Skip to main content

Chương 03: Những Ngụy Biện Về Mặt Ngữ Pháp

·10385 words·49 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Người ta có thể mong đợi rằng có một loạt bài về những sai sót trong giải nghĩa Kinh Thánh mà trong đó bao gồm nhiều ví dụ hơn, và có sự đa dạng lớn hơn về các ví dụ lấy từ lĩnh vực ngữ pháp hơn là từ việc nghiên cứu từ ngữ. Rốt lại thì trong các đơn vị cú pháp phức tạp sẽ có nhiều biến số hơn so với từng từ đơn lẻ, và do đó cũng có nhiều khả năng xảy ra sai sót hơn. Điều này giống như so sánh một chiếc xe hơi Chevy đơn giản với một tàu con thoi: nếu giả định cả hai đều được chế tạo với mức độ tay nghề tương đương, tàu con thoi sẽ gặp trục trặc và cần bảo trì nhiều hơn so với chiếc xe hơi Chevy. Tôi đã nghĩ đến việc phát triển một hệ quả của Định luật Murphy, theo đó trong bất kỳ hệ thống nào, định luật này sẽ thắng thế theo tỷ lệ thuận với số lượng thành phần trong hệ thống hoặc theo tỷ lệ lũy thừa với số lượng thành phần trong hệ thống.

Tuy nhiên, tôi giữ chương này ngắn gọn hơn chương trước; và nhìn chung, các ví dụ tôi đưa ra sẽ khá đơn giản. Có một số lý do cho quyết định này.

  • Trước hết, nghiên cứu từ ngữ thường xuất hiện nhiều ngụy biện vì phần lớn các mục sư được đào tạo trong chủng viện có đủ công cụ để tạo ra các ngụy biện về từ ngữ, nhưng lại không có đủ công cụ để dẫn đến việc mắc phải một số lỗi ngữ pháp nhất định. Có rất nhiều sinh viên đã tra cứu mọi trường hợp của từ ἐκκλησία (ekklēsia) trong Tân Ước và rút ra một số kết luận đáng ngờ; nhưng có bao nhiêu người đã tra cứu mọi trường hợp của “genitive absolute” trong Tân Ước, tiến hành một nghiên cứu quy nạp, và cũng đưa ra những kết luận đáng ngờ? Cho đến rất gần đây, một danh sách như vậy chỉ có thể được tổng hợp bằng cách đọc xuyên suốt Tân Ước tiếng Hy Lạp và ghi lại từng trường hợp; do đó, có hàng trăm cấu trúc ngữ pháp phổ biến chưa từng được phân tích quy nạp giống như cách các từ ngữ đã được nghiên cứu.

  • Thứ hai, phân tích ngữ pháp không được ưa chuộng trong vài thập kỷ gần đây của ngành nghiên cứu Kinh Thánh. Thời gian và công sức đã được dành nhiều hơn cho ngữ nghĩa học từ vựng hơn là ngữ pháp. Hậu quả cho ra là một võ đoán phổ biến rằng nhiều vấn đề ngữ pháp đã có câu trả lời được xác định, trong khi thực tế không phải vậy.

  • Thứ ba, một số ngụy biện về ngữ pháp đặt ra những câu hỏi phức tạp đến mức chúng cần được xử lý trong các chuyên luận riêng biệt trước khi được giới thiệu ở cấp độ phổ biến hơn. Tôi sẽ sớm đề cập đến một hoặc hai vấn đề trong số này.

I. TÍNH LINH HOẠT CỦA TIẾNG HY LẠP TÂN ƯỚC
#

Trước khi chúng ta bắt đầu khảo sát một số ngụy biện ngữ pháp cơ bản, điều quan trọng cần nhớ là nguyên lý entropy (nguyên lý về độ hỗn loạn) cũng hoạt động trong các ngôn ngữ sống, giống như trong vật lý. Ngôn ngữ theo thời gian sẽ “suy thoái”: cú pháp trở nên ít cấu trúc hơn, số lượng ngoại lệ tăng lên, hình thái được đơn giản hóa, v.v. Ý nghĩa thực tiễn của điều này là việc ngữ pháp tương đối có cấu trúc chặt chẽ hơn của thời kỳ Hy Lạp cổ điển không thể được áp dụng một cách toàn diện cho Tân Ước Hy Lạp.

Những phát hiện lớn về giấy cói đã giúp các học giả Tân Ước nhận ra sự thật này, nhưng chỉ được phổ biến rộng rãi vào cuối thế kỷ thứ 19. Điều đó có nghĩa là các bài bình luận học thuật về văn bản Hy Lạp của Tân Ước được viết trước thời điểm đó thường không đáng tin cậy về nhiều điểm ngữ pháp. Chẳng hạn, J. Armitage Robinson, trong bài bình luận nổi tiếng của ông về thư Ê-phê-sô, đã cố gắng áp dụng các cấu trúc cổ điển vào cách dùng từ πᾶς (pas - tất cả, mọi, toàn bộ) trong thư này, và do đó đưa ra nhiều kết luận sai lầm mà chúng ta có thể chứng minh được sự sai trật của chúng.

Những sự phân tách trong tiếng Hy Lạp cổ điển có thể được quan sát thấy thường xuyên hơn một chút so với trong tiếng Hy Lạp Hellenistic; nhưng ngay cả như vậy, các nhà ngữ pháp được đào tạo theo trường phái cổ điển vẫn cần được định hướng lại để hiểu đúng tiếng Hy Lạp Hellenistic, nếu họ muốn tránh mắc phải những sai lầm nhất định khi đọc Tân Ước.

II. CÁC NGỤY BIỆN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THÌ (Tense) VÀ LỐI (Mood) TRONG NGỮ PHÁP
#

Hiện tại, chúng ta chưa có bằng chứng ngữ pháp rõ ràng để có thể khẳng định rằng “thì” là một cách diễn đạt chính xác khi nói về “các thì trong tiếng Hy Lạp.” Từ “thì” thường gợi lên khái niệm về thời gian: thì hiện tại, thì tương lai, v.v. Nhưng giả sử một dạng động từ có hình thái thuộc “thì hiện tại” nhưng thực tế lại không chỉ thời gian hiện tại mà là thời gian quá khứ, vậy chúng ta có nên gọi trường hợp này là “thì hiện tại quá khứ” không? Khả năng gây nhầm lẫn là vô tận. Để giúp làm rõ cuộc thảo luận sắp tới, tôi sẽ chỉ dùng thuật ngữ “thì” để chỉ hình thái của động từ, mà không hàm ý gì liên quan đến thời gian.

Phần lớn các sinh viên nghiên cứu ngữ pháp Hy Lạp ngày nay cho rằng các thì trong tiếng Hy Lạp có liên quan đến thời gian khi ở thể chỉ định (indicative) và phản ánh Aktionsart (“loại hành động”) khi ở ngoài thể chỉ định. Tôi không bị thuyết phục rằng điều này là đúng. Ngày càng có nhiều nhà ngữ pháp Hy Lạp lập luận rằng lực tác động ngữ nghĩa cơ bản của thì trong tiếng Hy Lạp là “aspect” (thể thái): nó phản ánh sự lựa chọn của tác giả về cách trình bày và mô tả một loại hành động.

Thời gian của hành động không được truyền tải bởi “thì” trong tiếng Hy Lạp (điều mà hầu hết các học giả đều đồng ý là đúng khi ở ngoài thể chỉ định - indicative), cũng không phải là loại hành động đã diễn ra, mà là cách tác giả hình dung về hành động đó. Ví dụ, một tác giả có thể xem một hành động cụ thể là một hành động “hoàn tất,” ngay cả khi nó kéo dài rất lâu, và chọn sử dụng thì aorist.

Với những sự phân biệt này trong tâm trí, việc xem xét một số cuộc thảo luận gần đây về các “thì” cụ thể là điều đáng làm (hãy nhớ rằng, ở đây tôi muốn nói đến “dạng thì”). Tôi sẽ bắt đầu với các phân loại “chuẩn” thường được sử dụng trong ngữ pháp Hy Lạp, chỉ ra những khó khăn và ngụy biện, rồi tiến đến cách tiếp cận theo thể thái (aspect).

