thì lập luận mà Steinmetz đưa ra vẫn là một ví dụ về một ngụy biện thường xuyên được lặp lại.

2.3. Lựa Chọn Bằng Chứng Thiên Vị Để Lập Luận
#

Từ một góc nhìn khác, ví dụ từ bài viết của Steinmetz không chỉ thể hiện sự thất bại trong việc nhận diện sự khác biệt, mà còn là một trường hợp sử dụng bằng chứng một cách chọn lọc đến mức loại trừ không chính đáng các bằng chứng khác. Chúng ta đã lưu ý vấn đề này trong mối liên hệ với nghiên cứu từ ngữ (chương 1, mục 10), nhưng tất nhiên, nó có phạm vi ứng dụng rộng hơn nhiều.

Theo nguyên tắc chung, vấn đề càng phức tạp và/hoặc mang tính cảm xúc, thì xu hướng chỉ chọn một phần bằng chứng, xây dựng một khuôn khổ một cách vội vàng, rồi lọc phần còn lại của bằng chứng qua khuôn khổ đó đến mức làm mất đi bản chất của nó, càng lớn. Điều cần thiết là sự công bằng, cùng với một khát khao trung thành với Kinh Thánh hơn là tìm kiếm sự độc đáo trong cách giải thích.

Tôi dám nói rằng nhiều tranh luận nền tảng chia rẽ Cơ Đốc nhân, chẳng hạn như cách tích hợp chủ quyền của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người, có thể được cải thiện đáng kể và vui vẻ hơn nếu các lãnh đạo Cơ Đốc nâng cao khả năng trong lĩnh vực này. (Tôi giả định, tất nhiên, rằng chúng ta muốn cải thiện; và đôi khi đó chỉ là mong muốn, nếu không muốn nói là một suy tư đầy tiếc nuối.)

Một ví dụ đơn giản là lập luận của một số Cơ Đốc nhân bảo thủ rằng 1 Cô-rinh-tô 14:33–36 yêu cầu phụ nữ phải luôn giữ im lặng trong Hội Thánh. Họ không được cầu nguyện lớn tiếng, làm chứng, hoặc nói trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Thừa nhận rằng những câu này, nếu chỉ xét riêng chúng, có thể được hiểu theo cách đó; nhưng cách giải thích như vậy lại dẫn chúng ta đến xung đột không thể tránh khỏi với điều Phao-lô nói trong ba chương trước đó, nơi ông cho phép phụ nữ cầu nguyện và nói tiên tri trong Hội Thánh dưới một số điều kiện nhất định (1 Cô-rinh-tô 11:2–15).

Do đó, việc viện dẫn 1 Cô-rinh-tô 14:33–36 để duy trì sự im lặng tuyệt đối thực chất chỉ là một lập luận dựa trên việc xử lý bằng chứng một cách chọn lọc.

2.4. Tam Đoạn Luận (Syllogisms) Bị Xử Lý Không Đúng Cách
#

Tôi có thể đưa ra nhiều ví dụ tại thời điểm này, tất cả đều phản ánh một sai lầm cơ bản trong lập luận. Ngụy biện nằm ở chỗ cho rằng một số lập luận là hợp lý, trong khi chỉ cần một chút suy xét đã đủ để thấy chúng hoàn toàn vô giá trị.

📚 a. Lập luận của Philip B. Payne về 1 Ti-mô-thê 2:11-15

Trinity Journal từng công bố một cuộc trao đổi xoay quanh việc giải thích 1 Ti-mô-thê 2:11–15. Khi Douglas J. Moo phản hồi những chỉ trích của Philip B. Payne, ông cố gắng làm rõ sự khác biệt trong quan điểm giữa họ bằng cách trình bày lại một số lập luận của đối phương theo hình thức tam đoạn luận. Chúng ta chỉ cần xem xét một ví dụ ở đây.

Payne cho rằng vì 1 Ti-mô-thê 3:11 đề cập đến nữ chấp sự, và hai người trong số các nam chấp sự được chọn trong Công vụ 6:1–6 đã công khai giảng dạy và làm phép báp-têm cho những người mới tin, thì “có lẽ những hoạt động này cũng có thể là một phần trong vai trò của nữ chấp sự.” Dĩ nhiên, Payne không trình bày lập luận của mình dưới dạng tam đoạn luận. Tuy nhiên, suy luận mà ông đưa ra có thể được tái diễn đạt thành tam đoạn luận như sau:

  1. Bảy người được chỉ định trong Công vụ 6:1–6 là chấp sự (tiền đề không được nêu ra).
  2. Một số người trong Công vụ 6:1–6 đã giảng dạy công khai và làm phép báp-têm.
  3. Do đó, tất cả các chấp sự, bao gồm cả phụ nữ, có thể giảng dạy công khai và làm phép báp-têm.

Ngay cả khi chúng ta chấp nhận những điểm tranh luận về mặt giải kinh (ví dụ, rằng bảy người trong Công vụ 6:1–6 là chấp sự), lập luận được trình bày ở đây vẫn không thỏa đáng — bất kể chúng ta kết luận thế nào về quyền hay sự không phù hợp của phụ nữ trong việc giảng dạy công khai và làm phép báp-têm. Lập luận này không thỏa đáng vì nó giả định sai rằng trong tiền đề phụ, hai người trong nhóm bảy người ở Công vụ 6:1–6 giảng dạy công khai và làm phép báp-têm bởi chính vai trò chấp sự của họ. Trong Tân Ước, có thể thấy rằng việc giảng dạy gắn chặt với vai trò của trưởng lão/mục sư/giám mục; nhưng không rõ rằng nó cũng gắn kết với vai trò của chấp sự. Chắc chắn có những người ngoài trưởng lão giảng dạy trong nhiều bối cảnh khác nhau, nhưng việc một số chấp sự đã làm vậy không có nghĩa là bất kỳ chấp sự nào cũng được trao quyền giảng dạy chỉ vì họ giữ chức vụ chấp sự.

Trong số các loại sai lầm trong tam đoạn luận, có lẽ loại phổ biến nhất có thể được minh họa bằng kiểu lập luận như sau:

  1. Tất cả Cơ Đốc nhân chân thật đều học cách yêu kẻ thù của mình.
  2. Mary Jo yêu kẻ thù của mình.
  3. Vậy nên Mary Jo là một Cơ Đốc nhân.

Dĩ nhiên, đây chính là một ví dụ tương tự như câu ngụy biện nổi tiếng:

  1. Tất cả chó đều là động vật.
  2. Một con mèo là động vật.
  3. Vậy nên một con mèo là một con chó.

Không ai có một tâm trí tỉnh táo lại đưa ra tam đoạn luận thứ hai như vậy, nhưng những người nghiêm túc vẫn thường xuyên sử dụng tam đoạn luận trước đó. Tam đoạn luận này có thể được điều chỉnh để trở nên hợp lệ nếu tiền đề chính được viết lại thành: “Tất cả Cơ Đốc nhân chân thật, và chỉ Cơ Đốc nhân chân thật, học cách yêu kẻ thù của mình.” Khi đó, nếu “Mary Jo yêu kẻ thù của mình,” thì cô ấy thực sự phải được xem là một Cơ Đốc nhân.

Sẽ hữu ích nếu minh họa điểm này bằng ký hiệu:

  • A = Cơ Đốc nhân chân thật
  • B = Những người yêu kẻ thù của mình
  • C = Mary Jo

Rõ ràng, việc nói rằng A là một tập hợp con của B, và C là một tập hợp con của B, không cho phép suy luận rằng C là một tập hợp con của A. Nhưng nếu (trong dạng điều chỉnh của tam đoạn luận) A = B, tức là tất cả Cơ Đốc nhân chân thật và chỉ Cơ Đốc nhân chân thật yêu kẻ thù của mình, thì nếu C là một tập hợp con của B, thì cũng đúng rằng C là một tập hợp con của A.

📚 b. Lập luận của John Sanders về Rô-ma 10:9-10

Tác động thực tiễn của những quan sát này là vô cùng lớn. Hãy xem xét, chẳng hạn, lập luận của John Sanders. Ông muốn chứng minh rằng một số người, ngoài những người có ý thức tin vào Chúa Giê-xu, vẫn có thể được cứu, bằng cách:

  • Ông xem xét Rô-ma 10:9–10, nơi Phao-lô nói rằng những ai xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng rằng “Chúa Giê-xu là Chúa” sẽ được cứu. “Vì nếu lòng anh em tin thì được xưng công chính, nếu miệng mình xưng nhận thì sẽ được cứu.”
  • Nhưng Sanders đưa ra một sự phân biệt: “Rõ ràng từ Rô-ma 10:9 rằng ai xưng nhận Chúa Giê-xu là Chúa và tin trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết thì sẽ được cứu. Nhưng không rõ rằng ai không đáp ứng những điều kiện này thì sẽ bị hư mất. Phao-lô đơn giản không xác định một người cần phải biết bao nhiêu để được cứu.”
  • Nan đề, theo ông, là một vấn đề logic. Lập luận của Phao-lô “tương tự về mặt logic” với câu điều kiện: “Nếu trời mưa, thì vỉa hè sẽ bị ướt.” Nếu mệnh đề đầu tiên đúng, thì mệnh đề sau sẽ xảy ra: nếu trời mưa, vỉa hè sẽ ướt, và nếu bạn tin, bạn sẽ được cứu. Nhưng điều đó không có nghĩa là nếu bạn phủ định mệnh đề đầu tiên, thì mệnh đề phủ định sau cũng đúng. Nếu trời không mưa, không nhất thiết vỉa hè sẽ không bị ướt, vì nó có thể đã bị làm ướt theo cách khác, chẳng hạn như do hệ thống tưới nước. Tương tự, nếu bạn không xưng nhận bằng miệng rằng Chúa Giê-xu là Chúa, và nếu bạn không tin trong lòng rằng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết, thì không nhất thiết có nghĩa là bạn không được cứu.

