Skip to main content

Chương 06: Tổng Kết và Suy Gẫm

·2643 words·13 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Trong chương cuối này, tôi không có ý định liệt kê thêm những ngụy biện, nhưng muốn khơi nguồn cho cuộc thảo luận trong tương lai bằng cách đề cập sơ lược một số lĩnh vực mà trong đó có nhiều cơ hội để ngụy biện len lỏi trong bóng tối, hòng đánh lừa những ai không cảnh giác. Danh sách này không mang tính toàn diện, chỉ nhằm gợi ý mà thôi.

I. NHỮNG CƠ HỘI DẪN ĐẾN NHIỀU NGỤY BIỆN HƠN NỮA
#

1.1. Những Vấn Đề Liên Quan Đến Thể Loại Văn Chương
#

Có nhiều điều cần xem xét. Các định nghĩa hiện đại về “ẩn dụ” (parable) hoặc “ngụ ngôn” (allegory) có thể không hoàn toàn giống với ý nghĩa mà các tác giả thời xưa muốn truyền đạt. Phương pháp giải kinh mới (new hermeneutic) đã xây dựng nhiều lý thuyết của mình dựa trên việc nghiên cứu các ẩn dụ (vốn trong tay Chúa Giê-xu thường mhằm mục đích gây ấn tượng mạnh và giúp người nghe tự nhìn nhận chính mình, chứ không chỉ đơn thuần để được người nghe diễn giải); tuy nhiên, những lý thuyết này ít hiệu quả hơn khi áp dụng vào một bức thư giáo lý hay một bài luận giải.

Vậy chúng ta nên định hình câu hỏi về thể loại văn học như thế nào, dựa trên chính thể loại đang được nghiên cứu? Hơn nữa, nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này gặp khó khăn trong việc duy trì sự cân bằng giữa tính liên tục và tính gián đoạn khi so sánh hai tác phẩm văn học.

Một trong những sai lầm phổ biến mà các nhà giảng đạo thường mắc phải trong việc xử lý thể loại văn chương là cách họ tiếp cận Châm ngôn. Một câu châm ngôn không phải là một lời hứa cũng không phải là một điều khoản luật pháp. Nếu nó được diễn giải theo cách đó, điều này có thể khiến một số tín hữu vô cùng nản lòng khi mọi sự không xảy ra đúng như điều mà “lời hứa” dường như muốn ám chỉ.

Có lẽ cách dễ nhất để làm rõ vấn đề là so sánh hai câu châm ngôn được đặt cạnh nhau. Châm ngôn 26:4 dạy, “Đừng trả lời kẻ ngu theo sự ngu dại của nó.” Nhưng ngay câu kế tiếp lại nói, “Hãy trả lời kẻ ngu theo sự ngu dại của nó” (Châm ngôn 26:5). Phần thứ hai của mỗi câu giúp chúng ta hiểu rõ sự kết hợp kỳ lạ này.

Đừng trả lời kẻ ngu theo sự ngu dại của nó, e rằng con cũng giống như nó (Châm ngôn 26:4).

Hãy trả lời kẻ ngu theo sự ngu dại của nó, e rằng nó sẽ tưởng mình là khôn ngoan (Châm ngôn 26:5).

Một người đọc sâu sắc sẽ cần tự hỏi khi nào nên áp dụng câu này hay câu kia. Câu hỏi đó sẽ dẫn đến sự suy ngẫm về dòng thứ hai của mỗi câu: Liệu phản ứng “ngu dại” của tôi có đang kéo tôi xuống ngang với mức độ của người kia (Châm ngôn 26:4), hay nó đang làm lộ ra sự kiêu ngạo của người ấy và cảnh báo họ về con đường họ đang đi (Châm ngôn 26:5)? Làm sao tôi có thể phân biệt được?

Nói cách khác, các câu châm ngôn thường đòi hỏi sự suy xét kỹ lưỡng, sự suy gẫm tinh tế về hoàn cảnh mà câu châm ngôn được áp dụng, và sự nhận biết rằng châm ngôn mang lại sự khôn ngoan do Đức Chúa Trời ban cho chúng ta để sống trong sự kính sợ Ngài, chứ không phải những lời hứa đơn giản hay tuyệt đối một chiều.