1.1. Thì Aorist
#

Hơn hai thập kỷ trước, Frank Stagg đã viết một bài báo về “Thì Aorist Bị Lạm Dụng”. Theo ông, vấn đề nằm ở chỗ các học giả có chuyên môn đã suy luận từ sự xuất hiện của một động từ ở thì aorist rằng hành động đó là “một lần đủ cả” hoặc “đã hoàn tất”. Vấn đề này một phần phát sinh vì thì aorist thường được mô tả là thì điểm (punctiliar tense).

Dĩ nhiên, các nhà ngữ pháp cẩn trọng, khi làm việc trong các phân loại truyền thống, hiểu và giải thích rằng điều này không có nghĩa là thì aorist chỉ có thể được dùng cho các hành động mang tính điểm. Thực ra, thì aorist đã được đặt tên rất chính xác: a-orist, tức là không có vị trí xác định, không được định nghĩa rõ ràng. Nó chỉ đơn thuần đề cập đến hành động mà không xác định liệu hành động đó là duy nhất, lặp lại, khởi đầu, tức thời, thuộc về quá khứ, hay đã hoàn tất.

Các nhà ngữ pháp giỏi nhất hiểu điều này rất rõ và sử dụng thuật ngữ punctiliar (punctum = point, điểm) theo cách mà một nhà toán học dùng thuật ngữ điểm trong hình học — để chỉ một vị trí không có độ lớn. Nhưng cũng giống như khái niệm toán học không phải lúc nào cũng dễ hiểu, thì khái niệm hành động điểm (punctiliar action) cũng đã trở thành một chướng ngại đối với nhiều nhà giải nghĩa.

Stagg đã đưa ra nhiều ví dụ về cách mà các nhà ngữ pháp và các nhà bình luận khẳng định, chẳng hạn như:

  • Cụm từ “mọi người đều đã phạm tội” (ἥμαρτον (hēmarton)) trong Rô-ma 5:12 phải chỉ về một hành động một lần đủ cả, có lẽ là khi A-đam phạm tội.
  • Việc dâng thân thể trong Rô-ma 12:1 là một cam kết một lần đủ cả.
  • Sự ăn năn được đề cập trong Khải Huyền 3:19 phải là một hành động một lần đủ cả, vì động từ được dùng là μετανόησον (metanoēson).
  • Thì aorist của ἐτύθη (etuthē) trong 1 Cô-rinh-tô 5:7 (“vì Chúa Giê-xu, Chiên Con lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết tế lễ”) có nghĩa là sự chết của Chúa Giê-xu là một sự kiện đã hoàn tất, một lần đủ cả.

Và nếu các nhà ngữ pháp và các nhà bình luận đưa ra những kết luận như vậy, thì ai có thể trách một mục sư bận rộn vì đã dựa vào thì aorist để xây dựng nền tảng thần học?

Stagg cũng đã đưa ra nhiều ví dụ phản biện, một số trong đó tôi xin trích lại:

  • “Vậy, hỡi những người yêu dấu của tôi, như anh em đã luôn vâng lời” (ὑπηκούσατε (hypekousate), Phi-líp 2:12) — rõ ràng không phải là một hành động một lần đủ cả hay mang tính điểm theo thời gian.
  • “Nhưng khi nào anh em cầu nguyện, hãy vào (ἔισελθε (eiselthe)) phòng riêng” (Ma-thi-ơ 6:6) — một lần nữa, sự lặp lại được ngầm hiểu.
  • “Điều anh em đã nghe (ἠκούσατε (ēkousate)) từ ban đầu” (1 Giăng 2:24) — rõ ràng là một sự kéo dài theo thời gian.
  • “Năm lần tôi đã nhận (ἔλαβον (elabon)) ba mươi chín roi” (2 Cô-rinh-tô 11:24).
  • “Họ đã sống (ἔζησαν (edzēsan)) và trị vì (ἐβασίλευσαν (ebasileusan)) một ngàn năm” (Khải Huyền 20:4).
  • “Tất cả những người này đã chết (ἀπέθανον (apethanon)) trong đức tin” (Hê-bơ-rơ 11:13) — nhưng rõ ràng không phải tất cả cùng một lúc!
  • “Những vi phạm và tội lỗi mà anh em đã từng bước đi (περιεπατήσατε (periepatēsate)) khi anh em theo đường lối của thế gian” (Ê-phê-sô 2:1–2).
  • “Hãy giữ mình (φυλάξατε (phylaxate)) khỏi các thần tượng” (1 Giăng 5:21)—rõ ràng không có nghĩa là nếu chúng ta đã giữ mình một lần, thì nguy hiểm đã qua.
  • “Hầu cho Ngài bày tỏ (ἐνδείξηται (endeixētai)) trong các đời sau sự giàu có vô song của ân điển Ngài” (Ê-phê-sô 2:7) — rõ ràng không có nghĩa là Đức Chúa Trời chỉ bày tỏ ân điển của Ngài một lần trong cõi đời đời rồi kết thúc.

Ngay cả trong thể chỉ định (indicative), nơi mà thì aorist thường chỉ về một hành động trong quá khứ, thì tính quá khứ của thời gian không phải lúc nào cũng có thể được xác định chắc chắn:

  • “Ngươi là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng” (εὐδόξησα (eudoxēsa), Mác 1:11).
  • “Cỏ khô hoa rụng” (ἐξηράνθη (exēranthē), 1 Phi-e-rơ 1:24).

Stagg nhận ra rằng sự xuất hiện của một động từ ở thì aorist không có nghĩa là hành động đó không phải là một lần đủ cả, không thuộc về quá khứ, hay không mang tính điểm theo thời gian.

Khi chúng ta đọc rằng Sa-phi-ra ngã xuống (ἔπεσεν (epesen)) dưới chân Phi-e-rơ, bối cảnh làm rõ rằng sự ngã của bà là một hành động tức thời nhất có thể. Tương tự, có thể có những lý do theo bối cảnh để nghĩ rằng tất cả mọi người thực sự đã chết khi A-đam phạm tội đầu tiên trong lịch sử nhân loại (xem Rô-ma 5:12); nhưng động từ aorist ἥμαρτον (hēmarton) không chứng minh điều đó.

Không một tín hữu nào nghi ngờ rằng Chúa Giê-xu, là con sinh lễ Vượt qua, đã bị giết chỉ một lần (1 Cô-rinh-tô 5:7), vì rốt cuộc có những phân đoạn Kinh Thánh khẳng định điều này một cách rõ ràng (ví dụ, Hê-bơ-rơ 10:12); nhưng kết luận thần học này, dù quan trọng đến đâu, không thể được chứng minh một cách chắc chắn vì chỉ dựa vào sự xuất hiện của một động từ ở thì aorist.

Stagg không phải là người duy nhất cảnh báo về việc lạm dụng thì aorist; tuy nhiên, người ta vẫn thấy không chỉ các mục sư mà cả những học giả có chuyên môn cũng mắc sai lầm khi đặt quá nhiều trọng tâm vào thì aorist.

Chẳng hạn, trong bài bình luận rất xuất sắc về Thư Hê-bơ-rơ của Philip Edgcumbe Hughes, ông viết về những câu mở đầu: “Thì aorist, được dùng cả khi Đức Chúa Trời phán qua các tiên tri (λαλήσας (lalēsas)) và khi Ngài phán qua Chúa Giê-xu (ἐλάλησεν (elalēsen)), cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã phán xong trong cả hai trường hợp.” Kết luận này, có thể nói, là đúng về mặt thần học; nhưng nó không được chứng minh bởi lập luận này.

Bình luận về Hê-bơ-rơ 1:4, liên quan đến việc Con Trời “trở nên” cao trọng hơn các thiên sứ, Hughes viết: “Phân từ aorist γενόμενος [genomenos], ‘đã trở nên,’ theo như Spicq chỉ ra, đề cập đến ‘một sự kiện có niên đại trong lịch sử.’”

Một ví dụ cuối cùng đến từ một bài báo gần đây, trong đó Heikki Räisänen, khi bình luận về Rô-ma 3:27 (“Vậy, sự khoe khoang ở đâu? Nó đã bị loại bỏ”; NIV), viết: “Dù thế nào đi nữa, thì aorist (ἐξεκλείσθη (exekleisthē)) chắc chắn có nghĩa rằng sự loại bỏ này là một hành động một lần đủ cả.”

Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể bị rơi vào nguy hiểm bằng cách đi quá xa với kiểu bình luận này — một điểm được minh họa rõ ràng trong một bài báo gần đây của Charles R. Smith. Smith chú ý đến công trình của Stagg; và không chỉ lập luận rằng Stagg đã bị các học giả khác bỏ qua, mà ông còn muốn đi xa hơn Stagg bằng cách khẳng định rằng, từ các bằng chứng đã được tìm thấy, chúng đòi hỏi chúng ta phải loại bỏ vĩnh viễn tất cả các nhãn như aorist toàn cầu, aorist tổng quát, aorist khởi đầu, và những thuật ngữ tương tự.

“Aorist là aorist,” ông nhấn mạnh, “không hơn không kém; nó là thì được sử dụng khi một tác giả không muốn dùng một thì khác có lực xác định mạnh hơn.”

Nhưng cách tiếp cận này về mặt ngôn ngữ là khá ngây thơ. Hãy tạm thời giữ nguyên các phân loại truyền thống để hiểu động từ Hy Lạp. Chúng ta không thể không nhận thấy rằng Smith đi đến kết luận của mình bằng cách liệt kê các ví dụ phản chứng trong Kinh Thánh đối với từng loại aorist được các sách ngữ pháp đề cập; nhưng tất cả những ví dụ phản chứng đó chỉ chứng minh rằng không phải mọi động từ aorist đều được sử dụng theo cách đó, chứ không chứng minh rằng không có động từ aorist nào được sử dụng theo cách đó.

Nói cách khác, sự đa dạng của các mô hình mà Stagg và những người khác đã chỉ ra ngăn cản chúng ta lập luận rằng một hành động phải thuộc một loại hành động cụ thể chỉ vì nó được diễn đạt bằng thì aorist.

Nếu vẫn giữ nguyên các phân loại truyền thống, hãy xem xét thì hiện tại trong tiếng Hy Lạp: nó có thể được dùng để mô tả hành động kéo dài, hành động quá khứ, hành động lặp lại, hành động tương lai, và nhiều cách khác; nhưng về mặt hình thái, nó vẫn chỉ là thì hiện tại, không hơn không kém.

Điều làm cho thì hiện tại có sắc thái ý nghĩa cụ thể là tập hợp các mối quan hệ mà nó có với ngữ cảnh. Cũng giống như ý nghĩa của một từ trong bất kỳ ngữ cảnh nào được xác định một phần bởi tập hợp các mối quan hệ mà từ đó có với ngữ cảnh, thì ý nghĩa của một thì trong bất kỳ ngữ cảnh nào cũng được xác định một phần bởi tập hợp các mối quan hệ mà thì đó có với ngữ cảnh.

Một từ không phải là một thực thể hoàn toàn linh hoạt, mà nó mang theo một phạm vi ngữ nghĩa rộng trước khi được định hình bởi ngữ cảnh; và ngoài phạm vi đó, ý nghĩa của từ chỉ hiếm khi thay đổi (chẳng hạn khi một từ có thêm nghĩa mới). Tương tự, một thì không phải là một thực thể hoàn toàn linh hoạt, mà nó mang theo một phạm vi ngữ nghĩa rộng trước khi được định hình bởi ngữ cảnh; và ngoài phạm vi đó, ý nghĩa của thì chỉ hiếm khi thay đổi.

Chính vì thì aorist có tính linh hoạt hơn so với các thì khác mà nó có thể diễn tả nhiều loại hành động khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Hình thái ngữ nghĩa của nó ít được xác định rõ ràng hơn so với các thì khác. Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn giữ cách phân loại truyền thống, thì việc gọi một động từ aorist trong Hê-bơ-rơ 11:13 (“tất cả những người này đã chết”) là aorist tường thuật vẫn phù hợp, bởi vì chính ngữ cảnh tương tác với động từ aorist đòi hỏi người giải thích phải hiểu hành động theo nghĩa tường thuật. Việc cho rằng tên gọi này của thì aorist (“thì aorist tường thuật”) là không thích hợp chỉ vì sự cụ thể của hành động không đến từ chính động từ aorist mà chỉ đến từ ngữ cảnh là một sự hiểu lầm căn bản về cách ngôn ngữ hoạt động: ngữ cảnh tự nó không thể xác định rõ tính tường thuật của hành động mà không xét đến sự tác động ngữ nghĩa của nó lên động từ aorist.

Do đó, việc nói về một động từ aorist tường thuật cũng hợp lý như khi ta đề cập đến một thì hiện tại có ý nghĩa tương lai hoặc cách sử dụng ẩn dụ của danh từ “pits” trong câu “this house is the pits” (“căn nhà này thật tồi tệ”). Danh từ “pits” không thể tự nó gợi lên nghĩa của sự tồi tệ, và cụm từ “căn nhà này thật” cũng không tự nó biểu thị sự ghê tởm. Nhưng khi kết hợp lại, ngữ cảnh và danh từ tương tác với nhau để truyền đạt một ý nghĩa rõ ràng đối với những ai quen thuộc với ẩn dụ.

Tương tự, động từ ἀπέθανον (apethanon, đã chết) không phải là một aorist tường thuật, và cụm từ “tất cả những người này” tự nó cũng không nói lên tính tường thuật. Nhưng “tất cả những người này ἀπέθανον (đã chết)” trong bối cảnh Hê-bơ-rơ 11, nơi rõ ràng rằng dù những cái chết này diễn ra trong một khoảng thời gian dài nhưng chúng lại được gộp chung một cách tổng quát, là một câu mà trong đó việc gọi ἀπέθανον (đã chết) là một ví dụ của aorist tường thuật là hoàn toàn hợp lý.

Điều cần nhớ là tên gọi “aorist tường thuật” không nhằm mục đích chỉ ra thông tin về hình thái hay ngữ nghĩa chỉ có trên động từ aorist, mà là thông tin ngữ nghĩa được định hình bởi động từ aorist trong mối quan hệ với toàn bộ ngữ cảnh cụ thể. Điểm chính yếu trong sự phản biện của Smith là thì aorist, xét theo bản chất của nó, không thể tự mang những giá trị như khởi đầu, gnomic hay những ý nghĩa khác: điều này trở nên rõ ràng ngay khi chúng ta viết một dạng aorist của bất kỳ động từ Hy Lạp nào xuống và hỏi nó thuộc loại aorist nào. Câu hỏi như thế này thường không có nghĩa, cho đến khi chúng ta đặt nó vào một ngữ cảnh rộng hơn. Ngược lại, những sự phân biệt hữu ích có thể được đưa ra từ ngữ cảnh này sang ngữ cảnh khác, với điều kiện một nhà ngữ pháp học nhận thức rằng — và rất ít người làm được điều này — những sự phân biệt đó được thúc đẩy bởi sự tương tác giữa dạng aorist và ngữ cảnh xung quanh.

Về mặt ngôn ngữ, điều này có nghĩa là chúng ta cần phân biệt giữa “ngữ nghĩa” (semantics, ý nghĩa) của hình thái từ vựng (morphological form) và “ngữ dụng học” (pragmatics, cách từ ngữ tương tác với ngữ cảnh). Từ những thảo luận trước, rõ ràng rằng việc không thực hiện sự phân biệt này sẽ dẫn đến hai ngụy biện khác nhau. Ngụy biện phổ biến hơn cho rằng thì aorist luôn mang một ý nghĩa rất cụ thể (thường có thể xác định như là một trong các cách sử dụng “ngữ dụng học” của nó). Nhưng chúng ta đã thấy các bằng chứng rõ ràng bác bỏ quan điểm này.

Ngụy biện thứ hai cho rằng thì aorist, ngay cả trong các ngữ cảnh đa dạng, không thể — khi tương tác với ngữ cảnh — mang bất kỳ trọng lượng ngữ nghĩa nào vượt ra ngoài giá trị ngữ nghĩa mặc định của nó. Điều này có nghĩa là người giải thích không nên nói rằng: “Bởi vì đây là một aorist bắt đầu (ingressive aorist), nên nó có nghĩa là …”, vì điều này không có cơ sở. Nhưng nếu ngữ cảnh phù hợp, thì một tuyên bố chẳng hạn như: “Ngữ cảnh cho thấy đây là một aorist bắt đầu, tức là động từ nên được dịch là …” có thể hoàn toàn hợp lý.