Về mặt tam đoạn luận, chúng ta có thể sắp xếp các lập luận theo nhiều cách để theo sát quan điểm của Sanders. Ví dụ:

  1. Nếu trời mưa, thì vỉa hè sẽ bị ướt.
  2. Vỉa hè bị ướt.
  3. Vậy nên trời đang mưa.

Hoặc, một cách hợp lý hơn:

  1. Nếu trời mưa, thì vỉa hè sẽ bị ướt.
  2. Vỉa hè không bị ướt.
  3. Vậy nên trời không mưa.

Sự vô hiệu của lập luận trong cả hai trường hợp là rõ ràng. Theo phép so sánh, Rô-ma 10:9, trong lập luận của Sanders, không nên được sử dụng để hỗ trợ các lập luận như sau:

  1. Ai xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng sẽ được cứu.
  2. Mary Jo được cứu.
  3. Vậy nên Mary Jo đã xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng.

Hoặc, một cách hợp lý hơn:

  1. Ai xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng sẽ được cứu.
  2. Mary Jo chưa từng xưng nhận bằng miệng và cũng chưa tin trong lòng.
  3. Vậy nên Mary Jo sẽ không được cứu.

Thoạt nhìn, lập luận của John Sanders có vẻ không thể bác bỏ, nhưng thực ra không phải vậy. Quay lại ví dụ A, B, C của tôi, tam đoạn luận của ông chỉ có giá trị nếu A không đồng nhất với B. Nhưng nếu có lý do chính đáng để tin rằng A = B, thì lập luận của ông sẽ không còn hiệu lực. Nếu tất cả những ai xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng đều được cứu, và chỉ những ai xưng nhận bằng miệng và tin trong lòng mới được cứu, thì rõ ràng nếu Mary Jo không tin, cô ấy sẽ không được cứu. Sanders phải giả định rằng A không bằng B để lập luận của mình có hiệu lực — và điều đó, tất nhiên, chính là điều ông đang cố chứng minh. Đúng là Rô-ma 10:9–10 tự nó không chứng minh rằng A = B, nhưng nếu có thể cho thấy rằng lập luận của Phao-lô trong Rô-ma nhấn mạnh chính điểm này (và tôi tin rằng có thể), thì cách Sanders xử lý Rô-ma 10:9–10 ít nhất là gây hiểu lầm.

📚 c. Lập luận của Hans Urs von Balthasar về chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo triệt để

Tôi chuyển sang một ví dụ khác, trong đó tam đoạn luận là hợp lệ, nhưng kết luận vẫn sai, vì ít nhất một trong các tiền đề không đúng. Hãy xem xét lập luận ủng hộ chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo triệt để (radical religious pluralism), được Hans Urs von Balthasar đưa ra:

Nhưng thật là một bức tranh toàn cảnh tuyệt vời về sự tự do mở ra cho chúng ta từ góc nhìn về sự hiệp nhất của Đấng Christ! “Mọi sự đều thuộc về anh em,” thế gian, sự sống và sự chết, hiện tại và tương lai, nếu “anh em thuộc về Đấng Christ,” vì “Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 3:21 trở đi). Cánh cửa rộng lớn mở ra chỉ trên một trục duy nhất; sự đa dạng của mọi hình thức trong thế giới và lịch sử, bao gồm cả sự chết và tương lai, đều có thể tiếp cận được với tư duy và hành động của Cơ Đốc nhân, nếu thật sự người ấy phó mình với Đấng Christ cho Đức Chúa Trời.

Có nhiều điều hơn nữa trong lập luận này, và cuối cùng là một lời kêu gọi đầy nhiệt huyết cho chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo triệt để. Nhưng chỉ cần đơn giản hóa lập luận của ông một chút, ta có thể trình bày nó như sau:

  1. Phao-lô nói: “Mọi sự đều thuộc về anh em,” và “anh em thuộc về Đấng Christ,” và “Đấng Christ thuộc về Đức Chúa Trời."
  2. “Mọi sự” bao gồm tất cả mọi thứ mà không có ngoại lệ.
  3. Vậy nên tất cả các tôn giáo đều phải thuộc về Đức Chúa Trời.

Riêng biệt khỏi thực tế rằng von Balthasar đã nhầm lẫn giữa quyền sở hữu theo sự quan phòng của Đức Chúa Trời với quyền sở hữu cứu chuộc của Ngài, hình thức lập luận vẫn hợp lý, nhưng tiền đề thứ hai lại không đúng. Von Balthasar đã hoàn toàn hiểu sai lời của Phao-lô, như được tìm thấy trong ngữ cảnh cuối của 1 Cô-rinh-tô 3. Vì tôi đã phân tích đoạn này một cách chi tiết ở nơi khác, tôi sẽ không lặp lại các luận điểm tại đây, vì mục đích của cuốn sách này là vạch trần những ngụy biện, chứ không phải trong mọi trường hợp đưa ra cách giải thích thay thế phù hợp.

📚 d. Lập luận của R. C. H. Lenski về Giăng 3:11-21

Nhiều ví dụ khác cũng có thể được tìm thấy. Từ lâu đã có tranh luận về việc trong Giăng 3:11-21, đâu là điểm mà tác giả sách phúc âm kết thúc lời của Chúa Giê-xu và bắt đầu lời của chính mình. R. C. H. Lenski cố gắng giải quyết vấn đề này bằng cách nói rằng ít nhất các câu 16 và 17 phải được bao gồm trong lời nói được tường thuật của Chúa Giê-xu, vì trong cả hai trường hợp, hai câu này đều liên kết với nội dung trước đó bằng từ “γάρ” (gar, vì). Chúng ta có thể phân tích lập luận của ông ấy theo dạng tam đoạn luận:

  • Các từ liên kết như “γάρ” (gar) kết nối ngữ cảnh gần nhất với ngữ cảnh trước đó.
  • Giăng 3:16 bắt đầu bằng “γάρ” (gar).
  • Do đó, Giăng 3:16 có sự liên kết với ngữ cảnh trước đó.

Một lần nữa, lập luận này là hợp lý, nhưng vẫn chưa đủ để chứng minh quan điểm của Lenski; vì ông ấy không chỉ phải chứng minh rằng từ “γάρ” (gar) thiết lập một mối liên kết, mà còn phải chứng minh rằng yêu cầu của mối liên kết đó sẽ không được đáp ứng - nếu tác giả sách phúc âm đặt chúng vào kết luận hợp lý của chính ông về những lời trước đó của Chúa Giê-xu. Chính tôi cũng không chắc chắn về việc nên kết thúc trích dẫn ở đâu theo quy tắc chính tả tiếng Anh; nhưng tôi chắc chắn rằng Lenski chưa giải quyết được vấn đề.

📚 e. Lập luận của Zane C. Hodges về 1 Giăng 3:6,9

Một lần nữa, trong một cuốn sách mà tôi đã đề cập trước đây, Zane C. Hodges lập luận rằng “giải pháp về thì” đối với 1 Giăng 3:6, 9 là không hợp lệ — nghĩa là, chúng ta không thể thoát khỏi sức mạnh của các câu này một cách hợp lệ bằng cách lập luận rằng Giăng chỉ đang nói rằng tội lỗi liên tục là điều không thể đối với Cơ Đốc nhân. Chắc chắn, thì hiện tại tự thân nó không phải là một giải pháp; nhưng một số đặc điểm trong lập luận của Hodges lại không đứng vững. Chẳng hạn, ông ấy lập luận rằng hầu hết Cơ Đốc nhân sẽ không muốn áp dụng cùng một cách diễn giải về sức mạnh của thì hiện tại đối với Giăng 14:6b, “Không ai liên tục đến với Cha mà không qua ta,” như thể thỉnh thoảng có ai đó có thể đến bằng cách khác. Tất nhiên, ông ấy đúng: không ai lập luận rằng Giăng 14:6 nên được hiểu theo cách đó. Tuy nhiên, trong phần này của lập luận của mình, ông ấy ngầm cáo buộc các đối thủ của mình với lập luận sau, được trình bày theo dạng tam đoạn luận:

  1. Các động từ chính ở lối trình bày trong thì hiện tại luôn có ý nghĩa liên tục kéo dài.
  2. Các động từ trong 1 Giăng 3:6, 9 là động từ chính ở lối trình bày trong thì hiện tại.
  3. Do đó, các động từ trong 1 Giăng 3:6, 9 có ý nghĩa liên tục kéo dài.

Để phản bác kiểu lập luận bao quát đó, tất cả những gì bạn cần làm là đưa ra một ví dụ phản đề. Điều đó sẽ phá hủy tiền đề chính, và tam đoạn luận mất đi tính hợp lệ. Có lẽ một số nhà giải kinh thiếu kinh nghiệm sẽ thiết lập lập luận theo cách này, khiến cho Hodges có thể dễ dàng bác bỏ quan điểm của họ; nhưng những người tinh tế hơn sẽ nói rằng thì hiện tại đôi khi có ý nghĩa liên tục kéo dài, và lập luận rằng theo ngữ cảnh, tốt nhất là nên giữ quan điểm rằng động từ có ý nghĩa như vậy ở đây. (Bản thân tôi nghĩ điều đó là đúng, mặc dù tôi không tin rằng chỉ riêng thực tế đó là đủ để giải thích đoạn văn.) Nhưng trong trường hợp này, lập luận của Hodges tại điểm này được rút gọn thành một tam đoạn luận khác:

  1. Có nhiều ví dụ cho thấy động từ chính ở lối tường thuật trong thì hiện tại không có ý nghĩa liên tục kéo dài.
  2. Các động từ trong 1 Giăng 3:6, 9 là động từ chính ở lối tường thuật trong thì hiện tại.
  3. Do đó, các động từ trong 1 Giăng 3:6, 9 không có ý nghĩa kéo dài.

Đây rõ ràng là một lập luận không hợp lệ, vì tiền đề chính không mang tính phổ quát. Hodges sẽ phải chứng minh rằng thì hiện tại không bao giờ có ý nghĩa liên tục kéo dài để tam đoạn luận còn lại có thể hợp lệ. Tất nhiên, đây không phải là những lập luận duy nhất của Hodges; nhưng ít nhất, những lập luận này không đứng vững trước sự xem xét kỹ lưỡng. Ngụy biện này không chỉ mang tính logic mà còn có những sai lầm tương tự về mặt phương pháp với những sai sót ngôn ngữ và cú pháp mà Charles R. Smith đã mắc phải trong bài viết của ông về thì quá khứ aorist, mà tôi đã đề cập trước đó.

