Skip to main content

Chương 05: Ngụy Biện Dựa Trên Giả Định Tiên Nghiệm (Presuppositional) Và Sai Lệch Lịch Sử

·5270 words·25 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Chủ đề của chương này có thể dễ dàng trở thành một cuốn sách dài. Việc bàn luận về những ngụy biện ở cấp độ giả định tiên nghiệm (presupposition) và lịch sử là đặt ra những câu hỏi phức tạp về triết học và lịch sử, vượt quá khả năng của tôi cũng như phạm vi của cuốn sách này. Hơn nữa, những ai chủ yếu quan tâm đến ngụy biện lịch sử sẽ không thể tìm được nguồn nào tốt hơn tác phẩm của David Hackett Fischer; những ai muốn hiểu rõ về ngụy biện giả định tiên nghiệm sẽ cần nghiên cứu một lượng lớn tri thức về nhận thức luận trước khi có thể đạt được sự thấu đáo trọn vẹn.

Dù vậy, một số điều cần được nói về những ngụy biện mang tính giả định tiên nghiệm và lịch sử trong một cuốn sách như thế này, vì chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giải nghĩa Kinh Thánh. Kinh Thánh chứa đựng nhiều dữ liệu lịch sử; và khi những con người hữu hạn, sa ngã đấu tranh với lịch sử, thì ở đó cũng sẽ xuất hiện những ngụy biện của các nhà sử học. Việc giải nghĩa Kinh Thánh đòi hỏi tư duy sâu sắc và lập luận chặt chẽ; và ở đâu có sự suy gẫm bền bỉ như vậy, ở đó cũng sẽ có những ngụy biện mang tính giả định tiên nghiệm (presuppositional).

I. ẢNH HƯỞNG CỦA LỐI GIẢI NGHĨA MỚI (New Hermeneutics)
#

Trong bối cảnh hiện đại, điều thiết yếu là phải đề cập đến cuộc cách mạng trong tư duy do sự nổi lên của “lối giải nghĩa mới” mang lại. Cho đến vài thập kỷ trước, phép giải nghĩa chủ yếu được hiểu là nghệ thuật hoặc khoa học về diễn giải — trong phạm vi thần học, đó là sự diễn giải Kinh Thánh. Người giải nghĩa là chủ thể, văn bản là khách thể, và mục tiêu của cách tiếp cận này là giúp chủ thể phát triển các kỹ thuật và sự nhạy bén để có thể giải nghĩa khách thể một cách chính xác. Công cuộc này có nhiều điều đáng khen ngợi; tuy nhiên, nó chưa tập trung đầy đủ vào những rào cản trong sự hiểu biết mà chính người giải nghĩa mang đến cho nhiệm vụ này. Chính tại điểm này, lối giải nghĩa mới mang lại một số ánh sáng về mặt tư duy.

Lối giải nghĩa mới phá vỡ sự phân tách mạnh mẽ giữa chủ thể và khách thể, vốn là đặc điểm của lý thuyết giải nghĩa cũ. Người giải nghĩa khi tiếp cận một văn bản luôn mang theo một lượng nhất định hành trang về văn hóa, ngôn ngữ và đạo đức. Ngay cả những câu hỏi mà người giải nghĩa cố gắng đặt ra (hoặc không đặt ra) đối với văn bản cũng phản ánh những giới hạn do hành trang đó áp đặt; điều này ở một mức độ nào đó sẽ định hình loại “phản hồi” mà văn bản có thể cung cấp và cách người giải nghĩa hiểu chúng. Nhưng chính những phản hồi này lại định hình hành trang tư duy mà người giải nghĩa mang theo, khiến cho ở vòng tiếp theo, những câu hỏi được đặt ra cho văn bản sẽ có chút khác biệt và do đó sẽ tạo ra một chuỗi phản hồi mới — cứ thế tiếp diễn. Như vậy, một “vòng tròn giải nghĩa” (hermeneutical circle) được thiết lập.