Không có điều nào trong đây trả lời trực tiếp câu hỏi về ý nghĩa của một thì khi nó bị tách khỏi ngữ cảnh — ví dụ, ý nghĩa ngữ nghĩa của thì aorist là gì? Ngày càng có nhiều nhà ngữ pháp học được đào tạo về ngôn ngữ học lập luận rằng thì aorist mang ý nghĩa như sau:

Thì aorist “ngữ pháp hóa” (tức là nó đưa vào hình thái ngữ pháp) cách tác giả hoặc người nói hình dung một sự kiện như một sự kiện trọn vẹn (a complete event).

Tôi biết điều này nghe có vẻ phức tạp. Nhưng mục đích của định nghĩa này là làm rõ rằng không có mối liên hệ trực tiếp một–đối–một giữa hình thái thì Hy Lạp và thời điểm xảy ra hành động, hoặc giữa hình thái thì Hy Lạp và loại hành động (như thể một loại hành động cụ thể nhất định phải dùng một thì nhất định), mà giữa hình thái thì Hy Lạp và lựa chọn của tác giả về cách nhìn nhận hành động đó.

Những yếu tố mang tính thời gian được đưa vào bởi các thành phần khác trong câu hoặc trong bài diễn đạt (giống như trong tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Trung Quốc và nhiều ngôn ngữ khác). Tôi dự đoán rằng trong vài thập kỷ tới, các tiêu chí phân tích ngôn ngữ học, đặc biệt là các tiêu chí của lý thuyết về thể động từ (aspect theory), sẽ dần được đưa vào các sách ngữ pháp và các chú giải tiêu chuẩn về Tân Ước Hy Lạp.

1.2. Thể Giả Định Thì Aorist Ở Ngôi Thứ Nhất (The First Person Aorist Subjunctive)
#

Tôi muốn sử dụng mục này như một trường hợp mẫu — đó là, một ví dụ về những câu hỏi mà nghiên cứu ngữ pháp sâu hơn có thể làm sáng tỏ.

Sử dụng các công cụ máy tính của GRAMCORD, một sinh viên của tôi, Paul Barger, đã truy xuất tất cả các trường hợp của thì aorist giả định ngôi thứ nhất trong Tân Ước Hy Lạp. Anh ấy bắt đầu bằng cách chia chúng thành hai nhóm: số ít và số nhiều. Sau đó, anh ấy cố gắng phân tích kết quả, kiểm tra phát hiện của mình đối chiếu với các sách ngữ pháp và chú giải tiêu chuẩn. Kết quả nghiên cứu của anh ấy không phải là điều chúng ta quan tâm ở đây, vì mục đích của tôi là vạch trần những ngụy biện, chứ không phải thiết lập các quy tắc ngữ pháp mới. Tuy nhiên, nghiên cứu về đơn vị ngữ pháp này nhanh chóng cho thấy còn rất nhiều công việc cần được thực hiện đối với nhiều điểm có ý nghĩa giải kinh.

Chúng ta bắt đầu bằng cách đặt câu hỏi: Thì giả định có tính chất cân nhắc là gì (deliberate subjunctive)? Khi nào thì giả định này được sử dụng? Câu trả lời phổ biến là thì giả định có tính chất cân nhắc là cách sử dụng của thì giả định ở ngôi thứ nhất (số ít hoặc số nhiều) trong câu nghi vấn, nhằm xử lý những điều cần thiết, những mong muốn, những khả thi hoặc những nghi ngờ. Nó phát sinh từ nhu cầu đưa ra quyết định về hướng hành động thích hợp; đôi khi câu hỏi mang tính tu từ, nhưng đôi khi cũng mong đợi một câu trả lời.

Điều tôi muốn chỉ ra ở đây không hẳn là một ngụy biện, trừ khi chúng ta có thể xem những tên gọi ngữ pháp thiếu sót — đến mức che giấu nhiều hơn là làm sáng tỏ — là một dạng ngụy biện. Định nghĩa phổ biến về thì giả định có tính chất cân nhắc (với nhiều biến thể khác nhau) thực ra bao gồm ba loại riêng biệt.

  • Loại cân nhắc thực sự, giống như thì giả định khích lệ, mang tính nội bộ — tức là chủ ngữ ở ngôi thứ nhất của động từ đặt ra câu hỏi mà chính họ phải tự trả lời. Người chủ vườn nho tự hỏi: “Ta phải làm gì?” (Lu-ca 20:13); và kết quả của sự cân nhắc là quyết định của chính ông, được thể hiện qua sự quyết tâm sai con mình đi. Trong Tân Ước chỉ có bảy ví dụ về dạng thì giả định có tính chất cân nhắc thực sự này.

  • Hai loại thứ hai và thứ ba đều là những dạng cân nhắc giả. Chủ ngữ ngôi thứ nhất của thì giả định không tự hỏi chính mình — nếu làm vậy, nó sẽ là một thì giả định có tính chất cân nhắc thực sự — mà thay vào đó, họ đặt câu hỏi cho người khác để tìm kiếm một câu trả lời trực tiếp (thì giả định cân nhắc giả dạng câu hỏi trực tiếp), hoặc chỉ đơn thuần sử dụng câu hỏi như một cách để dẫn vào một tuyên bố, mà không có ý định cân nhắc hay tìm kiếm câu trả lời từ bên ngoài (thì giả định cân nhắc giả mang tính tu từ).

“Chúng ta có nên nộp thuế hay không?” Những người Pha-ri-si và Hê-rốt hỏi Chúa Giê-xu (Mác 12:14). Hình thức này là “cân nhắc” theo nghĩa rộng nhất: nó là một câu hỏi ở thì giả định ngôi thứ nhất (δῶμεν ἢ μὴ δῶμεν (dōmen ē mē dommen). Nhưng tất nhiên, đây không phải là một dạng cân nhắc thực sự, vì mục đích của câu hỏi là ép Chúa Giê-xu phải đưa ra một tuyên bố. Đây là một thì giả định cân nhắc giả dạng câu hỏi trực tiếp.

Một trường hợp tương tự có thể thấy trong Mác 6:24, khi Sa-lô-mê hỏi: τί αἰτήσωμαὶ (ti aitēsommai, “Ta nên xin điều gì?”). Thì giả định, chứ không phải thì trình bày, được sử dụng vì trong tâm trí cô có sự không chắc chắn, một sự “cân nhắc” về câu trả lời nên là gì. Tuy nhiên, ví dụ này vẫn có thể phân biệt với dạng cân nhắc thực sự, vì chủ ngữ rõ ràng mong đợi một bên khác — trong trường hợp này là mẹ cô, Hê-rô-đia — sẽ cung cấp câu trả lời cho cô.

Tương tự, khi Phao-lô trong Rô-ma 6:15 hỏi: ἁμαρτήσωμεν ὅτι οὐκ ἐσμὲν ὑπὸ νόμον (hamartēsommen hoti ouk esmen hypo nomon, “Chúng ta có nên phạm tội vì chúng ta không ở dưới luật pháp…?”, NIV), thì giả định được giữ lại vì câu hỏi về mặt hình thức là mở — đó là, nó mang tính cân nhắc. Nhưng đây chắc chắn không phải là một dạng cân nhắc thực sự, vì Phao-lô không đặt câu hỏi như một sự phản ánh sự không chắc chắn của mình hay một sự cân nhắc sâu sắc. Đây cũng không phải là một câu hỏi trực tiếp mang tính cân nhắc giả, vì ông không hỏi các tín hữu tại Rô-ma để lấy ý kiến của họ. Thay vào đó, ông sử dụng một biện pháp tu từ để lôi kéo độc giả vào lập luận của mình, một cách để ông dẫn đến câu trả lời mạnh mẽ: μὴ γένοιτο (mē genoito, “Không đời nào!”, NIV). Nói cách khác, đây là một dạng giả định cân nhắc giả mang tính tu từ.

Quan điểm của tôi có bốn điểm chính: vẫn còn nhiều lĩnh vực ngữ pháp cần được khám phá, kết quả có thể hữu ích trong việc giải kinh, cần có sự phân biệt hệ thống giữa ngữ nghĩa (semantics, của hình thái từ vựng) và ngữ dụng học (pragmatics, của ngữ cảnh), và trong khi đó, không ít danh mục ngữ pháp lại che giấu nhiều hơn là làm sáng tỏ.

