Skip to main content

Chương 03: Động Từ

·19621 words·93 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God
Table of Contents

Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không có thì theo nghĩa chặt chẽ của thuật ngữ. Từ lời khẳng định này, chúng ta muốn nói rằng Hê-bơ-rơ không định vị một hành động hay trạng thái trong thời gian bằng hình thái học đặc thù. Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa rằng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không diễn đạt chính xác các quan hệ thời gian, nhưng rằng nó thực hiện điều đó qua nhiều đặc điểm cú pháp và ngữ cảnh, hơn là qua các biến thể của hình thái động từ hay các thì được biểu hiện một cách ngữ pháp.

Cần phải thận trọng với những phát biểu như “Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không có thì.” Chúng tôi đã trình bày quan điểm đa số về bản chất tổng quát của hệ thống động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh. Tuy nhiên, đây là một chủ đề gây tranh luận giữa các học giả, và sinh viên trung cấp cần nhận biết rằng hệ thống thể (aspectual system) được mô tả ở đây chỉ là một cách giải thích về cách động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh vận hành. Một số người thích nói rằng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh thực sự có diễn đạt thì, mặc dù theo một cách không hoàn chỉnh. Cuộc tranh luận lâu dài về việc động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh thuộc hệ thống thì hay hệ thống thể là không thể giải quyết, và trong mọi trường hợp, vốn được định nghĩa sai lạc. Tốt hơn hết là gác qua cuộc tranh luận “hoặc thì hoặc thể,” nhận biết rằng các ngôn ngữ cổ đã dùng nhiều kỹ thuật khác nhau để đặt các sự kiện trong thời gian một cách cụ thể, và rằng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh trong mọi trường hợp đã chuyển tiếp sang một hệ thống thì hoàn chỉnh, vốn được thấy rõ trong Hệ thống học giả Hê-bơ-rơ (Rabbinic Hebrew), được dùng như một ngôn ngữ nói từ giữa thế kỷ thứ hai trước Công nguyên cho đến khoảng năm 200 sau Công nguyên.

Vậy thì, sinh viên trung cấp nên nghĩ về động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh như được đặc trưng chủ yếu bởi thể (aspect), hơn là có một hệ thống thì chính xác về mặt hình thái. Hệ thống thể này chỉ ra trước hết, hình dạng của một tình huống trong thời gian, và thứ hai, loại hành động. Phân loại ngữ pháp thứ nhất (Aspekt) xác định cấu trúc của một hành động là bất định hay tiếp diễn (“hoàn thành” hoặc “chưa hoàn thành”). Phân loại thứ hai (Aktionsart) chỉ về loại hay dạng hành động liên quan đến thể chủ động, tính động, tính chuyển tiếp, sự gây khiến, và nhiều hành động phản thân. Phân loại sau (Aktionsart) được đánh dấu bởi các gốc động từ (stem); phân loại trước (Aspekt) được đánh dấu bởi các sự biến cách động từ.

3.1 STEM (Gốc Động Từ)
#

Tất cả các động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh được hình thành trong một hệ thống các gốc động từ, dựa trên những mẫu đều đặn của nguyên âm và phụ tố (tiền tố và hậu tố) được dùng trên gốc động từ vốn thường gồm ba phụ âm. Các gốc động từ này tạo ra nhiều sắc thái khác nhau của ý nghĩa nơi mỗi gốc động từ.

Gốc động từ đơn giản nhất trong số đó là Qal, hay còn gọi là gốc động từ “nhẹ,” và phần còn lại, tức các gốc động từ chuyển hóa, khác biệt bởi việc thêm vào các sắc thái bị động, phản thân, và nhiều sắc thái gây khiến khác. Nói chung, Qal và Niphal không có yếu tố gây khiến trong sự khẳng định của chúng, phân biệt với các gốc động từ khác. Piel, Pual, và Hithpael có “sự gây khiến với sắc thái chịu đựng” (nghĩa là, với trạng thái bị động), trong khi Hiphil và Hophal biểu thị “sự gây khiến với sắc thái tác nhân” (nghĩa là, với sự tham dự chủ động).