Trong một số diễn giải về lối giải nghĩa mới, ý nghĩa thực sự và khách quan trong một văn bản chỉ là ảo ảnh, và việc theo đuổi nó cũng vô ích như việc đuổi theo con mèo Cheshire. “Tính đa nghĩa” được áp dụng cho toàn bộ văn bản theo cách ngây thơ nhất — tức là một lý thuyết lập luận rằng một văn bản có nhiều ý nghĩa, nhưng không có ý nghĩa nào thực sự khách quan, và tất cả đều đúng hoặc sai tùy theo tác động của chúng lên người giải nghĩa. Nhưng chủ nghĩa tương đối (relativism) tuyệt đối như vậy không chỉ không cần thiết mà còn mâu thuẫn với chính nó; bởi vì chính các tác giả của những quan điểm này lại mong chúng ta hiểu được ý nghĩa của các bài viết của họ!

Những tác giả có tư duy sâu sắc hiểu rằng vòng tròn giải nghĩa không phải là một chu trình luẩn quẩn; lý tưởng nhất, nó giống như một vòng xoáy giải nghĩa (hermeneutical spiral). Người giải nghĩa có thể ngày càng tiến gần hơn đến ý nghĩa của văn bản (như tác giả của văn bản đã dự định), cho đến khi thật sự nắm bắt được nó một cách chân thật, dù không thể hiểu hết toàn bộ. Những tác giả này phủ nhận quan điểm cho rằng một văn bản sẽ bị tách rời khỏi tác giả ngay khi nó được viết hoặc xuất bản. Vì thế, việc tìm hiểu ý định của tác giả dựa trên những dấu hiệu có trong chính văn bản luôn là điều đúng đắn và hợp lý.

Trong một số loại văn học, tất nhiên, có thể có một dạng đa nghĩa phản ánh ý định của tác giả: chẳng hạn, một câu châm ngôn có thể được người sáng tạo thiết kế để truyền tải chân lý ở nhiều cấp độ khác nhau. Tuy nhiên, những ví dụ như vậy không khiến văn bản bị tách rời khỏi tác giả.

Dù có những vấn đề mà lối giải nghĩa mới đặt ra, chúng ta đã học được nhiều điều từ những sự phát triển này. Đặc biệt, chúng ta đã buộc phải nhận ra rằng sự tạo khoảng cách là một phần quan trọng trong việc nắm bắt bất kỳ văn bản nào: người giải nghĩa phải “tạo khoảng cách” giữa tầm nhìn hiểu biết của mình với tầm nhìn của văn bản. Khi những khác biệt được nhìn nhận rõ hơn, thì việc tiếp cận văn bản sẽ trở nên tinh tế hơn so với bình thường.

F. F. Bruce kể lại một câu chuyện hài hước về một Cơ Đốc nhân không biết gì về sự tạo khoảng cách. Người anh em này, vốn là một ngư dân, đã từng đưa ra lời giải thích về việc các môn đồ không bắt được cá sau khi đánh cá suốt đêm (Giăng 21:3). “Lẽ ra họ phải biết rằng chẳng thể mong đợi gì cả. Chúng ta được biết rằng họ có hai con trai của Xê-bê-đê đi cùng. Đây chính là những người mà Chúa Giê-xu gọi là ‘con trai của sấm sét,’ và tất cả ngư dân đều biết rõ rằng khi có sấm sét trong không khí, cá sẽ vùi đầu xuống đáy biển, và không thể nào bắt được.”

Ở một góc độ nào đó, tôi đã từng đề cập đến những vấn đề này dưới một hình thức khác. Trong chương 4, ngụy biện thứ năm được gọi là “sự nhầm lẫn về thế giới quan.” Trọng tâm của tôi khi đó là những khó khăn về mặt logic liên quan đến việc áp đặt kinh nghiệm và quan niệm cá nhân vào văn bản; tuy nhiên, những minh họa tương tự có thể được trình bày lại để làm nổi bật các vấn đề rộng lớn hơn liên quan đến giả định tiên nghiệm. Có những mục khác trong chương này có phần trùng lặp với những nội dung trong chương trước, nhưng tôi sẽ cố gắng hướng sự chú ý đến những hiện tượng có phần khác biệt.