1.3. Thể Tự Động (The Middle Voice)
#

Lỗi lầm phổ biến nhất liên quan đến thể tự động trong tiếng Hy Lạp là giả định rằng hầu như ở mọi nơi nó xuất hiện, nó đều có nghĩa phản thân (reflexive) hoặc ngụ ý rằng chủ ngữ của câu hành động một cách tự phát. Dĩ nhiên, các nhà ngữ pháp có chuyên môn không ngây thơ như vậy; tuy nhiên, sai lầm này đã len lỏi vào nhiều sách vở và thường được sử dụng để củng cố một giáo lý được ưa chuộng.

Đặc biệt, một số tác giả đã tranh luận mạnh mẽ rằng động từ ở thể tự động παύσονται (pausontai) trong 1 Cô-rinh-tô 13:8 có ý nghĩa giải kinh rất quan trọng. Những lời tiên tri sẽ bị hủy bỏ (καταργηθήσονται (katargēthēsontai)), sự hiểu biết sẽ bị hủy bỏ (καταργηθήσεται (katargēthēsetai)); nhưng các thứ tiếng lạ sẽ chấm dứt (παύσονται (pausontai)) — tức là, không cần phải có một tác nhân nào đó khiến cho các thứ tiếng chấm dứt (thụ động), vì thể tự động (theo lập luận) cho thấy rằng chúng sẽ tự chấm dứt, do bản chất nội tại của chính chúng. Cách giải thích về thể tự động này đôi khi được liên kết với quan điểm rằng các thứ tiếng lạ đóng vai trò hữu ích trong Hội Thánh cho đến khi Kinh Thánh được hoàn tất (một số người hiểu τὸ τέλειον (to teleion, “điều trọn vẹn”) trong câu 10 là ám chỉ Kinh Thánh); nhưng từ thời điểm đó trở đi, chúng trở nên lỗi thời và tự chấm dứt. Kết luận được đưa ra là ngày nay không còn ân tứ nói tiếng lạ có giá trị nữa.

Dù cách giải thích về 1 Cô-rinh-tô 13:8–10 có giá trị đến đâu (mà thực ra là rất ít), thì rõ ràng việc đặt quá nhiều trọng tâm vào động từ thể tự động παύσονται (pausontai) là một sai lầm. Trước hết, thể tự động có nhiều sắc thái ý nghĩa khác nhau. Đôi khi, nó là một động từ khuyết (ví dụ: ἔρχονται (erchontai)); đôi khi, nó được dùng để chỉ hành động phản thân, tức là chủ ngữ tác động lên chính mình (ví dụ: Ma-thi-ơ 26:46; 27:5 — mặc dù cách dùng này hiếm trong Tân Ước). Đôi khi, thể tự động được sử dụng khi chủ ngữ hành động vì lợi ích của chính mình (ví dụ: Mác 10:38, τί αἰτειCσθε (ti aiteisthe) — “điều các ngươi đang cầu xin (cho chính mình),” bản NIV). Đôi khi, thể tự động gợi ý rằng chủ thể cho phép một hành động xảy ra (ví dụ: Lu-ca 2:5, ἀπογράψασθαι σὺν Μαριάμ (apograpsasthai syn Mariam), “để được ghi danh cùng Ma-ri”). Một số động từ ở thể chủ động trong một số thì, nhưng lại là động từ thể tự động khuyết trong các thì khác (đặc biệt là thì tương lai); và có khi thể tự động của một động từ chủ động mang ý nghĩa hoàn toàn khác biệt so với thể chủ động của nó. Chúng ta không thể xác định trước ý nghĩa của động từ trong những trường hợp này vì mỗi động từ ở thể tự động cần phải được phân tích riêng biệt để hiểu đúng.

Khi chúng ta xem xét cách sử dụng động từ παύω (pauo) trong Tân Ước, chúng ta thấy rằng nó thường xuất hiện ở thể tự động. Ở thể chủ động, nghĩa từ điển của nó là “dừng lại, làm cho dừng lại, làm giảm nhẹ”; còn ở thể tự động, nó có thể mang nghĩa “tự dừng lại” (cách dùng phản thân) hoặc “chấm dứt” (tức là nó trở thành một động từ khuyết có tính chất nội động (intransitive force)). Nó không bao giờ mang nghĩa rõ ràng là “tự chấm dứt” (tức là do bản chất nội tại của chủ thể); và một số đoạn Kinh Thánh loại trừ cách hiểu này như một ý nghĩa mặc định của thể tự động của động từ này. Chẳng hạn, trong Lu-ca 8:24, chúng ta đọc rằng Chúa Giê-xu quở trách gió và sóng dữ, và chúng “lặng yên” (ἐπαύσαντο (epausanto)) — rõ ràng không thể hiểu rằng chúng tự chấm dứt do bản chất nội tại của chúng. Một điều tương tự cũng có thể nói về những kẻ gây rối đã “ngừng” (ἐπαύσαντο (epausanto)) đánh Phao-lô (Công vụ 21:32): họ làm vậy vì thấy các binh lính, chứ không phải vì một sự kiềm chế nội tại nào đó (xem thêm 1 Phi-e-rơ 4:1).

II. NHỮNG NGỤY BIỆN LIÊN QUAN ĐẾN CÁC ĐƠN VỊ CÚ PHÁP KHÁC NHAU
#

2.1. Các Loại Câu Điều Kiện (Conditionals)
#

Có ba ngụy biện đáng được đề cập dưới tiêu đề này. Ngụy biện đầu tiên là một lỗi phổ biến. Trong các câu điều kiện loại một, thường được gọi là điều kiện “thực tế,” người ta thường cho rằng mệnh đề điều kiện (protasis) được giả định là đúng; nghĩa là, điều được giả định là có thật. Dựa trên cơ sở này, nhiều người thích bắt đầu mọi mệnh đề điều kiện loại một bằng từ “vì” thay vì “nếu.” Chẳng hạn, trong một bài chú giải về 1 Cô-rinh-tô, có đoạn viết về 1 Cô-rinh-tô 15:12–16:

“Các câu điều kiện trong suốt phần này bắt đầu với ei de, dạng câu điều kiện được xem là một thực tế: ‘Nếu điều được rao giảng (như thực tế là vậy) rằng Chúa Giê-xu đã sống lại …’ (câu 12). Điều này cũng đúng với các câu 13, 14, 16, 17 và 19.”

  • Thứ nhất, đây thực sự là một ngụy biện, vì trong một câu điều kiện loại một, mệnh đề điều kiện (protasis) được giả định là đúng để phục vụ lập luận, nhưng điều được giả định có thể đúng hoặc không đúng. Nói cách khác, trọng tâm đặt vào tính thực tế của giả định, nhưng không phải vào tính thực tế của nội dung được giả định. Vì vậy, trong Ma-thi-ơ 12:27, khi Chúa Giê-xu hỏi: “Nếu Ta đuổi quỷ bởi Bê-ên-xê-bun, thì con cái các ngươi đuổi chúng bởi ai?” — giả định rằng Chúa Giê-xu đuổi quỷ bởi Bê-ên-xê-bun là có thật, để lập luận có hiệu lực; nhưng điều được giả định vẫn là không có thật, vì thực tế Chúa Giê-xu không hề đuổi quỷ bởi Bê-ên-xê-bun. Dĩ nhiên, trong ví dụ từ 1 Cô-rinh-tô 15:12–16, cả giả định lẫn điều được giả định đều thực sự có thật; nhưng thực tế đó không thể được xác lập chỉ dựa trên cấu trúc điều kiện loại một mà mệnh đề này thuộc về.

  • Thứ hai, đó là một ngụy biện khi cho rằng các câu điều kiện loại ba (ἐάν (ean) cộng với thể giả định trong mệnh đề điều kiện) có một kỳ vọng nội tại về sự ứng nghiệm, dù chắc chắn hay không. James L. Boyer đã chứng minh một cách thuyết phục rằng câu điều kiện loại ba chỉ đơn thuần chỉ ra tính tương lai mà không hàm ý về khả năng xảy ra hay không xảy ra, cũng như không nói lên mức độ có thể hay không thể ứng nghiệm.