Tương tự, người giải nghĩa cẩn trọng sẽ xem xét cách mà thơ ca Hê-bơ-rơ, văn chương khải huyền, các đoạn lịch sử, sách Phúc Âm, những bài ca thương, và nhiều thể loại khác thực sự hoạt động — đó là, cách chúng truyền tải ý nghĩa và chân lý, cách chúng mang lại sự khích lệ, sự dạy dỗ hoặc sự cảnh báo, và nhiều điều khác nữa.

1.2. Những Vấn Đề Liên Quan Đến Cách Tân Ước Sử Dụng Cựu Ước
#

Những điều này bao gồm bản chất thẩm quyền của Cựu Ước khi mối liên hệ mang tính hình bóng, nguy cơ của một sự kêu gọi thuần túy dựa trên đức tin trong các đoạn khó hiểu, vấn đề liệu (và khi nào) trích dẫn có ý định mang theo bối cảnh của Cựu Ước, và nhiều điều khác nữa. Những vấn đề này đều có thể dẫn đến các ngụy biện thuộc nhiều loại khác nhau.

1.3. Lập Luận Dựa Trên Sự Thiếu Dữ Liệu (Arguments from Silence)
#

Một nhà bình luận cuốn sách của James B. Hurley về vai trò của nam và nữ giới đã chỉ trích sách khá gay gắt vì không xem xét đầy đủ sự im lặng của Chúa Giê-xu về những giới hạn đối với phụ nữ. Các học giả thường công nhận rằng lập luận dựa trên sự im lặng thường yếu, nhưng chúng trở nên mạnh hơn nếu có thể chứng minh rằng trong một bối cảnh nhất định, chúng ta có thể kỳ vọng diễn giả hoặc người kể chuyện sẽ đưa ra nhận xét thêm. Mục đích của tôi không phải để phân xử tranh luận này, mà để chỉ ra rằng nhiều kiểu ngụy biện có thể gắn liền với lập luận dựa trên sự im lặng hoặc với việc xây dựng bối cảnh nhằm tạo sức nặng cho loại lập luận này.

1.4. Các Vấn Đề Phát Sinh Từ Việc So Sánh Và Đối Chiếu Văn Bản
#

Một số vấn đề này trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta xem xét nỗ lực của phái Arian trong việc liên kết Giăng 10:30 (“Ta và Cha là một,” NIV) với Giăng 17:20–23 (“Con cầu xin … để tất cả họ được trở nên một, Cha ôi, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha,” NIV). Điều gì cho phép các nhà giải kinh liên kết một số câu Kinh Thánh với nhau mà không phải các câu khác? Vấn đề ở đây là tất cả những sự liên kết này cuối cùng tạo ra một hệ thống ảnh hưởng đến cách giải nghĩa các đoạn văn khác. Có thể có những ngụy biện không chỉ liên quan đến cách diễn giải từng câu riêng lẻ, mà còn liên quan đến cách liên kết nhiều đoạn Kinh Thánh — và thậm chí cả cách mà sự liên kết này tác động đến việc giải nghĩa câu tiếp theo được nghiên cứu!

Chẳng hạn, thật khó để không đi đến kết luận rằng cách George W. Knight giải thích 1 Cô-rinh-tô 14:33b–38 về sự im lặng của phụ nữ trong Hội thánh đòi hỏi rằng độc giả tại Cô-rinh-tô đã đọc trước 1 Ti-mô-thê 2:11–15, trong khi theo bất kỳ trình tự thời gian nào, sách này vẫn chưa được viết. Bởi chính Knight, khi nhận ra rằng dưới ánh sáng của 1 Cô-rinh-tô 11:5, sự im lặng được đề cập trong 1 Cô-rinh-tô 14:34 không thể là tuyệt đối, đã viện dẫn 1 Ti-mô-thê 2:11–15 để tìm ra những giới hạn thích hợp cho lệnh cấm này. Những cách tiếp cận khác cũng có thể có; nhưng dù thế nào đi nữa, cần có một lý do hợp lý cho sự đặt cạnh nhau của các đoạn văn này (hoặc bất kỳ sự kết hợp nào khác) mà rất nhiều điều được đặt nền trên đó.