Nếu thật sự lối giải nghĩa mới có thể giúp chúng ta cẩn trọng và tự nhận thức về những giới hạn và định kiến của mình khi tiếp cận Lời Chúa, thì chúng ta sẽ nhận được nhiều lợi ích; nhưng nếu nó lại trở thành cơ sở để tương đối hóa mọi quan điểm về điều mà Kinh Thánh đang dạy, thì điều đó sẽ gây tổn hại. Tôi không biết quyền bính Kinh Thánh có nghĩa là gì, cũng không biết sự đầu phục Chúa Giê-xu Christ là gì, nếu chúng ta không sẵn sàng uốn nắn ý kiến, giá trị và hệ tư duy của mình theo điều Kinh Thánh phán dạy, theo những lời giáo huấn của Chúa Giê-xu. Có thể sẽ có những quan điểm khác nhau về điều mà Kinh Thánh thật sự đang phán dạy — những khác biệt đôi khi có thể được giải quyết qua sự tương tác khiêm nhường và qua thời gian; nhưng giữa vòng Cơ Đốc nhân, không thể có lý do chính đáng nào để lờ đi hoặc né tránh điều mà Kinh Thánh đang dạy, dựa trên lập luận sai lầm rằng chúng ta không thể biết được lẽ thật khách quan (objective truth).

Gần đây, “lối giải nghĩa mới” đã bị thay thế trong nhiều giới học giả bởi “lối giải nghĩa cấp tiến” (radical hermeneutics). Với nền tảng phức tạp từ ngôn ngữ học và chủ nghĩa cấu trúc (structuralism), lối giải nghĩa cấp tiến đã thúc đẩy một loạt phương pháp giải thích (nổi bật nhất là phương pháp giải cấu trúc, deconstruction), dựa trên nhận thức luận hậu hiện đại. Những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại, đôi khi dựa trên lập luận rất tinh vi, bác bỏ nhận thức luận “hiện đại” vốn nhấn mạnh nền tảng và phương pháp hợp lý. Họ cho rằng không có nền tảng vững chắc nào, và mọi phương pháp đều bị ảnh hưởng bởi lý thuyết. Kết quả là không có một “ý nghĩa” rõ ràng và có thẩm quyền trong chính văn bản. Nếu phải dùng từ “ý nghĩa” cho một văn bản, chúng ta nên nói về “những ý nghĩa” của văn bản — tức là những cách hiểu khác nhau mà các cá nhân hoặc cộng đồng giải nghĩa khác nhau sẽ tìm thấy. Thật ra, những ý nghĩa đó không thực sự nằm trong chính văn bản mà là trong những người giải nghĩa văn bản, khi họ tương tác với nó.

Vấn đề này quá phức tạp để có thể trình bày đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, có lẽ một vài nhận xét về những sai lầm trong cách giải nghĩa có thể hữu ích, ngay cả khi tôi không cố gắng chứng minh lập luận của mình một cách chi tiết.

1.1. Ngụy Biện Phát Sinh Từ Việc Bỏ Qua Sự Tạo Khoảng Cách Trong Quá Trình Diễn Giải
#

Một trong những lỗi rõ ràng nhất là việc đưa thần học cá nhân vào lời Kinh Thánh. Chúng ta có thể mỉm cười với câu chuyện về người đánh cá của Bruce; nhưng người Tin Lành cần tự hỏi liệu phân đoạn chứa câu: “Ngươi là Phi-e-rơ …” (Ma-thi-ơ 16:13–20) có bị các nhà giải kinh cố gắng giải nghĩa theo hướng xác định “đá” trong câu này không phải là Phi-e-rơ, mà là lời xưng nhận của ông, đức tin của ông, hoặc chính Chúa Giê-xu, nếu như không có hàng thế kỷ tồn tại những tuyên bố sai lầm của Giáo hoàng dựa trên phân đoạn này hay không.

Những định kiến của chúng ta, được hình thành để phản ứng lại sai lầm từ phía đối lập, thường không dễ dàng bị thay đổi bởi bản văn Kinh Thánh. Vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn khi điều này không chỉ liên quan đến truyền thống của người giải kinh, mà còn đụng đến cả một quan điểm thần học cá nhân mà nhà giải kinh hết sức trân quý - thậm chí đó có thể là một luận điểm thần học đã được họ công bố!