  • Thứ ba, nhưng chính Boyer lại mắc phải một ngụy biện khi ông lập luận rằng không có sự “tham chiếu thời gian” rõ ràng trong mệnh đề chính của các câu điều kiện loại ba. Rốt cuộc, ông lập luận rằng mọi mệnh đề chính đều mang ý nghĩa tương lai, bất kể động từ là mệnh lệnh aorist thể giả định οὐ μή (ou mē - không), thể hiện tại, thể tương lai, thể giả định aorist với ἵνα (hina, vì vậy, cho nên) hay một dạng khác.

Trong ấn bản trước của cuốn sách này, tôi đã lập luận rằng Boyer chỉ đúng nếu khung thời gian được thiết lập dựa trên người nói hoặc người viết: trong trường hợp đó, mọi mệnh đề chính của câu điều kiện loại ba đều mang ý nghĩa tương lai. Nhưng dựa trên công trình của một cựu sinh viên, tôi lập luận rằng nếu khung thời gian không được thiết lập dựa trên người nói mà dựa trên sự ứng nghiệm của mệnh đề điều kiện, thì thì của động từ trong mệnh đề chính trở nên quan trọng đối với mối quan hệ thời gian. Các động từ ở thể hiện tại trong mệnh đề chính chỉ ra hành động xảy ra đồng thời với thời điểm mà hành động của mệnh đề điều kiện được ứng nghiệm; các động từ ở thể tương lai trong mệnh đề chính chỉ ra hành động xảy ra sau thời điểm mà hành động của mệnh đề điều kiện được ứng nghiệm (tương tự như mệnh đề chính với οὐ μή (ou mē) cộng với thể giả định).

Nhưng tất cả điều này đều giả định rằng các thì của động từ trong thể trình bày (indicative) chủ yếu dựa trên thời gian. Có quá nhiều phản đối để có thể chấp nhận giả định đó. Boyer sai khi cho rằng tất cả các mệnh đề chính của câu điều kiện loại ba đều mang ý nghĩa tương lai.

Tôi đã sai khi đề xuất một sự liên kết quá dễ dàng giữa các thì của động từ trong mệnh đề chính. Chẳng hạn, trong Mác 3:24–25, Chúa Giê-xu nói: “Nếu một vương quốc tự chia rẽ (câu điều kiện loại ba), thì vương quốc đó không thể đứng vững (οὐ δύναται (thì hiện tại) σταθῆναι (ou dynatai stathēnai)). Nếu một nhà tự chia rẽ (câu điều kiện loại ba), thì nhà đó không thể đứng vững (οὐ δυνήσεται (thì tương lai) ἡ οἰκια σταθῆναι (ou dynēsetai hē oikia stathēnai)).” Rõ ràng, Chúa Giê-xu không nói rằng một vương quốc bị chia rẽ thì hiện tại không thể đứng vững, còn một nhà thì chỉ sẽ sụp đổ trong tương lai. Có hai hoặc ba cách giải thích về sự thay đổi thì của động từ δύναμαι (dynamai), nhưng cách giải thích dựa trên thời gian không phù hợp.

Tương tự, trong Ma-thi-ơ 18:13, “Nếu người ấy tìm thấy nó (câu điều kiện loại ba), thì người ấy vui mừng” — trong đó, thì hiện tại của động từ trong mệnh đề chính rõ ràng chỉ về hành động xảy ra trong tương lai so với thời điểm của mệnh đề điều kiện, chứ không phải đồng thời với nó. Có rất nhiều ví dụ khác giống như vậy mà chúng ta có thể đưa ra.

2.2. Mạo Từ: Những Lưu Ý Căn Bản
#

Mạo từ xác định trong tiếng Hy Lạp cực kỳ khó để phân loại một cách toàn diện. Tôi nghi ngờ rằng một số cách sử dụng mạo từ xác định được quyết định phần lớn là bởi “cảm nhận” của người nói hoặc người viết hơn là bởi những nguyên tắc rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn có một số nguyên tắc hướng dẫn tồn tại, và nhiều sai lầm đã xảy ra do người ta bỏ qua chúng hoặc không hiểu chúng đúng cách. Đặc biệt, một sai lầm phổ biến là cho rằng vì văn bản tiếng Hy Lạp có mạo từ thì bản dịch tiếng Anh cũng phải có, hoặc vì một phần nào đó của văn bản tiếng Hy Lạp không có mạo từ thì bản dịch tiếng Anh cũng phải theo như vậy. Không giống như tiếng Anh, tiếng Hy Lạp không có mạo từ không xác định; và mạo từ xác định của nó thường có chức năng rất khác so với cách sử dụng trong tiếng Anh, dù là mạo từ xác định hay không xác định.

Để tránh làm đơn giản hóa quá mức, chúng ta có thể hệ thống hóa những cách sử dụng cơ bản của mạo từ Hy Lạp như trong hình 4.

HÌNH 4:

Cách sử dụng 1Cách sử dụng 2
Có mạo từ xác định (Articular)(a) xác định(c) chung loại
Không có mạo từ xác định (Anarthous)(b) không xác định - tức định tính(d) cá thể (chỉ mục riêng lẻ)

Biểu đồ ở hình 4 khá dễ hiểu:

  • Một trong những cách sử dụng của mạo từ xác định là để xác định rõ, làm cho một danh từ trở nên cụ thể. Cách sử dụng không có mạo từ tương ứng làm cho danh từ trở nên không xác định, không chỉ có tác dụng làm rõ nó mà là khiến nó mang tính “định tính”.
  • Tuy nhiên, cách sử dụng thứ hai của mạo từ là mang tính tổng quát (ví dụ, ἄξιος ὁ ἐργάτης τοῦ μισθοῦ αὐτοῦ (axios ho ergatēs tou misthou autou), Lu-ca 10:7, nghĩa đen là “người làm công xứng đáng với tiền công của mình,” nhưng cách nói thông dụng trong tiếng Anh lại là “một người làm công xứng đáng với tiền công của mình”); cách sử dụng không có mạo từ tương ứng chỉ ra rằng danh từ không mang tính tổng quát, mà là cá biệt (ví dụ, “một (người làm công nhất định)”).
  • Nhiều cách dùng của mạo từ Hy Lạp là những phân loại con của hai nhóm chính này. Chẳng hạn, cách dùng trùng lặp (anaphoric) là một phân loại con của (a); và sự ưu tiên giữ lại mạo từ với các danh từ trừu tượng có thể được xem là một phân loại con của (c).

Điều nổi bật ngay từ bảng này là có một sự giao thoa khái niệm đáng ngạc nhiên, được hệ thống hóa trong hình 5. Nghĩa là, cách sử dụng mạo từ xác định trong nhóm 1 có những điểm tương đồng về mặt khái niệm với cách sử dụng không có mạo từ trong nhóm 2; và cách sử dụng không có mạo từ trong nhóm 1 có những điểm tương đồng với cách sử dụng mạo từ xác định trong nhóm 2. Điều này tối thiểu có nghĩa là người giải kinh phải cẩn thận khi rút ra kết luận chỉ dựa trên sự có mặt hay vắng mặt của một mạo từ. Ngoại trừ một số cách diễn đạt theo thành ngữ, thì chỉ có ngữ cảnh và sự nhạy bén đạt được qua kinh nghiệm với văn bản Hy Lạp mới là yếu tố kiểm soát đầy đủ.

HÌNH 5:

Dĩ nhiên, các nhà ngữ pháp hiểu rõ điều này, nhưng thật đáng ngạc nhiên là có nhiều nhà bình luận dường như không hiểu. Chẳng hạn, R. C. H. Lenski nổi tiếng là không đáng tin cậy trong cách ông xử lý mạo từ Hy Lạp, thường xuyên viện dẫn sự có mặt (hoặc vắng mặt) của mạo từ trong tiếng Hy Lạp để thiết lập mô hình tương ứng trong tiếng Anh, hoặc liên kết danh từ có mạo từ với một ý nghĩa cụ thể (ví dụ, danh từ có mạo từ νόμος (nomos) biểu thị Luật pháp của Môi-se; danh từ không có mạo từ νόμος (nomos) biểu thị nguyên tắc của luật pháp).