3.1.1 Qal (Gốc Từ thuộc Phân Loại G)
#

Qal là gốc động từ “chủ động đơn giản.” Thể của chủ ngữ chính là chủ động (xem trục dọc trong phần phụ lục). Bởi vì không có yếu tố gây khiến, Qal không có chủ ngữ thứ yếu (cột thứ nhất của trục ngang trong Phụ lục B). Do đó, gốc động từ này được gọi là “đơn giản.”

(a) Fientive – mô tả hành động, chuyển động, hoặc sự thay đổi trạng thái. Động từ fientive có thể là ngoại động từ (לָקַח אֹתוֹ אֱלֹהִים, “Đức Chúa Trời đem người đi” [Sáng-thế Ký 5:24]; וַיִּיצֶר יְהוָה אֱלֹהִים אֶת־הָאָדָם, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời nắn nên loài người” [Sáng-thế Ký 2:7]) hoặc nội động từ (וְגַם־הַרְבֵּה נָפַל מִן־הָעָם וַיָּמֻתוּ, “lại có nhiều người trong dân sự sa ngã và chết” [II Sa-mu-ên 1:4]; וְאָבַד כָּל־בֵּית אַחְאָב, “cả nhà A-háp sẽ bị diệt” [II Các Vua 9:8]). Một số động từ fientive có thể vừa là ngoại động từ vừa là nội động từ, như các ví dụ về מלא: וְהֶעָנָן מָלֵא אֶת־בֵּית יְהוָה, “mây đầy dẫy nhà của Đức Giê-hô-va” [I Các Vua 8:10]; כִּי יִמְלְאוּ יָמֶיךָ, “khi các ngày ngươi được trọn” [II Sa-mu-ên 7:12].

(b) Stative – mô tả một trạng thái hoặc phẩm chất của chủ ngữ. Các bản dịch tiếng Anh thường không phân biệt giữa động từ stative và tính từ vị ngữ: וַיִּכְבַּד לֵב פַּרְעֹה, “lòng Pha-ra-ôn cứng lại” [Xuất Ê-díp-tô Ký 9:7]; וַתִּקְטַן עוֹד זֹאת בְּעֵינֶיךָ, “Điều đó còn nhỏ mọn trong mắt Chúa” [II Sa-mu-ên 7:19]; אֲנִי זָקַנְתִּי, “Ta đã già” [Giô-suê 23:2].

3.1.2 Niphal (Gốc Từ thuộc Phân Loại N)
#

Niphal là gốc động từ “trung-bị động đơn giản” và “phản thân đơn giản.” Thể của chủ ngữ chính là trung-bị động hoặc phản thân (xem trục dọc trong phần phụ lục). Bởi vì không có yếu tố gây khiến, Niphal không có chủ ngữ thứ yếu (cột thứ nhất của trục ngang trong Phụ lục B). Do đó, gốc động từ này được gọi là “đơn giản.”

Niphal nguyên thủy vốn là phản thân đơn giản, tức phản thân của Qal. Về sau, nó dần dần tiếp nhận ý nghĩa bị động của Qal khi hình thái bị động của Qal không còn được dùng nữa. Các nhà ngữ pháp đôi khi dùng thuật ngữ “trung-bị động” cho Niphal, mặc dù Waltke và O’Connor lại nói đến một “khái niệm trung-phản thân,” từ đó họ phân loại ra bốn ý nghĩa đặc thù: (a) trung, (b) bị động, (c) tính từ (tính từ đơn giản, khởi sự, nguyên mẫu từ), và (d) trạng thái kép (phản thân, lợi ích, hỗ tương, dung nạp, phản thân gây khiến). Họ còn nói thêm rằng: “Trong tất cả các cách dùng đặc thù của Niphal, chúng ta thấy ý niệm chung rằng hành động hay trạng thái được diễn đạt bởi động từ tác động đến chính chủ ngữ (như trong thể trung) hoặc đến lợi ích của nó (như trong thể phản thân). Các loại 1, 2, và 3 có thể được gắn với ý niệm trung, còn các loại khác thì với ý niệm phản thân. Ngay cả trong các cách dùng trạng thái kép, nơi chủ ngữ vừa là tác nhân vừa là đối tượng của hành động, lựa chọn chính yếu vẫn là chủ ngữ bị tác động bởi hành động.”