📚 f. Tóm lại

Những gì chúng ta đang xem xét, một phần, là sự phân biệt giữa tính cần thiết và tính đủ. Câu hỏi này xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành các tuyên bố tín lý. Chẳng hạn, một thử nghiệm tín lý như “Chúa Giê-xu là Đấng Christ đã đến trong xác thịt” vừa cần thiết vừa đủ khi đối phó với chủ nghĩa tiền Ngộ đạo (proto-Gnosticism, xem 1 Giăng 2:22; 4:2); nhưng ở những nơi khác, mặc dù có thể là cần thiết, nó lại không đủ.

Tương tự, lời tuyên xưng Cơ Đốc học “Chúa Giê-xu là Chúa” (1 Cô-rinh-tô 12:3) có thể vừa cần thiết vừa đủ khi vấn đề được đối diện là sự đa dạng của các thần và triết lý, mỗi bên đều tuyên bố mình là “chúa”; nhưng nó sẽ không có nhiều tác dụng trong cuộc xung đột của Giăng với chủ nghĩa tiền Ngộ đạo, nơi mà nó vẫn là một thử nghiệm cần thiết nhưng không còn là một thử nghiệm đủ nữa. Nếu những điểm logic như vậy không được lưu ý, các tuyên bố tín điều có thể dễ dàng suy thoái thành những khẩu hiệu sáo rỗng.

2.5. Suy Luận Phủ Định
#

Như chúng ta vừa thấy, một trong những dạng không hợp lệ của tam đoạn luận là suy luận phủ định, nhưng dạng này phổ biến đến mức nó đáng được xem xét riêng và minh họa kỹ lưỡng hơn. Chúng ta không nhất thiết phải suy ra rằng nếu một mệnh đề là đúng, thì suy luận phủ định từ mệnh đề đó cũng đúng. Suy luận phủ định có thể đúng, nhưng điều này không thể được mặc nhiên chấp nhận, và trong mọi trường hợp, nó không bao giờ đúng chỉ vì nó là một suy luận phủ định. Điều này có thể dễ dàng được trình bày dưới dạng tam đoạn luận.

Hãy xem xét hai ví dụ sau:

  1. Tất cả người Do Thái chính thống đều tin vào Môi-se.
  2. Ông Smith không phải là người Do Thái chính thống.
  3. Do đó, ông Smith không tin vào Môi-se.

Điều này rõ ràng không đứng vững, vì kết luận phụ thuộc vào một suy luận phủ định từ tiền đề chính. Ông Smith có thể là một người Do Thái không chính thống nhưng vẫn tin vào Môi-se; hoặc ông ấy có thể là một người ngoại bang tin vào Môi-se.

Hãy thử một ví dụ thứ hai:

  1. Tất cả những ai có đức tin nơi Chúa Giê-xu đều được cứu.
  2. Ông Jones không có đức tin nơi Chúa Giê-xu.
  3. Do đó, ông Jones không được cứu.

Từ góc nhìn của thần học Tân Ước, kết luận này là đúng; nhưng tam đoạn luận lại không hợp lệ. Nói cách khác, đây là một cách không đúng để đạt được một kết luận đúng. Nếu tiền đề chính được viết là “Chỉ những ai có đức tin nơi Chúa Giê-xu mới được cứu” thay vì “Tất cả những ai có đức tin nơi Chúa Giê-xu đều được cứu,” thì tất nhiên tam đoạn luận mới sẽ tạo thành một lập luận hợp lệ.

Trong 2 Cô-rinh-tô 13:5, Phao-lô viết: “Hãy tự xét mình để xem anh em có đang ở trong đức tin không; hãy tự thử nghiệm chính mình. Anh em không nhận biết rằng Chúa Giê-xu Christ đang ở trong anh em sao — tất nhiên, trừ khi anh em không vượt qua thử nghiệm?” (NIV). Calvin hiểu rằng Phao-lô đang nói rằng “tất cả đều là kẻ bị loại bỏ, nếu họ nghi ngờ liệu họ có xưng nhận Chúa Giê-xu và là một phần của thân thể Ngài hay không” — một cách giải thích mà, như C. K. Barrett nhận xét, “khó có thể nói là hợp lý.” Calvin dường như đang lập luận như sau:

  1. Những ai có sự tin chắc rằng Chúa Giê-xu đang ở trong họ thì được cứu.
  2. Một số người Cô-rinh-tô và những người khác nghi ngờ (tức là họ không có sự tin chắc này).
  3. Do đó, những người Cô-rinh-tô và những người khác là kẻ bị loại bỏ.

Bản thân tôi không tin rằng tiền đề chính diễn giải đúng văn bản trong mọi trường hợp; nhưng ngay cả khi chúng ta chấp nhận rằng nó phản ánh điều Phao-lô đang nói, thì kết luận vẫn không hợp lý vì nó là một suy luận phủ định. Nó phản ánh quan điểm của nhà Cải Chánh rằng đức tin cứu rỗi bao hàm sự bảo đảm về sự cứu rỗi; nhưng không rõ ràng rằng Phao-lô đang cố gắng làm rõ điểm này.

2.6. Nhầm Lẫn Về Thế Giới Quan
#

Ngụy biện trong trường hợp này nằm ở việc cho rằng kinh nghiệm cá nhân và cách diễn giải về thực tế cuộc sống của một người là khuôn khổ thích hợp để giải thích văn bản Kinh Thánh. Tuy nhiên, thực tế có thể có những khác biệt sâu sắc khi chúng ta đi sâu hơn vào tầng ý nghĩa, đến mức các phạm trù hoàn toàn khác nhau được sử dụng, và nguyên tắc bài trung (the law of excluded middle) được áp dụng.

James W. Sire đưa ra một số ví dụ, chẳng hạn như những người chìm đắm trong chủ nghĩa thần bí tôn giáo của phương Đông đã hoàn toàn hiểu sai và do đó xuyên tạc ý nghĩa của một số đoạn Kinh Thánh. Swami Satchitananda diễn giải câu “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì họ sẽ thấy Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:8, KJV) thành “Phước cho những ai thanh tẩy lương tâm mình, vì họ sẽ thấy chính mình là Đức Chúa Trời.” Ngoài việc tùy tiện đưa vào yếu tố phản thân, Satchitananda đã áp đặt chủ nghĩa phiếm thần của mình lên văn bản, khiến không chỉ Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh bị phi nhân hóa, mà còn làm mất đi sự phân biệt bản thể giữa Đức Chúa Trời và con người.

Đây có thể là một trường hợp cực đoan; nhưng nhiều lần chúng ta, những người Tin Lành, cũng thực hiện những bước đi không khác gì Satchitananda về mặt phương pháp luận. Chúng ta nghe Lời Đức Chúa Trời truyền dạy rằng hãy vác thập tự giá mình và theo Chúa Giê-xu Christ, rồi lại diễn giải kinh nghiệm của mình vào văn bản, khiến “thập tự giá” của chúng ta trở thành bệnh thấp khớp, thiếu tiền, một người thân nóng nảy, một bạn cùng phòng khó chịu, một thất bại cá nhân, hoặc thậm chí (xin Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta!) một trò đùa.

Chúng ta quá nhẹ nhàng với chính mình; trong khi đối với độc giả của thế kỷ thứ nhất, người thực sự vác thập tự giá của mình không chỉ bị kết án tử hình, mà còn bị kết án phải chịu một cái chết đau đớn, ô nhục, nhục nhã mà chính quyền La Mã dành riêng cho những tội phạm không phải công dân La Mã - những kẻ bị coi là cặn bã của xã hội. Nếu Chúa Giê-xu bảo chúng ta vác thập tự giá mình và theo Ngài, thì “sự chết đối với bản ngã” mà Ngài nói đến không phải là cái chết, cũng không phải là một bước đi nhanh chóng của đức tin để loại bỏ một phần bản thể gọi là “con người cũ,” mà là một cái chết đau đớn và nhục nhã - chỉ có thể chịu đựng được vì Chúa Giê-xu đã thực sự đi qua con đường này trước.

Ngụy biện đang được xem xét ở đây cho thấy rõ nhất nhu cầu cần có sự tách biệt từ phía người giải thích (một khái niệm được giải thích trong phần giới thiệu của cuốn sách này). Nếu chúng ta không nhận ra cái “khoảng cách” ngăn cách giữa chúng ta với văn bản đang được nghiên cứu, chúng ta sẽ bỏ qua những khác biệt về quan điểm, từ vựng, mối quan tâm; và một cách vô thức, chúng ta sẽ áp đặt những định kiến của mình lên văn bản mà không dừng lại để tự hỏi liệu điều đó có phù hợp hay không. Chúng ta chỉ thực sự sẵn sàng để hiểu một văn bản sau khi đã nhận thức được một số khác biệt giữa nội dung mà văn bản đang đề cập và những gì chúng ta có xu hướng nghĩ đến khi nói về cùng một chủ đề.

Việc không nhận ra bản chất và phạm vi của tư duy cá nhân là phạm phải điều mà David Hackett Fischer gọi là ngụy biện Baconian:

Ngụy biện Baconian nằm ở ý tưởng rằng một nhà sử học có thể làm việc mà không cần đến những câu hỏi, giả thuyết, ý tưởng, giả định, lý thuyết, mô hình, tiền đề, định kiến, giả định trước, hoặc bất kỳ tiền đề tổng quát nào. Ông ta được cho là sẽ lang thang qua khu rừng tối của quá khứ, thu thập các sự kiện như hái hạt và quả dại, cho đến khi có đủ để tạo thành một chân lý tổng quát. Sau đó, ông ta sẽ tích lũy các chân lý tổng quát của mình cho đến khi có được toàn bộ chân lý. Ý tưởng này có hai sai sót nghiêm trọng, vì nó buộc một nhà sử học phải theo đuổi một mục tiêu không thể đạt được bằng một phương pháp không khả thi.

Điều này không có nghĩa là tri thức thực sự là không thể. Thay vào đó, nó có nghĩa là tri thức thực sự gần như không thể nếu chúng ta không nhận ra những giả định, câu hỏi, mối quan tâm và thiên kiến của chính mình; nhưng nếu chúng ta nhận thức được chúng và, trong cuộc đối thoại với văn bản, tìm cách điều chỉnh cho phù hợp, chúng ta sẽ có khả năng tránh nhầm lẫn giữa thế giới quan của mình với thế giới quan của các tác giả Kinh Thánh.