Nhưng nếu đôi khi chúng ta đọc Kinh Thánh với lăng kính thần học riêng, giải pháp không phải là cố gắng giữ thái độ trung lập tuyệt đối, hay biến tâm trí mình thành một tờ giấy trắng để lắng nghe lời Kinh Thánh mà không có định kiến. Điều đó không thể thực hiện được, và là một ngụy biện khi nghĩ rằng có thể làm vậy. Thay vào đó, chúng ta cần nhận thức rõ những định kiến của mình và tìm cách điều chỉnh chúng. Đồng thời, chúng ta cũng nên học hỏi tất cả những gì có thể về thần học lịch sử (historical theology).

Một chủng viện danh tiếng khẳng định rằng phương pháp giải kinh đúng đắn sẽ đảm bảo chất lượng giải nghĩa Kinh Thánh cao đến mức có thể bỏ qua thần học lịch sử. Nhưng tôi không nghĩ có cách nào tốt hơn để làm mảnh đất trở nên màu mỡ cho tà giáo hoặc cho thứ chủ nghĩa truyền thống hời hợt nhất cho bằng việc bỏ qua thần học lịch sử.

Có lẽ một trong những đặc điểm vừa thú vị vừa đáng lo ngại của cuốn sách của Zane C. Hodges (mà tôi đã đề cập trước đó) là theo những gì tôi biết, không có một nhà giải nghĩa Kinh Thánh quan trọng nào trong toàn bộ lịch sử Hội thánh ủng hộ mô hình giải thích của Hodges về những đoạn văn mà ông ấy xử lý. Điều này không có nghĩa là trong lịch sử Hội thánh không có những người giải nghĩa từng xem xét một dạng nào đó của sự cứu rỗi hai bước, hoặc đưa ra sự phân biệt giữa việc chấp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa và chấp nhận Ngài làm Chúa. Nhưng tôi không thấy ai theo đuổi hướng đi này một cách nghiêm ngặt như Hodges, dẫn đến nhiều cách giải kinh hoàn toàn mới mẻ (và tôi e rằng không thuyết phục). Một trong những bài viết ngắn gọn nhưng sâu sắc nhất về các vấn đề liên quan được trình bày bởi John Piper trong cuốn sách The Pleasure of God.

1.2. Những Lối Giải Nghĩa Không Xét Đến Cốt Truyện Tổng Thể Của Kinh Thánh
#

Chính vì nhiều người giải nghĩa Kinh Thánh không tin rằng có một Đức Chúa Trời toàn tri thực sự đứng sau toàn bộ Kinh Thánh, nên họ tự cho phép mình diễn giải các phần Kinh Thánh một cách tự do theo cách cố tình đối lập với những phần khác trong Kinh Thánh. Những định kiến hậu hiện đại đã làm khuynh hướng này trở nên trầm trọng hơn. Do đó, đã có nhiều người lập luận rằng sách Nhã ca là một dạng văn chương khiêu dâm; rằng Gia-cơ và Phao-lô hoàn toàn không thể hòa giải; rằng các sách Phúc Âm không chỉ phản ánh những cộng đồng khác nhau mà còn chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hòa giữa các cộng đồng đó; và còn nhiều điều tương tự khác. Nhiều cuốn sách gần đây có mục tiêu chính là trình bày càng nhiều cách giải nghĩa đối lập nhau càng tốt. Quan điểm duy nhất bị coi là sai lầm là quan điểm cho rằng có quan điểm sai lầm; và tà giáo duy nhất chính là việc cho rằng có tồn tại tà giáo.

Những Cơ Đốc nhân có quan điểm cao (high view) về Kinh Thánh, cam kết với lẽ thật bởi họ phục vụ một Đức Chúa Trời biết rõ tất cả lẽ thật một cách trọn vẹn, và nhận thức rằng dù trong sự hữu hạn và tội lỗi của mình, chúng ta có thể không biết lẽ thật một cách tuyệt đối hay hoàn hảo, nhưng vẫn có thể biết lẽ thật một cách chân thật, sẽ không muốn đi theo những lối rẽ kể trên. Họ sẽ quan tâm đến việc khám phá cách Kinh Thánh kết nối với nhau. Thật vậy, Kinh Thánh được liên kết chặt chẽ, dẫn dắt chúng ta theo một cốt truyện xuyên suốt từ sự sáng tạo và sa ngã, qua những cột mốc quan trọng trong lịch sử cứu chuộc, cho đến sự hoàn tất trong trời mới và đất mới.