2.3. Mạo Từ: Luật Granville Sharp
#

Một số sách ngữ pháp trình bày quy tắc này theo cách khá đơn giản, chẳng hạn như sau:

Quy tắc của Sharp nói rằng:

  • Nếu hai danh từ được liên kết bởi καί và cả hai đều có mạo từ, chúng đề cập đến những người hoặc vật khác nhau …;
  • Nếu danh từ thứ nhất có mạo từ mà danh từ thứ hai không có, thì danh từ thứ hai chỉ cùng một người hoặc vật như danh từ thứ nhất … Dĩ nhiên, quy tắc này cũng có thể áp dụng cho một chuỗi gồm ba hoặc nhiều danh từ.

Sai lầm ban đầu nằm ở việc diễn đạt quy tắc Granville Sharp một cách thiếu cẩn trọng hơn so với chính Granville Sharp. Thực tế, quy tắc của Sharp khá phức tạp, và nó quá phức tạp để phân tích đầy đủ ở đây. Tuy nhiên, điều rõ ràng là ông đã loại trừ danh từ số nhiều khỏi quy tắc của mình (chưa kể đến các hạn chế khác). Vì vậy, nếu một mạo từ chi phối hai danh từ số nhiều được liên kết bởi καί (kai), thì không có lý do gì để nghĩ rằng hai danh từ đó chỉ cùng một thực thể, mặc dù mạo từ nhóm chúng lại với nhau, khiến trong một số khía cạnh nào đó, chúng hoạt động như một thực thể duy nhất.

Việc không nhận ra điểm này là lý do một số học giả khăng khăng cho rằng sách Ma-thi-ơ có tính sai niên đại trong cách ông mô tả các lãnh đạo Do Thái. Trong Ma-thi-ơ 16:1, 6 và các đoạn khác, Ma-thi-ơ gộp chung Pha-ri-si và Sa-đu-sê dưới một mạo từ. Người ta nói rằng chỉ những ai sống cách xa thời Chúa Giê-xu đến mức không biết rằng Pha-ri-si và Sa-đu-sê là hai nhóm riêng biệt mới có thể sử dụng cách diễn đạt như vậy ở đây. Sai lầm, dĩ nhiên, nằm ở chỗ dựa vào quy tắc Granville Sharp trong khi chính Sharp đã nhấn mạnh rằng quy tắc này không có hiệu lực trong trường hợp này. Sai sót của các nhà bình luận phần nào có thể hiểu được, bởi nhiều sách ngữ pháp tiêu chuẩn cũng mắc lỗi này, nhưng khó có thể trách chính Sharp.

Như tôi đã chỉ ra ở nơi khác, chỉ có một mạo từ điều khiển cả hai danh từ trong những cụm từ như “những người theo chủ nghĩa Khoái lạc và Khắc kỷ” (Công vụ 17:18). Thật vậy, nơi duy nhất ngoài Ma-thi-ơ mà cụm từ τῶν Φαρισαίων καὶ Σαδδουκαίων (tōn Pharisaiōn kai Saddoukaiōn) xuất hiện là Công vụ 23:7; và trong ngữ cảnh này, sự khác biệt về giáo lý giữa hai nhóm đã được hiểu một cách hiển nhiên. Trong từng cặp, hai danh từ được liên kết lại nhằm phục vụ cho mục đích cụ thể. Trong Công vụ 23:7, mục đích đó là cuộc tranh luận đã nổ ra giữa họ. Trong Ma-thi-ơ 16:1, Pha-ri-si và Sa-đu-sê được liên kết với nhau trong câu hỏi họ đặt ra cho Chúa Giê-xu, có lẽ vì họ cùng hoạt động như những đại diện của Sanhedrin (Tòa Công Luận). Trong Ma-thi-ơ 16:6, 11, 12, việc sử dụng cụm từ τῶν Φαρισαίων καὶ Σαδδουχαίων (tōn Pharisaiōn kai Saddoukaiōn, “của Pha-ri-si và Sa-đu-sê”) không có nghĩa là tác giả Phúc Âm nghĩ rằng giáo lý của hai nhóm là hoàn toàn giống nhau, mà chỉ nói rằng trong một số phương diện, giáo lý của họ có điểm chung — đặc biệt là sự thù địch đối với Chúa Giê-xu và sự mặc khải Ngài mang đến.

Ở phía đối lập của quy tắc, cụm từ καὶ ὁ νικῶν καὶ ὁ τηρῶν (kai ho nikōn kai ho teromn, Khải huyền 2:26, ‘kẻ nào thắng và giữ lời ta’) không đề cập đến hai người —một người chiến thắng và một người gìn giữ lời Chúa — trong ngữ cảnh của câu. Thay vào đó, đây dường như một cách diễn đạt hơi nặng nề nhằm gán cho người chiến thắng trung tín này một danh xưng đầy trọng lượng. Điểm chính trong trường hợp này là ngay cả khi văn bản không có một mạo từ điều khiển hai danh từ, mà có hai mạo từ — một cho mỗi danh từ — thì điều đó cũng không có nghĩa là quy tắc Granville Sharp bị đảo ngược, nghĩa là phải có hai thực thể riêng biệt.

2.4. Mạo Từ: Luật Colwell Và Một Số Vấn Đề Liên Quan Khác
#

Ngày nay, người ta đã biết rõ rằng trong một câu chẳng hạn như καὶ θεὸς ἦν ὁ λόγος (kai theos ēn ho logos, thường được dịch là “và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời,” Giăng 1:1), danh từ có mạo từ là chủ ngữ, mặc dù nó được đặt sau động từ. Câu hỏi khó hơn trong những trường hợp như vậy là liệu có quy tắc nào áp dụng cho danh từ không có mạo từ trước động từ không: làm sao để biết nó mang nghĩa xác định hay không xác định, là “Đức Chúa Trời” hay “một vị thần”?

Năm 1933, E. C. Colwell đã công bố một bài nghiên cứu quan trọng về vấn đề này. Ông đã khảo sát các danh từ vị ngữ xác định (tính xác định của chúng được ông đánh giá theo quan điểm của mình), cả trước và sau động từ, cả có và không có mạo từ. Ông nhận thấy rằng nếu một danh từ xác định đứng trước một động từ nối (copulative verb), nó thường không có mạo từ; nếu đứng sau, nó thường có mạo từ. Khi áp dụng vào Giăng 1:1, quy tắc này cho thấy rằng θεός (theos) nên được hiểu là “Đức Chúa Trời” với ý nghĩa xác định, chứ không phải “một vị thần” với ý nghĩa không xác định, bởi theo Colwell, 87% danh từ vị ngữ xác định đứng trước động từ trong Tân Ước Hy Lạp không có mạo từ.

Công trình nghiên cứu của Colwell đã được trích dẫn rộng rãi, nhưng nó vẫn có một số điểm yếu về phương pháp luận:

… mặc dù nguyên tắc của Colwell có thể phản ánh một xu hướng chung, nó hoàn toàn không phải là tuyệt đối. Rốt cuộc, nó không xét đến mệnh đề quan hệ hay danh từ riêng, và ông cũng đã bỏ qua một nhóm lớn các danh từ mang tính “định tính,” như trong câu ὁ θεὸς ἀγάπη ἐστίν (‘Đức Chúa Trời là tình yêu’). Hơn nữa, chính ông là người đầu tiên thừa nhận sự thiếu khách quan trong phương pháp thống kê của mình: ông tuyên bố chỉ tính các danh từ xác định trong các vị ngữ không có mạo từ, nhưng mức độ xác định là điều cực kỳ khó để đánh giá.

Ngoài những hạn chế đã nêu, quy tắc của Colwell còn dễ bị lạm dụng. Sai lầm trong nhiều lập luận phổ biến dựa vào Colwell là cho rằng phần quy tắc liên quan đến Giăng 1:1 được xây dựng dựa trên việc khảo sát tất cả các danh từ vị ngữ không có mạo từ đứng trước động từ nối. Nếu điều đó là đúng, con số 87% của ông sẽ rất ấn tượng. Nhưng thực tế, Colwell chỉ khẳng định rằng ông đã khảo sát các danh từ không có mạo từ nhưng mang tính xác định (theo cách ông đánh giá tính xác định).