2.7. Ngụy Biện Trong Cách Đặt Câu Hỏi
#

Đây là một phần của ngụy biện đã được đề cập trước đó. Câu hỏi cũ kỹ “Khi nào anh ngừng đánh vợ?” vẫn khiến nhiều người bật cười, vì nó đặt người được hỏi vào tình huống khó xử. Nếu anh ta chưa bao giờ đánh vợ, thì câu hỏi về việc khi nào anh ta dừng lại trở nên vô nghĩa. Người đặt câu hỏi đã áp đặt sự hiểu biết của mình lên người được hỏi.

Fischer đưa ra một số ví dụ điển hình trong lĩnh vực nghiên cứu lịch sử: “Tại sao chế độ nô lệ ở Mỹ lại là điều tồi tệ nhất mà thế giới từng biết?” (một câu hỏi về nguyên nhân mà chưa chứng minh được bản chất vấn đề); hoặc “Việc tái thiết có quá nghiêm khắc một cách đáng xấu hổ hay lại quá khoan dung một cách đáng ngạc nhiên?” (một câu hỏi được đặt dưới dạng lựa chọn giữa hai khả năng, mặc dù thực tế việc tái thiết có thể vừa nghiêm khắc, vừa khoan dung, và cũng có thể mang một yếu tố nào đó khác nữa).

Fischer viết:

Luật bài trung (the law of excluded middle) có thể đòi hỏi sự tuân thủ tuyệt đối trong logic hình thức, nhưng trong lịch sử, nó lại phức tạp trong ứng dụng chẳng khác gì bộ luật thuế nội địa. Sự phân đôi bị sử dụng sai khi một câu hỏi được xây dựng theo cách buộc phải chọn giữa hai câu trả lời mà thực tế không loại trừ lẫn nhau hoặc không đủ toàn diện. Nhưng các nhà sử học vẫn thường xuyên mắc sai lầm này.

Nhưng trước khi chúng ta – những nhà thần học – vội vã cảm tạ Đức Chúa Trời rằng chúng ta không phải là sử gia, chúng ta cần nhận ra rằng chính mình cũng rơi vào nhiều ngụy biện do cách đặt câu hỏi. Có lẽ chúng ta không viết sách với tiêu đề như “Napoleon III – Người đàn ông của định mệnh: Nhà nước khai sáng hay tiền thân của chủ nghĩa phát xít?” Nhưng chúng ta lại có những tiêu đề như “Phao-lô: Người phóng túng hay nhà luật pháp?” Có biết bao nhà thần học Tin Lành (đặc biệt là tại Bắc Mỹ) đã bỏ ra rất nhiều công sức để tranh luận liệu I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13–18 giảng dạy hay ngầm đề cập đến sự cất lên trước đại nạn hay sau đại nạn, trong khi trên thực tế, mục đích Phao-lô viết phân đoạn đó hoàn toàn không liên quan đến những tranh luận ấy? Hoặc hãy xem xét giá trị (hay sự thiếu giá trị) của những câu hỏi mang tính phân đôi như: “Chúa Giê-xu chết vì sự đau đớn tâm linh hay vì sự suy kiệt thể xác?”

2.8. Sự Nhầm Lẫn Không Chính Đáng Giữa Chân Lý Và Độ Chính Xác
#

Thỉnh thoảng, sự chính xác không tuyệt đối của Kinh Thánh bị xem nhẹ, dẫn đến nghi ngờ về tính chân thật của Lời Chúa. Nhưng đó là một ngụy biện khi nhầm lẫn hai phạm trù này, hoặc nghĩ rằng sự thiếu chính xác tất yếu đồng nghĩa với việc thiếu chân lý.

Wayne A. Grudem đã giải thích vấn đề này rất tốt gần đây. Để minh họa, ông đưa ra ba câu sau: a. Nhà tôi không cách xa văn phòng tôi. b. Nhà tôi cách văn phòng khoảng một dặm rưỡi. c. Nhà tôi cách văn phòng 1,6 dặm.

Cả ba câu này đều đúng, nhưng mức độ chính xác không hoàn toàn giống nhau. Có nhiều ví dụ khác có thể minh họa điều này: việc làm tròn số nguyên, cách sử dụng ngôn ngữ hiện tượng học để mô tả các sự kiện trong thế giới vật lý (ví dụ: “mặt trời mọc”), và bản chất của lời thuật lại. Trong tất cả những trường hợp này, mức độ chính xác hay thiếu chính xác không ảnh hưởng đến bản chất của chân lý, trừ khi văn bản mang đến lời giải thích rõ ràng rằng một mức độ chính xác cao hơn so với những trường hợp này đang được cung cấp.

2.9. Lập Luận Hoàn Toàn Dựa Trên Cảm Xúc
#

Cảm xúc tự thân không phải là điều sai trái. Thật vậy, không thể nào giảng dạy về thiên đàng và địa ngục, sự xưng công bình và sự định tội, sự tha thứ và việc giữ lại tội lỗi mà hoàn toàn không có chút cảm xúc nào. Tuy nhiên, đôi khi những lời kêu gọi dựa trên cảm xúc lại che giấu vấn đề hoặc che đậy sự thiếu sót trong lập luận lý trí. Một lời kêu gọi cảm xúc dựa trên chân lý phản ánh sự chân thành và xác tín; nhưng nếu cảm xúc được dùng để thay thế chân lý thì nó vô giá trị (mặc dù đáng tiếc là nó thường thành công trong việc thuyết phục những người nhẹ dạ). Ngụy biện nằm ở chỗ chúng ta nghĩ rằng cảm xúc có thể thay thế lý trí, hoặc rằng nó có sức mạnh logic.

Đáng buồn thay, vấn đề càng gây tranh cãi thì những lời kêu gọi cảm xúc bất hợp lý lại càng xuất hiện nhiều; đôi khi chúng còn pha lẫn sự châm biếm. Steinmetz viết: “Sự kêu gọi chứ không phải giới tính mới là dấu hiệu của chức vụ đích thực; Hội Thánh được kêu gọi để thử nghiệm các thần, chứ không phải xác định giới tính.” Câu nói này hấp dẫn, giàu cảm xúc, hơi có phần mỉa mai — nhưng hoàn toàn vô giá trị về mặt lý luận, trừ khi tác giả đã chứng minh rằng “thử nghiệm các thần” (I Giăng 4) liên quan đến việc xác định năng lực chung cho chức vụ (thực tế không phải vậy) và đối lập với “xác định giới tính” (vì nếu không, hai điều này có thể bổ sung cho nhau thay vì mâu thuẫn). Nhưng cảm xúc về vấn đề này quá mạnh đến nỗi sự vô giá trị của lập luận sẽ không được nhận ra bởi hầu hết độc giả cho đến khi nó đã tác động sâu sắc đến tâm lý họ.

Đôi khi có những trường hợp lạm dụng cảm xúc nhẹ nhàng khi một tác giả phản hồi lại một người khác bằng câu như: “Thật đáng ngạc nhiên, Giáo sư Smith không tính đến thực tế rằng…”. Dĩ nhiên, đôi khi điều mà Giáo sư Smith bỏ qua thực sự đáng ngạc nhiên. Chẳng hạn, nếu ông ta tuyên bố đã cung cấp danh sách đầy đủ về cách sử dụng một từ trong toàn bộ kinh điển Tân Ước, nhưng thực tế lại bỏ sót một số trường hợp quan trọng, thì tất nhiên đó là một sự thiếu sót đáng kinh ngạc. Nhưng nếu ông ta không tuyên bố rằng danh sách của mình là đầy đủ, thì việc nói rằng sự thiếu sót ấy “đáng ngạc nhiên” hoặc “gây bất ngờ” có phần mang tính thao túng.

Tôi không chắc liệu mình đã luôn cẩn trọng đủ trong lĩnh vực này hay chưa; tôi sẽ cố gắng làm tốt hơn trong tương lai. Nhưng tôi cũng từng là người bị bác bỏ theo cách này. Chẳng hạn, trong một bài luận đánh giá và đôi lúc nhẹ nhàng phê bình Phong trào Cơ Đốc Vineyard, tôi đã chỉ ra rằng phép lạ đôi khi có ý nghĩa tích cực trong Tân Ước, nhưng đôi khi lại mang ý nghĩa tiêu cực. Đồng nghiệp đáng kính của tôi, Wayne Grudem, chỉ trích danh sách ví dụ của tôi: “Thật đáng ngạc nhiên, ông (Carson) không đề cập đến một số đoạn tích cực đã được nhắc đến ở trên.” Nhưng rõ ràng đây là một sự thiên lệch: tôi cũng không đưa ra danh sách đầy đủ các ví dụ ở phía đối lập, và tôi cũng không hề ám chỉ rằng mình đang cung cấp một danh sách toàn diện. Trong trường hợp này, từ “đáng ngạc nhiên” chỉ đơn thuần là một lời kêu gọi cảm xúc.

Việc viện dẫn lập luận cảm xúc có thể mở rộng đến cách trình bày dữ liệu. Hãy xem xét, chẳng hạn, biểu đồ về “Vai trò của người chồng trong các mô hình lãnh đạo” do Lawrence O. Richards chuẩn bị (xem hình 6). Ngay cả khi đọc lướt qua, ta cũng có thể thấy rõ rằng tài liệu này được định hướng để dẫn dắt người đọc theo hướng mà Richards mong muốn; và kết quả là một cách giải thích Kinh Thánh về các đoạn liên quan sao cho (bất ngờ chưa!) phù hợp với mô hình “đầy tớ” của Richards. Nhưng cũng công bằng nếu tạo ra một phiên bản châm biếm của biểu đồ của Richards (hình 7), nhằm hướng người đọc theo một hướng khác. Phiên bản châm biếm của tôi, dù có vẻ lố bịch, cũng không kém phần hợp lý so với biểu đồ của Richards. Thực tế, không cần phải nói quá, phần lớn sự giải nghĩa Kinh Thánh của Richards trong trường hợp này không có giá trị thực sự, và nhiều phần trong đó sai lầm, vì ông liên tục mắc phải các ngụy biện trong cách đặt câu hỏi, sự nhầm lẫn về thế giới quan, và những lời kêu gọi cảm xúc thuần túy.