1.3. Ngụy Biện Phát Sinh Từ Sự Cố Chấp Phủ Nhận Những Tiền Đề Hiển Nhiên Của Kinh Thánh
#

Đây là một hiện tượng đau lòng nhưng vô cùng phổ biến ngày nay. Người ta lấy chương trình nghị sự xã hội hiện tại làm tiền đề “mặc định”, rồi ép bản văn Kinh Thánh phải phù hợp theo. Những người theo chủ nghĩa hậu hiện đại không thấy có gì sai trái trong cách tiếp cận này; thậm chí, họ còn có khuynh hướng cho rằng đđó là điều tất yếu. Nhưng kết quả của họ thường rất kỳ quặc.

Ví dụ, Castelli lập luận rằng khi một nhân vật có quyền lực như Phao-lô khuyến khích người khác noi theo mình (1 Cô-rinh-tô 11:1), thì đó luôn là một động thái quyền lực nhằm phân chia mọi người thành hai nhóm: người bên trong và người bên ngoài, người tuân thủ và người không tuân thủ. Lời kêu gọi này vốn dĩ là một động thái chính trị nhằm ưu tiên một quan điểm về thực tại và gạt bỏ những người có ý kiến khác biệt. Lời kêu gọi hiệp nhất trở thành cái cớ để biện minh cho sự thống trị. Điều chúng ta nên làm, thay vào đó, là khôi phục giá trị của sự khác biệt.

Tất cả những điều này đều dựa trên giả định rằng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh không tồn tại, hoặc nếu Ngài tồn tại thì Ngài không có ý muốn yêu cầu những người mang hình ảnh của Ngài sống theo một cách nhất định, thay vì theo những cách khác. Sự tự tin thái quá khi đề cao giá trị của “sự khác biệt” vô điều kiện thật đáng kinh ngạc, và cũng vô cùng ngây thơ. Nhưng kiểu giải thích như vậy giờ đây không còn là hiếm nữa.

II. NHỮNG NGỤY BIỆN SAI LỆCH LỊCH SỬ
#

2.1. Tái Dựng Lịch Sử Một Cách Vô Tội Vạ
#

Ngụy biện nằm ở chỗ cho rằng việc tái dựng mang tính suy đoán về lịch sử Do Thái và Cơ Đốc giáo thế kỷ thứ nhất nên được xem là có trọng lượng lớn trong việc giải nghĩa các tài liệu Tân Ước. Một nhóm lớn các học giả Tân Ước đã vạch ra một mạng lưới các xu hướng thần học để giải thích cách Hội thánh thay đổi tư duy theo từng thập kỷ và từng địa phương.

Hội thánh từng có thời kỳ “nhiệt thành” và đầy ân tứ, rồi sau đó ổn định trong giai đoạn “Công giáo sơ khai” với các cơ cấu, hệ thống cấp bậc (hierarchies), công thức và tín điều. Ban đầu, Hội thánh mong đợi sự tái lâm sắp đến của Đấng Christ, nhưng rồi bị buộc phải xây dựng một lý thuyết về sự trì hoãn của sự tái lâm và thích nghi với một hành trình dài hơn. Hội thánh khởi đầu trong bối cảnh Do Thái với việc gọi Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si, nhưng kết thúc trong bối cảnh dân ngoại với việc gọi Ngài là Chúa và quy thần tính cho Ngài.

Có một phần sự thật trong cách tái dựng này, đủ để không thể hoàn toàn bác bỏ nó. Sách Công vụ các Sứ đồ tự nó chứng minh rằng Hội thánh đã phải vật lộn với vấn đề về vị trí của dân ngoại trong cộng đồng Đấng Mê-si mới thành lập, đối diện với sự căng thẳng giữa giao ước Môi-se về luật pháp và Phúc Âm ân điển trong Chúa Giê-xu, và học cách điều chỉnh việc trình bày Tin lành để phù hợp với những bối cảnh mới.