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại động từ thuộc Niphal.

(a) Bị động – thường là hình thái bị động của Qal. Đây là ý nghĩa đơn giản nhất, mặc dù không nhất thiết là ý nghĩa chính yếu. Như vậy, קבר (“chôn”) và אכל (“ăn”) có thể trở thành “được chôn” và “được ăn” trong Niphal: שָׁם אֶקָּבֵר, “tại đó ta sẽ được chôn” (Ruth 1:17); và בְּבַיִת אֶחָד יֵאָכֵל, “trong một nhà thì phải ăn” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:46). Cách dùng Niphal trong tiếng Hê-bơ-rơ là “bị động chưa hoàn chỉnh.” Trong tiếng Anh, bị động là một cấu trúc, không phải là một phạm trù ý nghĩa động từ. Thí dụ: “the students read the lesson” có thể chuyển thành bị động: “the lesson was read by the students.” Bị động chưa hoàn chỉnh nghĩa là sự biến đổi này nhưng không có tác nhân: “the lesson was read.” Người nói không quan tâm đến việc xác định tác nhân của hành động. Tất cả các hình thái bị động trong tiếng Hê-bơ-rơ đều thuộc loại này; các cấu trúc có tác nhân được chỉ định hầu như không tồn tại.

(b) Trung – các động từ vốn thường được dùng trong cấu trúc bị động có thể được dùng theo nghĩa gần như chủ động, nhưng với đối tượng trở thành chủ ngữ của động từ. Khác với bị động chưa hoàn chỉnh, động từ trung có hình thức chủ động, nhưng ý nghĩa (tức là thể) theo một cách nào đó lại đảo ngược. Đối tượng của động từ chủ động trở thành chủ ngữ của động từ trung. Thí dụ trong tiếng Anh: “she opened the gate” là động từ chủ động ngoại động từ, nhưng trong “the gate opened,” đối tượng “cổng” đã trở thành chủ ngữ của động từ trung. Ví dụ trong tiếng Hê-bơ-rơ: נִפְתְּחוּ הַשָּׁמַיִם, “các từng trời mở ra” (Ê-xê-chi-ên 1:1); וַתִּבָּקַע הָאָרֶץ בְּקוֹלָם, “đất rẽ ra bởi tiếng của họ” (I Các Vua 1:40); וַיֵּרָא אֵלָיו יְהוָה, “Đức Giê-hô-va hiện ra cùng Áp-ra-ham” (Sáng-thế Ký 18:1).

(c) Phản thân – hành động vì chính mình, hoặc liên quan đến chính mình. Chủ ngữ đồng thời cũng là đối tượng (người nhận) của hành động, vì vậy cách dùng này của Niphal có thể được gọi là cách dùng trạng thái kép. Trong nhiều ngôn ngữ, một đại từ phản thân được thêm vào để làm rõ đối tượng, nhưng trong động từ Niphal của tiếng Hê-bơ-rơ thì không cần đại từ phản thân.