HÌNH 6

HÌNH 7

2.10. Khái Quát Hóa Không Chính Đáng Và Chi Tiết Hóa Quá Mức
#

Ngụy biện trong trường hợp này nằm ở việc một người nghĩ rằng một điều cụ thể có thể được mở rộng thành một tổng quát hóa chỉ vì nó phù hợp với điều chúng ta muốn đoạn văn nói, hoặc nghĩ rằng một đoạn văn nói nhiều hơn những gì nó thực sự truyền tải.

📚 a. Sự khái quát hóa của Water J. Chantry về Phúc Âm ngày nay

Sự tổng quát hóa sai lầm này được thể hiện rõ ràng trong cuốn sách nhỏ của Walter J. Chantry về Phúc Âm ngày nay. Nhìn chung, tôi đồng ý với luận điểm của ông rằng nhiều phương pháp truyền giảng hiện đại bị thiếu sót vì không thiết lập nhu cầu trước khi cố gắng trình bày một cách toàn diện về ân điển. Nhưng Chantry phân tích vấn đề chỉ dựa trên phần giải nghĩa của ông về Mác 10:17–27, đoạn văn nói về người trai trẻ giàu có. Chúng ta được khuyên bảo hãy “xem xét thật kỹ Đấng Giảng Đạo vĩ đại” và “lưu ý phương pháp của Ngài.” Đó là lời khuyên tốt, nhưng điều Chantry chưa làm là đưa ra lý do hợp lý cho sự chọn lựa đoạn văn này. Lập luận của ông gần như yêu cầu rằng Chúa Giê-xu (và chúng ta) phải đối diện với mọi tội nhân theo cách Ngài đã làm với người trai trẻ giàu có. Nhưng một trong những đặc điểm đáng chú ý trong chức vụ của Chúa Giê-xu trên đất là sự linh hoạt và khả năng thích ứng đáng kinh ngạc của các phương pháp của Ngài. Dĩ nhiên, vẫn có những yếu tố chung, nhưng thực tế là Chúa Giê-xu không đối diện với Ni-cô-đem theo cùng một cách Ngài xử lý người trai trẻ giàu có, và Ngài cũng không đáp lại người phụ nữ Syro-Phoenicia theo cách Ngài đã làm với hai người đàn ông.

📚 b. Sự khái quát hóa của Stephen B. Clark dựa trên Ga-la-ti 5:3 và 1 Cô-rinh-tô 7:18

Một ví dụ khác xuất hiện trong nghiên cứu uyên bác của Stephen B. Clark. Trong nỗ lực bác bỏ các nhà nữ quyền Cơ Đốc - những người đã lấy Ga-la-ti 3:28 làm biểu ngữ để xóa bỏ sự phân biệt vai trò giữa nam và nữ dưới Đấng Christ, ông lập luận rằng các cặp đôi khác — nô lệ/tự do, Do Thái/Dân Ngoại — không bị xóa bỏ trong Đấng Christ, nên không có lý do gì để nghĩ rằng cặp nam/nữ lại khác biệt.

Về trường hợp của người Do Thái và Hy Lạp (Dân Ngoại), Clark chỉ ra rằng nhiều tín hữu Do Thái thời đầu thực tế vẫn tiếp tục tuân giữ luật Môi-se, và ông nói thêm: “Thực tế, Phao-lô có lẽ đã duy trì nguyên tắc rằng nếu ai đã chịu cắt bì, người ấy phải tuân theo luật của Ngũ Kinh (Ga-la-ti 5:3; 1 Cô-rinh-tô 7:18).”

Giờ đây, có thể Clark có lý do hợp lý cho lập trường tổng thể của mình; nhưng việc viện dẫn hai câu Kinh Thánh này để thiết lập một thái độ chung đối với một vấn đề rộng lớn và có độ phức tạp cao dường như là một sự tổng quát hóa không chính đáng từ hai văn bản. Thật vậy, chưa rõ Clark đã hiểu đúng hai câu Kinh Thánh mà ông đã đưa ra hay chưa. Trong câu thứ nhất, Ga-la-ti 5:3, Phao-lô có vẻ đang nói đến người Dân Ngoại đã tin Chúa và vào thời điểm đó quyết định chịu cắt bì. Sứ đồ Phao-lô không đề cập đến việc những người Do Thái đã chịu cắt bì từ khi sinh ra có nên tiếp tục tuân theo tất cả các quy định của luật Môi-se sau khi họ trở thành Cơ Đốc nhân hay không. Và trong câu thứ hai, I Cô-rinh-tô 7:18, trọng điểm của Phao-lô chắc chắn là, theo nguyên tắc chung, việc trở thành Cơ Đốc nhân không có sự ràng buộc tất yếu nào về việc địa vị của một cá nhân trong cuộc sống phải thay đổi. Chẳng hạn, một nô lệ không nên nghĩ rằng việc tin nhận Đấng Christ sẽ tự động giải phóng mình khỏi cảnh nô lệ (I Cô-rinh-tô 7:21a) — mặc dù Phao-lô nhanh chóng thêm rằng: “Nếu anh có thể được tự do, hãy tận dụng cơ hội ấy” (7:21b, NIV).

Phao-lô khó có thể đang nói với tín hữu Do Thái rằng họ phải giữ trọn luật pháp trong mọi phương diện, khi ngay sau câu được Clark viện dẫn, ông lại tuyên bố: “Sự cắt bì chẳng là gì, mà sự không cắt bì cũng chẳng là gì” (7:19, NIV) — điều này rõ ràng không hoàn toàn khớp với luật pháp Môi-se! Nhưng ngay cả khi Clark hiểu đúng hai câu Kinh Thánh này, ông vẫn chưa có đủ căn cứ để đưa ra kết luận rộng hơn về trách nhiệm của tín hữu Do Thái trong việc giữ luật pháp; vì ông đã tổng quát hóa chỉ dựa trên hai câu văn, trong khi có nhiều đoạn khác liên quan đến chủ đề này dường như lại đòi hỏi phải điều chỉnh kết luận của ông.

Chẳng hạn, trong I Cô-rinh-tô 9:19–23, Phao-lô sẵn sàng sống như một người Do Thái, giữ luật pháp, hoặc như một người Dân Ngoại, không bị luật pháp ràng buộc, bởi vì ông đang đứng trên một nền tảng thứ ba — nền tảng đặc biệt của Cơ Đốc nhân. Rõ ràng, ông không thể nói như vậy nếu bản thân ông, với tư cách là một tín hữu Do Thái, bị ràng buộc phải tuân theo mọi điều khoản của luật pháp.

📚 c. Sự khái quát hóa liên quan đến Ma-thi-ơ 24:24

Sự tổng quát hóa sai lầm cũng là một phần của vấn đề trong một cuộc trao đổi khác mà tôi đã có về chủ đề phép lạ. Trong bài viết mà tôi đã đề cập trước đó, tôi lập luận rằng những lời cảnh báo trong Tân Ước về các phép lạ gây lầm lạc là rất đáng kể, nhưng lại không được nhiều lãnh đạo của phong trào Vineyard xem xét đầy đủ. Chúa Giê-xu thậm chí còn nói rằng vào ngày cuối cùng, “nhiều người” sẽ phản đối rằng họ đã trừ quỷ nhân danh Ngài và làm phép lạ nhân danh Ngài, nhưng Ngài sẽ loại họ khỏi sự hiện diện của Ngài như những “kẻ làm điều gian ác” mà Ngài chưa từng biết đến (Ma-thi-ơ 7:21–23). Thật vậy, ở một chỗ khác, Chúa Giê-xu cảnh báo rằng những dấu kỳ phép lạ lớn sẽ được thực hiện bởi các đấng Christ giả và tiên tri giả, “để lừa dối cả những người được chọn, nếu có thể” (Ma-thi-ơ 24:24).

Một người đối thoại đã phản hồi rằng trọng tâm của đoạn Kinh Thánh sau là việc những người được chọn không bị lừa dối: hàm ý rõ ràng, chắc chắn, là “nếu có thể” có nghĩa chính xác là điều đó không thể xảy ra. Dựa trên những cân nhắc này, ông ấy lập luận rằng những Cơ Đốc nhân tin kính và chân thành, những người khiêm nhường tìm kiếm ý muốn và phước lành của Chúa, sẽ không bị lầm lạc trong những vấn đề như vậy.

Tôi nghĩ rằng tôi có thể đã chưa diễn đạt rõ ràng điều mình muốn suy luận từ đoạn văn đó. Tôi hoàn toàn đồng ý rằng những tín hữu thật sẽ không bị lừa dối mãi mãi. Tuy nhiên, việc họ có thể bị lừa dối trong một thời gian bởi nhiều điều khác nhau, bao gồm cả phép lạ và những thứ khác, chắc chắn là điều không thể phủ nhận.

Chẳng hạn, theo Phao-lô, Ba-na-ba đã bị lừa dối, ít nhất là trong một thời gian, bởi hành vi đáng ngờ của Phi-e-rơ (Ga-la-ti 2:11–14). Quan trọng hơn, có nhiều trường hợp những người được công nhận rộng rãi là Cơ Đốc nhân chân chính lại bị lừa dối, thậm chí đến mức khiến người ta phải tự hỏi liệu cuối cùng họ có thực sự là Cơ Đốc nhân hay không. A-na-nia và Sa-phi-ra đã bị lừa dối bởi lòng tham tiền bạc và mong muốn có danh tiếng về lòng quảng đại, và hậu quả là họ đã nói dối Đức Thánh Linh.

Năm trong số bảy bức thư gửi các hội thánh trong Khải huyền 2–3 cảnh báo về sự lừa dối trong Hội thánh, và cho thấy rằng nếu các thành viên không từ bỏ con đường nguy hiểm phía trước, hội thánh của họ sẽ bị hủy diệt; trong khi những người nhận thức rõ và trung tín sẽ là “những người chiến thắng” được ban thưởng vào ngày cuối cùng.

Chắc chắn Phao-lô đã thấy trước thời điểm những con sói hung ác sẽ xuất hiện từ bên trong hội thánh Ê-phê-sô, và ông đã cảnh báo các lãnh đạo Hội thánh để chuẩn bị cho dân sự đối mặt với thời điểm đó (Công vụ 20). Trong bức thư cuối cùng còn lại của mình, Phao-lô buồn bã thú nhận rằng “tất cả những người ở A-si-a” đã từ bỏ ông (2 Ti-mô-thê 1:15): dĩ nhiên điều này không có nghĩa là tất cả các tín hữu ở đó đều trở thành kẻ bội đạo, nhưng chắc chắn nó cho thấy có đủ sự lừa dối đang hoạt động để dẫn dắt các tín hữu xa rời Phao-lô.