Tuy nhiên, cách tái dựng lịch sử Hội thánh mà nhiều học giả Kinh Thánh nắm giữ lại đi xa hơn, và kết luận rằng, chẳng hạn, những lời đề cập đến các trưởng lão trong sách Công vụ và các thư tín mục vụ chứng tỏ các tài liệu này xuất hiện muộn, bởi vì chức vụ trưởng lão thuộc về thời kỳ “Công giáo sơ khai” của Hội thánh. Hết lần này đến lần khác, các tài liệu Tân Ước bị ép vào khuôn khổ của lịch sử tái dựng này và bị đánh giá theo đó.

Vấn đề là chúng ta hầu như không có thông tin về lịch sử Hội thánh sơ khai trong năm hay sáu thập kỷ đầu tiên, ngoại trừ những tài liệu trong Tân Ước. Một chút suy đoán để tái dựng dòng chảy lịch sử chắc chắn là điều có thể chấp nhận được, nếu chúng ta đang cố gắng lấp đầy những khoảng trống do bằng chứng chưa đầy đủ để lại. Nhưng việc sử dụng những suy đoán này để bác bỏ phần lớn các bằng chứng duy nhất mà chúng ta có là điều không thể bảo vệ về mặt phương pháp luận.

Nếu một học giả cảm thấy rằng một số bằng chứng không đáng tin cậy hoặc gây hiểu lầm, thì các nguyên tắc học thuật hoàn toàn cho phép họ lập luận để loại bỏ những bằng chứng đó. Tuy nhiên, sẽ là một ngụy biện nếu nghĩ rằng những tái dựng mang tính suy đoán có sức mạnh để bác bỏ bằng chứng. Khôn ngoan hơn cả, một học giả phủ nhận một bằng chứng nào đó nên đưa ra lập luận tốt nhất có thể để bảo vệ sự đánh giá của mình, đồng thời thừa nhận rằng mình không thực sự biết điều gì đã xảy ra trong lịch sử. Hoặc họ có thể đưa ra một số suy đoán thận trọng về những gì đã xảy ra, nhưng không nên sử dụng chính suy đoán đó như một lý lẽ để loại bỏ bằng chứng.

Vấn đề này phổ biến đến mức trong nghiên cứu Tân Ước, nhiều sự phân rẽ giữa các học giả bảo thủ và tự do có thể bắt nguồn từ ngụy biện phương pháp luận này. Tôi không thấy khả năng có sự tiến triển đáng kể trừ khi vấn đề này được giải quyết trực tiếp. Tệ hơn nữa, việc tái dựng lịch sử thiếu kiểm soát này thường liên kết với những phương pháp bình luận thể loại (form criticism) mang tính phóng đại hơn, tạo thành một công trình kép đầy sự tùy tiện.

Lấy một ví dụ, trong khi phân tích ẩn dụ mười người nữ đồng trinh (Ma-thi-ơ 25:1–13), Rudolf Bultmann đưa ra một số nhận định sơ bộ rồi bình luận rằng: “Không còn có thể xác định liệu có một hình thức ẩn dụ nguyên thủy làm nền tảng cho câu chuyện này hay không. Nội dung của nó — sự trì hoãn của Parousia — cũng cho thấy đây là một cấu trúc thứ cấp.” Như vậy, Buttmann đã lấy những yếu tố yếu nhất trong phương pháp bình luận thể loại kết hợp với những giả thuyết lịch sử mang tính suy đoán nhất để đưa ra những đánh giá mang tính phê phán hoàn toàn không có bằng chứng thực chất.