Tôi không có ý định đưa ra các giải pháp phương pháp luận tạm thời cho những vấn đề này; nhưng rõ ràng là nhiều tranh luận trong Cơ Đốc giáo — dù là những cuộc tranh luận lâu dài về mối quan hệ giữa sự tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người, hay những mối quan tâm gần đây như mối quan hệ giữa nam và nữ trong Hội thánh — đều xoay quanh những điểm bất nhất, sai sót và ngụy biện trong lĩnh vực này. Những kiểu ngụy biện liên quan thường thuộc loại đã được đề cập trong cuốn sách này; việc áp dụng những gì chúng ta đã học vào các vấn đề xây dựng một nền thần học Kinh Thánh nhất quán sẽ dẫn chúng ta vào những ngã rẽ tư duy mới vượt ra ngoài phạm vi của cuốn sách này. Chắc chắn vẫn còn rất nhiều công việc cần được thực hiện trong lĩnh vực này.

1.5. Các Vấn Đề Phát Sinh Từ Việc Sử Dụng Dữ Liệu Thống Kê Trong Lập Luận
#

Nhiều phán đoán giải kinh được hình thành một phần bởi các quyết định mang tính bình luận biên tập (redaction critical decisions), vốn phụ thuộc vào các con số — tần suất một từ hoặc cụm từ xuất hiện trong một tập hợp văn bản nhất định, liệu nó có xuất hiện trong tài liệu được biên tập rõ ràng hay ở những nơi khác, v.v.

Nhưng có nhiều ngụy biện phương pháp luận liên quan đến các lập luận thống kê, những ngụy biện mà hầu hết các học giả Tân Ước chỉ nhận thức một cách mơ hồ. Chẳng hạn, nhiều quyết định mang tính biên tập (redactional decision) dựa trên số lần xuất hiện của các từ chỉ khoảng bốn hoặc năm lần. Về mặt thống kê, có thể chứng minh rằng khả năng sai sót trong những phán đoán như vậy có thể lên đến 50%, 70%, 80%, hoặc thậm chí cao hơn.

Hơn nữa, thống kê về tần suất từ thường được tính toán dựa trên giả thuyết không (null hypothesis). Mô hình thống kê này xác định mức độ khả thi của các trường hợp xuất hiện khác nhau khi so sánh với việc rút ngẫu nhiên các từ từ một thùng chứa. Nhưng các tác giả không chọn từ theo cách đó. Có thể có những lý do thuyết phục về ngữ cảnh hoặc chủ đề khiến một số từ được chọn trong một bối cảnh này mà không phải trong bối cảnh khác.

Nghiêm trọng hơn nữa, có quá ít nghiên cứu trong lĩnh vực văn học so sánh để xác định liệu có tồn tại các mô hình tiêu chuẩn về sự biến đổi trong tác phẩm của một tác giả hay không. Nếu có đủ các nghiên cứu như vậy được thực hiện (và lý tưởng nhất là cần đến hàng ngàn nghiên cứu), chúng ta có thể loại bỏ sự phụ thuộc vào giả thuyết không (null hypothesis).

Hầu hết các phán đoán bình luận biên tập đều xem các từ và cụm từ “đã bị biên tập”, và đôi khi cả những đoạn văn chứa chúng, như những bổ sung muộn hoặc những tham chiếu đến tài liệu không mang tính lịch sử. Tuy nhiên, chưa từng có các kiểm tra thống kê nào được thực hiện để xác định mức độ thường xuyên mà các tác giả khác (ví dụ như Josephus) sử dụng từ ngữ của riêng họ và kết hợp chúng với các nguồn có sẵn để thuật lại những vấn đề mang tính lịch sử. Những nghiên cứu so sánh như vậy vẫn còn thiếu hụt đáng kể.

1.6. Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Chủ Nghĩa Cấu Trúc (Structuralism)
#

Một thế hệ ngụy biện mới đang dần hình thành khi ngành nghiên cứu còn tương đối non trẻ này được áp dụng vào việc nghiên cứu Kinh Thánh.

1.7. Những Vấn Đề Trong Việc Phân Biệt Nghĩa Bóng Và Nghĩa Đen
#

Việc nhầm lẫn giữa nghĩa đen và nghĩa bóng trong cách diễn giải là điều khá phổ biến. hần học của một số giáo phái phụ thuộc vào những cách hiểu sai như vậy.