Trong phần lớn các cách dùng phản thân, chủ ngữ và đối tượng chỉ về cùng một người hay một vật: וְאִנָּקְמָה מֵאֹויְבַי, “Ta sẽ báo thù chính mình trên kẻ thù ta” (Ê-sai 1:24); וְנִמְכַּר־לְךָ לֹא־תַעֲבֹד בּוֹ עֲבֹדַת עָבֶד, “[Nếu] họ bán mình cho ngươi, thì ngươi chớ bắt họ làm việc như một đầy tớ” (Lê-vi Ký 25:39). Hình thái phản thân cũng có thể xuất hiện cùng với một cụm giới từ, như trong mệnh lệnh Niphal thường gặp: הִשָּׁמֶר לְךָ, “hãy giữ lấy mình,” hoặc “hãy cẩn thận” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:12); בִּי נִשְׁבַּעְתִּי נְאֻם־יְהוָה, “‘Ta đã thề bởi chính mình,’ Đức Giê-hô-va phán” (Sáng-thế Ký 22:16).

Ngoài ra, phản thân cũng có thể chỉ sự cho phép (dung nạp): אֶדָּרֵשׁ, “Ta sẽ cho phép chính mình được cầu hỏi” (Ê-xê-chi-ên 36:37); וְנַעְתַּר לָהֶם וּרְפָאָם, “Ngài sẽ nhậm lời cầu xin của họ (nghĩa đen: Ngài sẽ cho phép chính mình được khẩn cầu) và chữa lành họ” (Ê-sai 19:22); נִדְרַשְׁתִּי לְלוֹא שָׁאָלוּ נִמְצֵאתִי לְלֹא בִקְשֻׁנִי, “Ta đã cho phép chính mình được tìm bởi kẻ chẳng cầu hỏi, Ta đã cho phép chính mình được gặp bởi kẻ chẳng tìm kiếm” (Ê-sai 65:1). Cấu trúc hỗ tương có thể được xem như một biến thể số nhiều của phản thân: וַיֵּאָסְפוּ אֵלָיו כָּל־בְּנֵי לֵוִי, “hết thảy con cháu Lê-vi đều nhóm lại cùng người” (Xuất Ê-díp-tô Ký 32:26). Trong một gốc động từ đặc biệt (ידע), Niphal mang ý nghĩa phản thân gây khiến, tương tự như Hithpael: וְנוֹדַע יְהוָה לְמִצְרַיִם, “Đức Giê-hô-va sẽ khiến chính mình được biết đến cùng dân Ê-díp-tô” (Ê-sai 19:21); וּשְׁמִי יְהוָה לֹא נוֹדַעְתִּי לָהֶם, “Nhưng bởi danh Ta là Đức Giê-hô-va, Ta chưa khiến chính mình được biết đến cùng họ” (Xuất Ê-díp-tô Ký 6:3).

(d) Tính trạng (Stative) – mô tả trạng thái của chủ ngữ được tạo ra bởi hành động của động từ: וּבְיוֹם הַשַּׁבָּת יִפָּתַח, “ngày Sa-bát thì cửa sẽ mở” (Ê-xê-chi-ên 46:1); וְאַל־תֵּעָצֵבוּ, “chớ buồn rầu” (Nê-hê-mi 8:11). Niphal tính trạng thường tương đương với một trạng thái tính từ đơn giản, và cũng thường giống với bị động trong bản dịch. Thí dụ, động từ נִשְׁבַּר có thể mang nghĩa “bị bẻ gãy” hoặc “bị tan vỡ”: כִּי־נִשְׁבְּרוּ לִפְנֵי־יְהוָה, “vì chúng bị bẻ gãy trước mặt Đức Giê-hô-va” (II Sử Ký 14:12 [trong bản tiếng Anh: II Sử Ký 14:13]).

3.1.3 Piel (Gốc Từ thuộc Phân Loại D)
#

Piel là gốc động từ “chủ động gây khiến/thực hiện trạng thái,” với sắc thái chịu đựng (xem phụ lục về loại và thể), và là gốc động từ khó nắm bắt nhất trong các gốc động từ khi xác định chức năng của nó. Một học giả hàng đầu đã cảnh báo về sự vô ích trong việc tìm kiếm một sự giải thích thống nhất và trung tâm cho cách dùng của gốc động từ này: “Thật vô ích khi cố tìm một lời giải thích duy nhất để giải thích tất cả sức mạnh biến đổi của gốc động từ D. Nó đơn giản chỉ là một hình thức.”