2.2. Ngụy Biện Về Quan Hệ Nhân Quả
#

Những ngụy biện về nguyên nhân là những cách giải thích sai lầm về nguyên nhân của các sự kiện. Fischer liệt kê khá nhiều loại, bao gồm:

  • Post hoc, propter hoc – “Quan niệm sai lầm rằng nếu sự kiện B xảy ra sau sự kiện A, thì nó xảy ra vì sự kiện A.”
  • Cum hoc, propter hoc – “Nhầm lẫn giữa mối tương quan và nguyên nhân.”
  • Pro hoc, propter hoc – “Đặt hậu quả trước nguyên nhân.”
  • Ngụy biện giản lược (reductive) – “Biến sự phức tạp thành đơn giản, hoặc sự đa dạng thành đồng nhất trong các giải thích về nguyên nhân.”
  • Ngụy biện lý luận là nguyên nhân – “Nhầm lẫn giữa trật tự nhân quả và trật tự logic, hoặc ngược lại.”
  • Ngụy biện trách nhiệm là nguyên nhân – “Nhầm lẫn giữa vấn đề đạo đức và vấn đề trách nhiệm theo cách làm sai lệch cả hai.”

Không khó để tìm thấy những ví dụ về các ngụy biện này và nhiều ngụy biện khác trong các tác phẩm của các học giả Tân Ước. Nếu Edwin M. Yamauchi và những người khác đúng khi lập luận rằng không có bằng chứng xác đáng về thuyết Ngộ đạo (Gnosticism) hoàn chỉnh trong thời kỳ tiền Cơ Đốc, thì thật khó để không đi đến kết luận rằng rất nhiều mối liên hệ mà các học giả (đặc biệt là những người thuộc trường phái “lịch sử tôn giáo”) đưa ra — những người tin rằng Cơ Đốc giáo là một nhánh của thuyết Ngộ đạo — chỉ đơn thuần là những ví dụ của ngụy biện pro hoc, propter hoc, một trong những dạng ngụy biện nhân quả tệ nhất.

Tất nhiên, một cách diễn giải rộng lượng hơn về quan điểm của họ sẽ chỉ ra rằng những người nắm giữ quan điểm này tin rằng thuyết Ngộ đạo (Gnosticism) thực sự đã tồn tại trước Cơ Đốc giáo, và do đó, những mối liên hệ họ đưa ra không phải là ví dụ của ngụy biện pro hoc, propter hoc. Tuy nhiên, nhiều mối liên hệ như vậy vẫn mắc phải ngụy biện pro hoc, propter hoc cho đến khi chúng được chứng minh một cách nghiêm ngặt.

Một ví dụ về ngụy biện cum hoc, propter hoc thường xuất hiện trong các bài giảng Tin Lành như sau: Phao-lô, trong bài giảng tại A-thên (Công vụ 17:22–31), đã phạm sai lầm khi cố gắng tiếp cận người nghe bằng triết lý thay vì bằng Kinh Thánh. Người ta cho rằng ông đã tự thừa nhận sai lầm này trong thư 1 Cô-rinh-tô, khi ông nói rằng tại Cô-rinh-tô — điểm dừng chân tiếp theo sau A-thên — ông quyết định không biết gì ngoài Chúa Giê-xu Christ và Ngài bị đóng đinh (1 Cô-rinh-tô 2:2).

Cách giải nghĩa này hiểu sai nghiêm trọng bài giảng tại A-rê-ô-ba và mục đích của Lu-ca khi kể lại câu chuyện. Nó cũng liên kết các thông tin từ hai tài liệu riêng biệt và khẳng định một mối liên hệ nhân quả mà không có bằng chứng: vì Phao-lô được cho là đã thất bại thảm hại ở A-thên, nên ông quyết định quay lại phương pháp giảng dạy trước đó. Trên thực tế, có một sự tương quan về mặt địa lý và thời gian (Phao-lô thực sự đã đi từ A-thên đến Cô-rinh-tô), nhưng không có một chút bằng chứng nào về mối quan hệ nhân quả.

2.3. Ngụy Biện Về Động Cơ
#

Một lần nữa, Fischer là người trình bày những điều này một cách rõ ràng nhất. Những ngụy biện về động cơ có thể được xem là một phân nhóm của ngụy biện nhân quả:

“Giải thích về động cơ có thể được hiểu như một dạng đặc biệt của giải thích nhân quả, trong đó hậu quả là một hành động có chủ đích và nguyên nhân là tư tưởng đứng sau nó. Hoặc nó cũng có thể được xem xét theo cách phi nhân quả, như một mô hình của hành vi có quy luật.”