James W. Sire chỉ ra rằng Christian Science đưa ra các cách diễn giải mang tính biểu tượng cho nhiều từ vựng trong Kinh Thánh mà không có sự biện giải giải kinh (ví dụ: “chim bồ câu” là biểu tượng cho Khoa học Thiêng liêng, sự thanh khiết và bình an; “buổi tối” tượng trưng cho “những khoảnh khắc của tư tưởng xác thịt; sự mệt mỏi của tâm trí xác thịt; cái nhìn bị che khuất; sự bình an và nghỉ ngơi”). Trong khi đó, Mormon giáo lại diễn giải theo nghĩa đen nhiều cách dùng từ vựng vốn mang tính biểu tượng (ví dụ: Đức Chúa Trời phải có một thân thể vì Kinh Thánh nói về cánh tay mạnh mẽ của Ngài).

Nhưng đâu là nguyên tắc kiểm soát để xác định sự khác biệt giữa nghĩa bóng và nghĩa đen? Một điểm khởi đầu tốt cho việc nghiên cứu này là sách của G. B. Caird; nhưng dù thế nào đi nữa, vấn đề này vẫn là một lĩnh vực phong phú cho những ngụy biện trong giải kinh.

II. GẮN KẾT CÁC MẢNH GHÉP LẠI VỚI NHAU
#

Cuộc thảo luận này nhất thiết phải xem xét các ngụy biện một cách riêng lẻ; nhưng trong công tác giải nghĩa Kinh Thánh thực tế, một số đoạn văn vì sự phức tạp của chúng mà có thể khơi dậy đồng thời nhiều ngụy biện — giống như “luật pháp làm dấy lên tội lỗi”. Tôi nghĩ đến các đoạn như Thi thiên 110; Ê-sai 52:13–53:12; Ma-thi-ơ 16:13–23; Ê-phê-sô 5:21–30; và Khải huyền 20:1–6.

Ngoài những ngụy biện thuần túy về mặt giải nghĩa Kinh Thánh, chúng ta còn đối diện với những nguy cơ mới khi tìm cách áp dụng ý nghĩa của văn bản đã khám phá vào đời sống — tức là khi chúng ta hỏi về cách sử dụng Kinh Thánh. Chúng ta có thể lấy bất kỳ câu chuyện nào làm hình mẫu không? Các cách diễn giải những phân đoạn riêng lẻ có nhất thiết phải liên hệ đến toàn bộ lịch sử cứu rỗi không? Thực tế hơn, việc rửa chân có phải là một thể chế mà Hội thánh cần tuân giữ không? Việc xác định và tránh các ngụy biện liên quan đến những câu hỏi này sẽ cần một quyển sách hoàn toàn khác.

Nhưng tôi không muốn kết thúc chương cuối này với một ghi chú quá tiêu cực. Có một nguy cơ rằng độc giả sẽ kết thúc việc đọc cuốn sách nhỏ này trong sự sợ hãi sâu sắc về sự thiếu sót của chính mình trong công tác giải nghĩa Kinh Thánh. Một chút nghi ngờ bản thân sẽ không gây hại, thậm chí có thể mang lại nhiều điều tốt: chúng ta sẽ cởi mở hơn để học hỏi và sửa chữa sai lầm. Nhưng nếu nghi ngờ quá mức, nó sẽ trói buộc và bóp nghẹt chúng ta trong sự bất an sâu sắc, khiến chúng ta quá chú tâm vào phương pháp mà có thể bỏ qua chính lẽ thật.

Tôi không có câu trả lời dễ dàng cho tình huống nan giải này. Nhưng chúng ta sẽ không đi lạc xa nếu tiếp cận Kinh Thánh với tâm trí khiêm nhường và quyết tâm tập trung vào những lẽ thật cốt lõi. Dần dần, chúng ta sẽ rèn luyện kỹ năng giải nghĩa Kinh Thánh qua việc nghiên cứu công bằng và sự quyết tâm đầy kính sợ, cầu nguyện để trở nên giống như người làm công “biết phân biệt lời của lẽ thật cách ngay thẳng” (2 Ti-mô-thê 2:15, BTT).

Muốn thật hết lòng!


NGỤY BIỆN GIẢI KINH