Nhìn chung, thật khó để không nhận thấy rằng một phần lớn Tân Ước được viết với mục đích chính là giúp các tín hữu tránh khỏi sự lừa dối (hãy nghĩ đến những phần quan trọng trong Ga-la-ti, Cô-lô-se, I Tê-sa-lô-ni-ca, II Tê-sa-lô-ni-ca, Gia-cơ, Giu-đe, Bài giảng trên núi Ô-li-ve, v.v.), hoặc cảnh báo họ về những giáo lý và thực hành sai lầm.

Mục đích của tôi khi trích dẫn một số đoạn Kinh Thánh trong bài viết mà người đối thoại của tôi phản đối là để nhấn mạnh rằng các tín hữu đã từng bị lừa dối và thường xuyên được cảnh báo về nguy cơ bị lừa dối. Hơn nữa, trong phạm vi bài viết đó, điều quan trọng là phải nói rằng sự lừa dối có thể bao gồm cả những phép lạ gây ra sự mê hoặc. Tôi không hề lập luận từ một đoạn văn cụ thể hay từ toàn bộ Tân Ước rằng một Cơ Đốc nhân chân chính có thể bị lừa dối mãi mãi và vì thế bị hư mất. Tôi không trình bày chi tiết những điều này, đơn giản vì tôi chỉ viết một bài báo khá ngắn gọn.

Nhưng lập luận từ Ma-thi-ơ 24:24 rằng vì trong đoạn văn đó những người được chọn không bị lừa dối, nên các Cơ Đốc nhân khiêm nhường tìm kiếm ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ tránh được sự lừa dối, là một cách giải thích khá kỳ lạ. Nếu những người được chọn trong đoạn văn đó hoàn toàn không bị lừa dối, thì hai điều sau đây sẽ xảy ra: (1) tất cả những bằng chứng phản bác trong Tân Ước sẽ khó có thể giải thích được; (2) vẫn có thực tế, dựa trên những bằng chứng trong Tân Ước mà tôi đã đề cập ngắn gọn, rằng nhiều người được cho là thuộc về nhóm người được chọn cuối cùng lại bị lừa dối, và do đó chứng tỏ họ là kẻ bị loại bỏ — vậy nên một chút kính sợ thánh khiết có vẻ là điều cần thiết.

Do đó, cách hiểu hợp lý hơn về Ma-thi-ơ 24:24 là đoạn văn này đang nói rằng những người được chọn sẽ không bị lừa dối mãi mãi (vì bối cảnh của đoạn này mang tính chất lai thế học rất rõ ràng), dù cho những người khác có thể bị lừa dối. Và phù hợp với cách mà quyền tể trị của Đức Chúa Trời thường hoạt động trong Tân Ước, đây là một lời kêu gọi các tín hữu phải đặc biệt chú ý đến sự phân định.

Từ góc nhìn của tôi, có vẻ như người đối thoại của tôi đã lấy một đoạn văn duy nhất, rồi giải thích đúng khi nhận xét rằng những người được chọn trong câu đó không bị lừa dối, nhưng lại suy luận (sai lầm) rằng điều này bao gồm mọi sự lừa dối, và tổng quát hóa kết luận của mình theo cách bỏ qua phần lớn bằng chứng trong Tân Ước.

📚 d. Các trường hợp chi tiết hóa quá mức

Việc chi tiết hóa quá mức cũng không hiếm gặp. Sire đưa ra một ví dụ thú vị trong cách người Mọt Môn (Mormon) diễn giải Giê-rê-mi 1:5, nơi Đức Chúa Trời phán với Giê-rê-mi: “Trước khi Ta tạo con trong lòng mẹ, Ta đã biết con; trước khi con ra đời, Ta đã biệt riêng con; Ta lập con làm tiên tri cho các dân” (NIV). Người Mọt Môn viện dẫn đoạn này để biện minh cho quan điểm rằng Giê-rê-mi thực sự đã tồn tại như một “đứa con linh hồn,” như một “trí tuệ,” trước khi ông được thụ thai. Lời của Giê-rê-mi 1:5 có thể được hiểu theo cách đó nếu có lý do ngữ cảnh để nghĩ rằng đó là ý nghĩa thực sự, nhưng những lý do như vậy hoàn toàn không tồn tại. Thực chất, người Mọt Môn đang dựa vào sách “Ngọc Báu Vô Giá” (Pearl of Great Price) của họ để xác lập nội dung giáo lý, đồng thời viện dẫn Kinh Thánh tại một điểm mơ hồ về mặt ngôn từ và chi tiết hóa quá mức những gì đoạn văn nói để tuyên bố thẩm quyền của Kinh Thánh.

Thật không may, đôi khi những tín hữu Tin Lành cũng rơi vào cái bẫy tương tự. Chẳng hạn, tôi đã nghe các nhà giảng đạo lập luận dựa trên câu “Đức Chúa Trời sẽ lau ráo nước mắt trên mắt của họ” (Khải huyền 21:4, NIV) rằng tại phiên xét xử các tín hữu, sẽ có một sự thanh tẩy lớn khi tội lỗi của chúng ta bị phơi bày và sau đó vĩnh viễn bị loại bỏ; nhưng điều đó chắc chắn là một sự chi tiết hóa quá mức của đoạn văn, là việc đọc vào một yếu tố cụ thể và hạn chế mà bản thân đoạn văn không chứng minh được. Giữ vững Lời Đức Chúa Trời không chỉ đòi hỏi chúng ta tin tất cả những gì Ngài phán, mà còn tránh đi “quá những gì đã chép” (1 Cô-rinh-tô 4:6, NIV).

2.11. Liên Tưởng Nhảy Vọt Không Chính Đáng
#

Đây là một dạng sai lầm cụ thể thuộc loại ngụy biện thứ năm trong chương này. Nó xảy ra khi một từ hoặc cụm từ khơi gợi một ý tưởng, khái niệm hoặc trải nghiệm không có mối liên hệ chặt chẽ với nội dung văn bản, nhưng lại được dùng để giải thích văn bản.

Sai lầm này rất dễ mắc phải trong việc giảng luận Kinh Thánh, khi bỏ qua câu châm ngôn cũ rằng: “Một câu Kinh Thánh mà không có bối cảnh thì trở thành cái cớ để chứng minh một luận điểm sai.” Một ví dụ quen thuộc là Phi-líp 4:13, “Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho tôi” (BTT). Chữ “mọi sự” không thể được hiểu là một cách hoàn toàn không giới hạn (ví dụ như nhảy qua mặt trăng, giải các phương trình toán học phức tạp trong đầu, hay biến cát thành vàng). Vì vậy, câu này thường được giảng giải như một lời hứa về sức mạnh của Chúa Giê-xu dành cho tín hữu trong tất cả những gì họ phải làm, hoặc trong mọi việc mà Đức Chúa Trời đặt ra cho họ. Đó dĩ nhiên là một tư tưởng đúng đắn trong Kinh Thánh, nhưng khi xét riêng về câu Kinh Thánh này, cách giảng giải đó chưa xem xét đầy đủ về bối cảnh. Chữ “mọi sự” trong bối cảnh này là sống thỏa lòng dù trong cảnh thiếu thốn hay đầy đủ, dù có ăn hay chịu đói (Phi-líp 4:10–12). Dù hoàn cảnh có ra sao, Phao-lô có thể vững lòng, sống với sự thỏa lòng, nhờ Chúa Giê-xu là Đấng ban sức mạnh cho ông.

Hoặc hãy xem xét tuyên bố sau đây: “Thẩm quyền của người chấp sự được đặt nền trên Chúa Giê-xu, Đấng đã nhận lãnh từ Đức Chúa Cha (Ma-thi-ơ 28:18), và Đấng trao quyền ấy qua Đức Thánh Linh trong nghi thức phong chức.” Ấn tượng ban đầu có thể khiến người nghe nghĩ rằng Ma-thi-ơ 28:18 được dùng để làm nền tảng Kinh Thánh cho toàn bộ luận điểm về nguồn gốc của thẩm quyền trong chức vụ chấp sự. Trên thực tế, mối liên hệ chính với câu Kinh Thánh này chỉ là chữ “thẩm quyền”, khi Chúa Giê-xu phục sinh tuyên bố rằng mọi quyền trên trời và dưới đất đã được ban cho Ngài. Nhưng câu Kinh Thánh này không hề nói gì về việc truyền lại thẩm quyền, hoặc một phần nào đó của quyền ấy, cho một nhóm tín hữu được gọi là “chấp sự.” Đáng tiếc, tài liệu từ đó trích dẫn ví dụ này đầy rẫy những trường hợp sử dụng Kinh Thánh tương tự, làm cho mọi người khó mà tin rằng đây chỉ là một sai sót trong việc giải nghĩa Kinh Thánh.

2.12. Những Tuyên Bố Sai
#

Thật đáng kinh ngạc khi một cuốn sách hoặc bài viết lại có thể đưa ra thông tin sai lệch thường xuyên đến vậy; và nếu chúng ta quá dựa vào những tài liệu như thế, sự giải nghĩa Kinh Thánh của chúng ta sẽ bị lệch lạc nghiêm trọng. Ngay cả những học giả vốn cẩn trọng cũng có thể mắc sai lầm, đôi khi vì họ dựa vào các nguồn thứ cấp không đáng tin cậy, đôi khi vì trí nhớ của họ khiến họ nhầm lẫn.