Tôi sẽ không liệt kê một loạt các ngụy biện như vậy. Tất cả chúng đều liên quan đến việc giải thích một diễn biến lịch sử nhất định dựa trên những lựa chọn và sở thích cụ thể. Trong trường hợp tệ nhất, đó là một nỗ lực phân tích tâm lý của một hoặc nhiều người tham gia vào một sự kiện trong quá khứ mà không có quyền tiếp cận trực tiếp với họ — thậm chí, không có gì ngoài những ghi chép rời rạc về sự kiện đó.

Tỷ lệ cao nhất của các ngụy biện về động cơ ngày nay xuất hiện trong một số nghiên cứu bình luận biên tập cực đoan (redaction critical) về Tân Ước. Mỗi sự thay đổi trong biên tập đều phải có một lý do đằng sau nó; vì vậy, một lượng lớn năng lượng sáng tạo được dành để đưa ra những lý do này. Chúng rất khó để bác bỏ; nhưng ngoại trừ những trường hợp mà chính văn bản cung cấp bằng chứng phong phú và rõ ràng, phần lớn chỉ là suy đoán thuần túy.

Chẳng hạn, vì Robert H. Gundry cho rằng các tường thuật về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ phụ thuộc vào sách Lu-ca, ông cảm thấy cần phải giải thích mọi sự thay đổi. Các nhà thông thái gặp Chúa Giê-xu trong một ngôi nhà (Ma-thi-ơ 2:11–12), chứ không phải trong một chuồng gia súc, vì chuồng gia súc “khó có thể là nơi phù hợp để các nhà thông thái đáng kính (mà Gundry không cho là có thật) dâng những món quà đắt giá cho một vị vua.”

Nói cách khác, Gundry đơn giản khẳng định rằng lý do Ma-thi-ơ thay đổi từ “chuồng gia súc” thành “nhà” là để phù hợp với một mô-típ thần học. Dĩ nhiên, Gundry không có cách nào tiếp cận trực tiếp với tư tưởng của Ma-thi-ơ; ông chỉ có văn bản của sách Phúc Âm này. Thế nhưng, ông vẫn sẵn sàng làm sáng tỏ lý do, động cơ của Ma-thi-ơ cho sự thay đổi giả định này, và cho hàng ngàn trường hợp khác, chỉ dựa trên một lý thuyết bình luận biên tập nhất định. Tôi không mấy lạc quan về kết quả này.

2.4. Tâm Lý Ám Ảnh Bởi Sự Tương Đồng Khái Niệm
#

Đây là một đối trọng mang tính khái niệm với tình trạng “cuồng song song ngôn ngữ” (the verbal parallelomania) mà tôi đã đề cập trong chương 1. Moisés Silva liệt kê một số ví dụ từ sách của Edith Hamilton về văn hóa Hy Lạp. Edith Hamilton mô tả bi kịch của Sophocles bằng lời Kinh Thánh: “Này, tôi đến … để làm theo ý muốn của Ngài” (Hê-bơ-rơ 10:7, KJV, trích dẫn Thi thiên 40:6-8, LXX); còn Ê-phê-sô 6:12 (“Vì sự chiến đấu của chúng ta không phải với thịt và huyết,” NIV) trong tay bà trở thành minh họa cho những xung đột nhân sinh gay gắt nhất là những cuộc tranh đấu “vì một phía của lẽ thật để chối bỏ phía còn lại.”

Chứng “cuồng song song khái niệm” đặc biệt hấp dẫn đối với những người đã được đào tạo chuyên sâu trong một lĩnh vực chuyên môn (tâm lý học, xã hội học, một số lĩnh vực lịch sử, triết học, giáo dục), nhưng chỉ có sự hiểu biết Kinh Thánh ở mức độ lớp học Trường Chúa Nhật nghiêm túc. Nhiều chuyên gia rơi vào những ngụy biện này là những tín hữu sùng đạo, mong muốn liên hệ Kinh Thánh với lĩnh vực chuyên môn của họ. Họ nghĩ rằng mình nắm vững Kinh Thánh hơn thực tế, và kết quả của họ thường là những điều phi lý đáng kinh ngạc.


NGỤY BIỆN GIẢI KINH