Gần đây, một sinh viên của tôi, Ed Dewey, đã sử dụng công cụ GRAMCORD để truy xuất tất cả danh từ không có mạo từ (bao gồm xác định, không xác định, định tính và danh từ riêng, cùng một số trường hợp không rõ ràng) đứng trước các động từ nối γίνομαι (ginomai) và εἰμί (eimi) trong Tân Ước Hy Lạp. Anh ấy phát hiện rằng danh từ xác định và danh từ không xác định chiếm tỷ lệ gần như ngang nhau trong toàn bộ danh sách.

Nói cách khác, sẽ là sai lầm khi lập luận rằng một danh từ vị ngữ không có mạo từ đứng trước động từ nối thì khả năng cao là danh từ xác định. Về mặt thống kê, xác suất để nó là danh từ xác định không cao hơn so với khả năng nó là danh từ không xác định. Quy tắc của Colwell chưa bao giờ khẳng định điều ngược lại: nó bắt đầu với tiêu chí “xác định” rồi mới phân tích sự phân bố của nó. Như vậy, quy tắc này vẫn có giá trị, và chắc chắn nó cho phép cách hiểu “và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” trong Giăng 1:1 - nếu các yếu tố ngữ cảnh khác củng cố điều đó (và thực sự có những yếu tố như vậy). Hơn nữa, McGaughy đã phát triển một quy tắc mới giúp đưa ra kết luận rõ ràng hơn trong trường hợp này. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là quy tắc của Colwell vẫn không nên bị lạm dụng.

2.5. Những Mối Liên Hệ Giữa Các Thì
#

Những ngụy biện trong giải nghĩa Kinh Thánh và thần học xuất hiện khi người ta đưa ra kết luận mà không chú ý đầy đủ đến mối quan hệ giữa các mệnh đề, thường được xác định bởi hình thái động từ. Chẳng hạn, I. Howard Marshall diễn giải Hê-bơ-rơ 3:6b (“mà nhà Chúa tức là chúng ta, miễn là chúng ta giữ vững-vàng cho đến cuối-cùng lòng tin chắc và trông-cậy, là sự chúng ta lấy làm vinh-hiển”) và Hê-bơ-rơ 3:14 (“Vì chúng ta đã được dự phần với Đấng Christ, miễn là giữ lòng tin ban đầu của chúng ta cho vững-bền đến cuối-cùng”) như thể cả hai câu đều nói cùng một điều: “Việc thuộc về nhà của Đức Chúa Trời phụ thuộc vào sự kiên trì.”

Ở một khía cạnh nào đó, điều này đúng. Nhưng khi xem xét kỹ các thì động từ trong ngữ cảnh của Hê-bơ-rơ 3:14, ta thấy có một yếu tố bổ sung quan trọng. Cụm từ “chúng ta đã trở thành” (γεγόναμεν (gegonamen)) mang ý nghĩa quá khứ, tức là chúng ta đã trở thành người dự phần trong Chúa Giê-xu, nếu hiện tại, chúng ta giữ vững sự tin cậy mà chúng ta đã có lúc ban đầu.

Điều này có nghĩa rằng sự kiên trì không chỉ là điều được yêu cầu, mà còn là bằng chứng của điều đã xảy ra trong quá khứ. Nói cách khác, sự kiên trì trở thành một yếu tố thiết yếu của đời sống Cơ Đốc nhân, của bản chất và hành động của một người dự phần trong Chúa Giê-xu. Nếu sự kiên trì chứng tỏ rằng chúng ta đã dự phần trong Chúa Giê-xu, thì điều đó chỉ có thể là vì việc dự phần trong Chúa Giê-xu luôn sinh ra kết quả tất yếu là sự kiên trì.

III. KHẢ NĂNG PHỤC HỒI ĐỘ CHÍNH XÁC
#

Tiến bộ trong lĩnh vực ngữ pháp tiếng Hy Lạp trong vài thập kỷ qua thật đáng ngạc nhiên là rất ít, một phần phản ánh tiêu chuẩn giáo dục cổ điển ngày càng suy giảm, một phần do sự quan tâm bị chuyển hướng sang các lĩnh vực khác. Dĩ nhiên, có nhiều học giả xuất sắc đã đóng góp đáng kể cho ngành này, nhưng vẫn còn rất nhiều việc cần được thực hiện.

Tình hình này có thể thay đổi nhanh chóng với sự ra đời của bộ công cụ GRAMCORD, như đã được đề cập trong chương này. GRAMCORD là từ viết tắt của GRAMmatical conCORDance (Sự đối chiếu ngữ pháp). Bộ công cụ này được khởi xướng bởi James Boyer và phát triển bởi Paul Miller. GRAMCORD là một hệ thống truy xuất dữ liệu trên máy tính, bao gồm một văn bản tiếng Hy Lạp của Tân Ước đã được đánh dấu và một phần mềm có độ phức tạp cao, giúp người dùng có thể tìm kiếm bất kỳ cấu trúc ngữ pháp nào, với bất kỳ độ dài và mức độ phức tạp nào, miễn là nó được xác định về mặt hình thái hoặc vị trí.

Hiện tại, tôi đang làm việc trên một quyển sách tham khảo, trong đó tổng hợp nhiều kết quả nhằm hỗ trợ dịch giả Kinh Thánh và các nhà ngữ pháp học. Điều này có nghĩa là phần việc nặng nề trong việc thu thập dữ liệu có thể được loại bỏ, thay thế bằng vài thao tác nhấn nút hoặc một tài liệu tham khảo tiện lợi; và điều này sẽ giúp tiết kiệm năng lượng để tập trung vào việc phân tích dữ liệu.

Ví dụ, tôi gần đây đã viết một tập lệnh để máy tính truy xuất mọi trường hợp của thể tuyệt đối sở hữu cách và phân tích các kết quả. Theo tôi biết, đây là lần đầu tiên một danh sách như vậy được biên soạn. Danh sách này bao gồm những phân tích như khi danh từ đứng trước phân từ, hoặc ngược lại; khi đại từ đứng trước phân từ, hoặc ngược lại; thì của phân từ; các thể tuyệt đối sở hữu cách ghép hoặc khiếm khuyết, v.v.

Tương tự, một học trò của tôi, Sung Yang, đã truy xuất và phân tích mọi trường hợp trong Tân Ước Hy Lạp của một động từ số ít kết hợp với một chủ ngữ ghép, và xây dựng một số quy tắc dựa trên quá trình quy nạp toàn diện có được nhờ việc truy xuất dữ liệu một cách kỹ lưỡng.

Những kết quả như thế này sẽ sớm được xuất bản ở nơi khác. Mục đích của tôi ở đây không phải là giới thiệu các quy tắc ngữ pháp mới. Tuy nhiên, những tiến bộ công nghệ này sẽ giúp việc phân tích quy nạp ngữ pháp Hy Lạp một cách kỹ càng trở nên dễ quản lý hơn trong tương lai, và do đó sẽ góp phần giảm thiểu sai sót cũng như vạch trần những sai lầm ngữ pháp.

Quyển sách này được xuất bản năm 1996. Điều này có nghĩa là tác giả đã viết cuốn sách này vài năm trước đó. Phần mềm GRAMCORD mà tác giả nhắc đến hiện nay (2025) không còn trên thế giới nữa.

Một thời gian sau khi phát hành ra thế giới, phần mềm GRAMCORD này sau đó kết hợp với phần mềm Accordance Bible và không còn tồn tại nữa, nhường chỗ cho phần mềm Accordance Bible tiếp tục cho đến ngày nay (2025), hiện là phiên bản 14 sau 30 năm phát hành.

Năm 1992, phần mềm BibleWorks ra đời. Đáng tiếc, BibleWorks phá sản sau 26 năm hoạt động vì không đủ kinh phí điều hành để duy trì công ty. BibleWorks đóng cửa ngày 15 tháng 6 năm 2018.

Cũng trong năm 1992, phần mềm Logos Bible ra đời. Đến tháng 10 năm 2024, khi Logos Bible software đang ở phiên bản 10, công ty đã chuyển sang hình thức đăng ký (subscription) chứ không còn bán thẳng các phiên bản cho người dùng nữa. Tính đến tháng 6 năm 2025 thì phiên bản của Logos Bible là 42.1.10.

Tóm lại, sau sự ra đi của GRAMCORD và BibleWorks, hiện tại (2025) trên thế giới chỉ còn lại phần mềm Accordance Bible và Logos Bible.

(Tommy Phan)


NGỤY BIỆN GIẢI KINH