Một bài chú giải ngắn về sách Hê-bơ-rơ, chẳng hạn, đã bình luận về Hê-bơ-rơ 3:1 (“Hãy suy ngẫm về Chúa Giê-xu, Sứ giả và Thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta tuyên xưng”; BTT) bằng cách liên hệ đến Giăng 20:21 như sau: “‘Như Cha đã sai (apestalken) Ta, thì Ta cũng sai (apostellō) các con’; một sứ đồ (apostolos) là người được sai đi thực hiện một sứ mạng bởi một Đấng có thẩm quyền, và vì vậy, Chúa Giê-xu chính là Sứ giả của Đức Chúa Cha, cũng như Đấng Christ đã sai các môn đồ vào công việc của Ngài, khiến họ trở thành sứ đồ của Ngài.” Vấn đề duy nhất ở đây là động từ thứ hai trong câu Kinh Thánh Giăng 20:21 không phải là ἀποστέλλω (apostellō) mà là πέμπω (pempō), khiến cho khả năng Giăng đang nghĩ đến việc phong chức sứ đồ trở nên không hợp lý. Dù thế nào đi nữa, đây là một lỗi sai đơn thuần về mặt thực tế, một sự vi phạm vô tình đối với nguyên tắc không mâu thuẫn (the law of noncontradiction).

Tôi e rằng có một học giả được nhiều người biết đến về những nghiên cứu tiếng Hy Lạp nổi tiếng thường xuyên mắc phải nhiều sai lầm trong việc giải nghĩa Kinh Thánh được liệt kê trong cuốn sách này, và đây không phải là trường hợp ngoại lệ. Để bảo vệ cách hiểu của mình về câu “Ta đi đánh cá” (Giăng 21:3, BTT), mà học giả này đã tuyên bố (dựa trên động từ và thì hiện tại của nó) rằng câu này có nghĩa là Phi-e-rơ “đang trở lại nghề đánh cá của mình một cách vĩnh viễn,” Wuest khẳng định rằng “bản dịch và cách hiểu của ông dựa trên sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy tắc của ngữ pháp Hy Lạp và ý nghĩa chính xác của các từ Hy Lạp liên quan.” Có lẽ ông ta chỉ muốn nói rằng quan điểm này phù hợp với cách hiểu “cứng nhắc” của riêng ông về ngữ pháp Hy Lạp. Nhưng lẽ ra ông ta nên cảnh giác khi không có một tài liệu ngữ pháp hay từ điển lớn nào ủng hộ cách hiểu của ông; Wuest chỉ được hậu thuẫn bởi một số ít các nhà chú giải cũ và ít được biết đến.

2.13. Ngụy Biện Không Liên Kết
#

Đây là những kết luận không theo bằng chứng và lập luận được trình bày. Có nhiều dạng sai lầm như thế này, thường được minh họa dễ dàng qua các tam đoạn luận mà tôi đã trình bày nhiều lần trong chương này; nhưng cũng có những trường hợp xuất phát từ suy nghĩ rối rắm hoặc giả định sai, khó có thể phân tích rõ ràng.

Bắt đầu với một ví dụ đơn giản, Thomas H. Groome nhấn mạnh chân lý rằng “người nào không có tình yêu thương thì không biết Đức Chúa Trời” (1 Giăng 4:8) và kết luận rằng: “Cách duy nhất để thực sự biết Đức Chúa Trời là thông qua một mối quan hệ yêu thương” — một kết luận không hợp lý. Nhưng một số ví dụ tệ nhất tôi từng thấy xuất phát từ các tài liệu của Hội đồng các Giáo hội Thế giới (The World Council of Churches), có lẽ vì nhiều tài liệu như vậy được viết bởi một hội đồng và được xác lập theo sự đồng thuận. Trong một cuốn sách gần đây, tôi nhận thấy một ví dụ kinh điển về lỗi lập luận không liên kết (non sequitur) như sau:

“Vì lễ phong chức về cơ bản là việc biệt riêng và cầu nguyện để nhận lãnh ân tứ từ Đức Thánh Linh, nên thẩm quyền của người được phong chức không nên được hiểu là tài sản cá nhân, mà là một ân tứ để tiếp tục gây dựng thân thể của Đấng Christ mà người đó đã được phong chức phục vụ.”

Trong tuyên bố này có một sự chuyển dịch tinh vi từ thẩm quyền như một sở hữu sang thẩm quyền như một ân tứ để phục vụ, nhưng không có bằng chứng nào để chứng minh rằng hai khái niệm này hoàn toàn tách biệt (chẳng phải một người có thể sở hữu một ân tứ để phục vụ sao?) hoặc làm rõ việc Đức Thánh Linh là Đấng ban ân tứ có ảnh hưởng thế nào đến kết luận đó. Đáng tiếc, nhiều tuyên bố trong tài liệu này cũng mơ hồ theo cách tương tự.

2.14. Sự Bác Bỏ Thiếu Cân Nhắc
#

Sai lầm trong trường hợp này nằm ở việc một người nghĩ rằng lập luận của đối phương đã thực sự được xử lý, trong khi thực tế nó chỉ đơn giản bị bác bỏ. Để lấy một ví dụ trong số nhiều trường hợp, Hans Conzelmann đưa ra một cách giải thích khả dĩ về 1 Cô-rinh-tô 11:4–6 — chỉ để gạt bỏ nó bằng cách thêm vào câu: “Thật là hoang đường.”

Thường thì sự bác bỏ khinh suất như vậy xuất phát từ việc ý kiến đối lập được hình thành trong một hệ tư tưởng quá khác biệt so với quan điểm của học giả, khiến ông thấy nó kỳ lạ, khó hiểu và không thể chấp nhận được (trừ khi ông thay đổi toàn bộ cách nhìn nhận của mình). Nếu đúng như vậy, lẽ ra điều đó nên được nói rõ, thay vì vội vàng bác bỏ một cách thiếu giá trị lập luận và mang tính coi thường.

2.15. Ngụy Biện Dựa Trên Lập Luận Mơ Hồ
#

Với tiêu đề chung này, tôi muốn đề cập đến những lập luận mà chúng ta không thể hoàn toàn cho là sai. Dù vậy chúng vẫn có những điểm thiếu sót, mơ hồ, không thỏa đáng. Chúng tuyên bố mang lại ích lợi nhiều hơn khả năng thực sự của chúng.

Có nhiều dạng lập luận mơ hồ như vậy. Một người giải nghĩa có thể đặt câu hỏi tu từ: “Liệu Phao-lô có hiểu luật pháp theo cách này hay cách kia không?” — ngụ ý rằng ông sẽ không hiểu như vậy, nên có thể loại bỏ phương án đó. Nhưng những lập luận kiểu tiên nghiệm (a priori) như thế không có sức mạnh logic. Chúng ta còn cách nào khác để xác định Phao-lô muốn nói gì về luật pháp trong đoạn văn này ngoài việc giải nghĩa Kinh Thánh một cách cẩn thận?

Tuy nhiên, thường thì câu hỏi tu từ mà tôi dùng làm ví dụ không hoàn toàn vô lý. Nó có thể dựa trên một giả định ngầm rằng tác giả đã đi đến kết luận trước đó rằng “luật pháp” trong các thư tín của Phao-lô chưa bao giờ mang ý nghĩa như vậy, và do đó, khả năng khái niệm “luật pháp” có nghĩa đó trong đoạn văn đang được thảo luận là rất thấp. Nếu câu hỏi tu từ mang ý nghĩa như vậy, lập luận có thể không thỏa đáng về mặt hình thức nhưng vẫn có trọng lượng nhất định. Tuy nhiên, thật sai lầm khi nghĩ rằng lập luận này là kết luận cuối cùng, vì có thể có những yếu tố liên quan khác. Chẳng hạn, Phao-lô có thể đang sử dụng từ “luật pháp” theo một cách khác thường, có thể vì ông đang đề cập đến một chủ đề đặc biệt mà ông chưa từng bàn luận ở nơi nào khác. Mục đích của tôi khi phân biệt những điều này là để chỉ ra rằng ngay cả khi một lập luận có giá trị, nó vẫn có thể không mang tính quyết định. Một số lập luận vốn dĩ đã yếu.

Một dạng lập luận ít đáng khen hơn là cố tình sử dụng ngôn ngữ mơ hồ nhất có thể để đạt được sự đồng thuận rộng rãi nhất. Những tuyên bố như vậy là không có giá trị, vì chúng che đậy những khác biệt thực sự. Chúng che giấu nhiều hơn là bày tỏ, và chúng gần như là không trung thực, vì chúng ép buộc một sự đồng thuận bề ngoài mà thực chất không hề có. Dĩ nhiên, có thể khôn ngoan khi tránh vấn đề A bằng cách dùng ngôn ngữ mơ hồ nếu mục tiêu thực sự là thảo luận về vấn đề B, và vấn đề A chỉ là một yếu tố gây nhiễu. Nhưng việc sử dụng cùng một ngôn ngữ khi thảo luận về chủ đề thực sự — vấn đề B — thì không phải là một điều đáng khen.

Thật sai lầm khi nghĩ rằng những tuyên bố sau đây của Hội đồng các Giáo hội Thế giới (The World Council of Churches) phản ánh một sự đồng thuận thực chất:

“Các chi thể trong thân thể của Đấng Christ phải đấu tranh cùng những người bị áp bức để hướng đến sự tự do và phẩm giá đã được hứa ban khi Vương quốc Đức Chúa Trời đến. Sứ mạng này cần được thực hiện trong các bối cảnh chính trị, xã hội và văn hóa khác nhau.”

Với một chút nỗ lực, Harold O. J. Brown và José Miranda đều có thể đồng ý với tuyên bố này!

Hoặc một ví dụ khác:

“Đức Thánh Linh giữ Hội Thánh trong truyền thống sứ đồ cho đến khi lịch sử được hoàn tất trong Vương quốc Đức Chúa Trời. Truyền thống sứ đồ trong Hội Thánh có nghĩa là sự tiếp nối những đặc điểm vĩnh viễn của Hội Thánh thời các sứ đồ: làm chứng về đức tin sứ đồ, rao giảng và giải nghĩa mới về Phúc Âm, cử hành lễ báp-têm và tiệc thánh, truyền giao trách nhiệm chức vụ, hiệp thông trong sự cầu nguyện, tình yêu thương, niềm vui và sự chịu khổ, phục vụ người bệnh và người thiếu thốn, hiệp nhất giữa các Hội Thánh địa phương và chia sẻ những ân tứ mà Chúa đã ban cho mỗi người.”

Thật khó để thấy tại sao một hội chúng Anh Em (a Brethren assembly) hoặc cánh bảo thủ của Giáo hội Công giáo La Mã lại gặp nhiều khó khăn trong việc đồng ý với điều đó. Tuy nhiên, họ lại không đồng ý với nhau: Hầu như từng mệnh đề, đôi khi từng cụm từ, đều được hiểu khác nhau giữa hai truyền thống.

Một dạng lập luận mơ hồ khác xảy ra khi một nhà bình luận, dù hữu ý hay vô ý, trình bày vấn đề theo cách khiến hai hoặc nhiều phương án cùng bị bỏ ngỏ — có thể vì người ấy không biết câu trả lời, hoặc muốn giữ cho vấn đề chưa sáng tỏ, hoặc vì vô tình tiếp nhận những quan điểm không tương thích với nhau. Chẳng hạn, Ga-la-ti 3:12, nơi sứ đồ Phao-lô trích dẫn Lê-vi ký 18:5, là một trong những điểm tranh luận quan trọng trong thư Ga-la-ti. Câu hỏi xoay quanh việc liệu Phao-lô có cho rằng luật pháp Môi-se từng có khả năng đem lại sự sống thuộc linh hay không. F. F. Bruce bình luận:

Đúng vậy, trong ngữ cảnh của Lê-vi ký 18:5, lời hứa về sự sống dành cho những ai làm theo điều Đức Chúa Trời truyền dạy là một lời hứa thật sự, nhưng … trong Ga-la-ti 3:12, Phao-lô chỉ ra rằng, với sự xuất hiện của Tin Lành, con đường đó nay đã bị đóng lại, dù trước kia có thể nó từng mở — và còn đáng ngờ liệu ông có thực sự chấp nhận ngay cả điều đó hay không.

Vậy Bruce có nghĩ rằng Phao-lô, trong Ga-la-ti 3:12, tuyên bố sự chấm dứt của một con đường dẫn đến sự sống dựa trên việc giữ luật pháp, hay rằng Phao-lô đang tranh luận rằng việc giữ luật chưa từng là một con đường dẫn đến sự sống? Và nếu là điều sau, Bruce có nghĩ rằng Phao-lô hiểu đúng hay hiểu sai văn bản Cựu Ước? Tôi không biết. Nhìn chung, chú giải của Bruce là một tác phẩm xuất sắc; nhưng thật là một sai lầm khi cho rằng dạng lập luận mơ hồ này thực sự là một lời giải thích cho văn bản.

2.16. Phép So Sánh Không Tương Xứng
#

Ngụy biện trong trường hợp này nằm ở việc giả định rằng một phép so sánh nào đó có thể làm sáng tỏ một đoạn Kinh Thánh hoặc một chủ đề thần học, trong khi thực tế phép so sánh ấy lại không phù hợp hoặc không đủ sức để minh giải vấn đề. Các phép so sánh luôn bao gồm cả yếu tố tương đồng lẫn khác biệt so với điều mà chúng muốn giải thích; nhưng để một phép so sánh có giá trị, yếu tố tương đồng phải chiếm ưu thế tại điểm giải thích.

Chẳng hạn, Donald M. Lake, trong nỗ lực lập luận rằng ân điển trong hệ thống thần học Arminius không yếu hơn so với hệ thống Cải Chánh, đã đưa ra phép so sánh về một vị quan án kết tội một người phạm pháp rồi ban cho người ấy sự tha thứ. Dù người ấy phải chấp nhận sự tha thứ đó, Lake lập luận rằng việc chấp nhận không thể được xem là một công trạng hay một việc làm khiến người ấy đáng được cứu. Ông nói thêm: “Calvin và các nhà thần học Calvin về sau dường như chưa bao giờ có thể nhận ra sự phân biệt căn bản này — thật đáng tiếc!”

Tuy nhiên, để lập luận rằng vai trò của ân điển trong hai hệ thống này không khác nhau, Lake cần thay đổi phép so sánh của mình. Ông cần vẽ lên hình ảnh một vị quan án kết tội mười phạm nhân và ban cho mỗi người một sự ân xá. Năm người chấp nhận sự ân xá, năm người từ chối (con số không phải là yếu tố chính). Nhưng trong mô hình này, dù những người chấp nhận ân xá không tự kiếm được nó và rõ ràng hưởng quyền tự do mới nhờ ân điển của vị quan án, họ vẫn có thể phân biệt với những người từ chối sự ân xá hoàn toàn dựa trên quyết định cá nhân. Điều duy nhất khiến họ khác biệt với những kẻ bị dẫn đến chốn ngục tù chính là sự khôn ngoan trong lựa chọn của họ — điều này trở thành một lý do hợp lý để tự hào. Ngược lại, trong hệ thống Calvin, yếu tố quyết định duy nhất là ân điển tuyển chọn (elective grace) của Đức Chúa Trời. Như vậy, dù cả hai hệ thống đều nhấn mạnh ân điển, nhưng vai trò và vị trí của ân điển trong hai hệ thống lại hoàn toàn khác nhau. Lake không thấy điều này bởi vì ông đã đưa ra một phép so sánh không phù hợp; hoặc có lẽ sự thiếu sót trong phép so sánh ấy phản ánh rằng ông chưa thực sự hiểu vấn đề.

2.17. Lạm Dụng Từ “Rõ Ràng” Và Các Cách Diễn Đạt Tương Tự
#

Việc một nhà bình luận sử dụng các cụm từ như “rõ ràng,” “không gì có thể hiển nhiên hơn,” hoặc những cách diễn đạt tương tự là hoàn toàn hợp lý khi họ đã đưa ra bằng chứng áp đảo đến mức phần lớn độc giả đều đồng tình rằng vấn đề được trình bày là minh bạch, hoặc lập luận là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, việc sử dụng những cụm từ này trở nên không thích hợp khi các lập luận đối lập chưa bị bác bỏ một cách dứt khoát, và thật là một ngụy biện khi nghĩ rằng chính những cách diễn đạt ấy có thể làm cho lập luận trở nên vững chắc hơn.

Chẳng hạn, khi Gleason L. Archer, Jr. tìm cách giải thích lý do tại sao Ma-thi-ơ ghi “người nghèo khó trong tâm linh” (Ma-thi-ơ 5:3) trong khi Lu-ca chỉ đơn giản là “người nghèo khó” (Lu-ca 6:20), ông lập luận rằng Bài Giảng Trên Núi (trong Ma-thi-ơ) và bài giảng trên đồng bằng (trong Lu-ca) là hai bài giảng khác nhau. Ông đưa ra hai hoặc ba lý do (tất cả đều đã bị bác bỏ ở những nơi khác), rồi kết luận: “Không gì có thể hiển nhiên hơn rằng đây là hai thông điệp khác nhau được công bố vào những thời điểm khác nhau.” Có thể ông đúng; nhưng tôi vẫn chưa bị thuyết phục và đã công khai bày tỏ quan điểm hoàn toàn trái ngược với cách giải thích của ông. Chắc chắn phần lớn các nhà bình luận, cả Tin Lành lẫn những người thuộc các truyền thống khác, đều không đồng ý với Archer về điểm này. Ít nhất, điều rõ ràng nhất chính là việc nói rằng “không gì có thể hiển nhiên hơn” lại là một cách diễn đạt quá mạnh.

2.18. Lập Luận Giản Đơn Dựa Vào Thẩm Quyền
#

Những lập luận này có thể dựa vào các học giả danh tiếng, các mục sư kính yêu, các tác giả được quý trọng, số đông quần chúng hoặc nhiều đối tượng khác. Sai lầm nằm ở việc nghĩ rằng viện dẫn thẩm quyền là lý do để giải thích Kinh Thánh theo một cách nhất định; nhưng thực ra, trừ khi thẩm quyền đó đưa ra lập luận của mình, thì điều duy nhất mà sự viện dẫn này chứng tỏ là người viết đang chịu ảnh hưởng của thẩm quyền đó! Điều mà một sự viện dẫn thẩm quyền có thể đóng góp cho một lập luận chỉ là danh tiếng chung của thẩm quyền đó, chứ không phải là một sự bảo vệ hoặc giải thích có lý lẽ.

Không nghi ngờ gì, chúng ta cần có tinh thần sẵn sàng học hỏi từ mọi “thẩm quyền” trong lĩnh vực nghiên cứu Kinh Thánh và thần học; nhưng chúng ta nên đánh giá lời nói của họ không dựa trên danh tiếng của người nói, mà dựa trên sự khôn ngoan trong lập luận họ đưa ra.

Đây là một ví dụ điển hình từ một tác giả Công giáo La Mã:

“Theo Tân Ước, Phi-e-rơ có những lần vấp ngã, cả trước và sau lễ Phục sinh, nhưng các nhà biện giáo Công giáo bảo vệ sự vô ngộ (infallibility) trong giáo lý của Phi-e-rơ sau lễ Phục sinh, và hệ quả là sự vô ngộ đó cũng thuộc về Giáo hoàng, người tiếp nối ‘Chức vụ Phi-e-rơ’.”

Lập luận này dựa vào các nhà biện giáo Công giáo và ngầm hiểu theo các cách giải thích truyền thống Công giáo La Mã. Avery Dulles đã sử dụng các truyền thống nội bộ của Công giáo để biện minh cho quyền lực của Giáo hoàng; và do đó những người không bị thuyết phục bởi vị thế của các nhân vật có thẩm quyền này sẽ không nhận được nhiều lợi ích từ lập luận của ông.

Đây không phải là những ngụy biện duy nhất có thể làm vấp ngã những người nghiên cứu sâu về Kinh Thánh, nhưng chúng là một số trong những sai lầm phổ biến nhất. Tất cả chúng ta đều có thể rơi vào một hoặc nhiều sai lầm này vào một thời điểm nào đó; nhưng sự cảnh giác về mức độ phổ biến và bản chất của chúng có thể giúp chúng ta thoát khỏi ảnh hưởng của chúng thường xuyên hơn.

Cũng giống như các chương khác của cuốn sách này, chương này mang tính phê bình nhiều hơn là khẳng định; nhưng nếu nó dẫn đến những nhà giải nghĩa Kinh Thánh có khả năng tự kiểm điểm nhiều hơn trong cách tiếp cận Lời Chúa, và những độc giả có sự phân tích sắc bén hơn khi đọc các chú giải, các bài giảng, và những nghiên cứu khác, thì sự phê bình sâu sắc này sẽ đạt được phần thưởng xứng đáng.


NGỤY BIỆN GIẢI KINH