Truyền thống xưa kia xem Piel là mang nghĩa tăng cường. Các sách ngữ pháp cổ định nghĩa ý tưởng này là “tự mình hăng hái bận rộn với hành động được chỉ định,” và thậm chí còn liên hệ việc nhân đôi phụ âm thứ hai của động từ trong Piel như một biểu hiện bên ngoài của sự tăng cường này. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của sự hiểu biết sâu hơn ngày nay về các ngôn ngữ Semitic nói chung, chúng ta không còn có thể gọi Piel là cơ bản và chủ yếu mang nghĩa tăng cường nữa. Hơn nữa, từ lâu người ta đã giả định rằng vì các gốc động từ chuyển hóa được xây dựng về mặt hình thái trên hình thức cơ bản của Qal, nên cách dùng và chức năng ngữ nghĩa của các gốc động từ ấy có thể được định nghĩa chủ yếu bằng sự liên hệ với Qal (như tăng cường của Qal, gây khiến của Qal, bị động của Qal, v.v.). Hiện nay chúng ta nhận biết rằng mặc dù những liên hệ ngữ nghĩa như vậy có thể hiện diện trong nhiều động từ thuộc Qal và Piel, nhưng không phải lúc nào cũng thế, và mỗi gốc động từ cần được xem là độc lập.

Nhiều động từ Piel đơn giản không thể được đặt vào một trong các phạm trù theo sau. Trong một số trường hợp, động từ có thể xuất hiện trong cả Qal và Piel mà không có sự khác biệt rõ ràng về nghĩa.

Piel thường diễn đạt việc tạo ra một trạng thái. Như vậy, Piel tập trung vào sự gây khiến và kết quả của hành động, mặc dù với sắc thái chịu đựng hơn là sắc thái tác nhân (như trong Hiphil). Mối quan tâm chính yếu không phải là biến cố xảy ra cho chủ ngữ, nhưng là tình trạng mà nó đạt được. Về thực chất, đây là một mệnh đề gây khiến mang tính chất tính từ. Nghiên cứu quan trọng của Jenni đã đề nghị một sự phân biệt cơ bản giữa Piel và Hiphil như là sự khác nhau giữa việc áp đặt một trạng thái (tính từ) và việc áp đặt một tiến trình (động từ).

Thí dụ, dùng động từ חָיָה (“sống” trong Qal), thì Piel là “làm cho được sống,” trong khi Hiphil là “làm cho sống.” Sự phân biệt ở đây là giữa việc làm cho trở thành một cái gì đó hoặc làm cho thực hiện một việc gì đó. Cụ thể, với các động từ nội động từ trong Qal, chúng ta dùng thuật ngữ factitive để chỉ một nguyên nhân tạo ra một trạng thái (khác với nguyên nhân tạo ra một biến cố, tức causative).

Cách dùng factitive của Piel chỉ định, không xét đến tiến trình, việc tạo ra trạng thái được mô tả bởi một tính từ. Đối tượng trải nghiệm hành động này như một “tình huống ngẫu nhiên” (ngụ ý rằng một phẩm chất hay tình trạng không phải là bản chất của người hay vật được nói đến). Với một số động từ ngoại động từ trong Qal, Piel mang nghĩa kết quả, tức là nó chỉ việc tạo ra kết quả của hành động được chỉ định bởi gốc động từ cơ bản, hành động ấy có thể được diễn đạt bằng một tính từ, và không xét đến tiến trình thực sự của biến cố. Trong phân tích của chúng tôi, chúng tôi theo cách của Waltke và O’Connor là dành chữ “gây khiến” cho Hiphil, vốn gây ra một hành động hơn là một trạng thái. Trong Piel, đối tượng của sự gây khiến ở trong tình trạng chịu ảnh hưởng của hành động và vốn dĩ mang tính bị động phần nào (xem cột thứ hai của trục ngang trong Phụ lục B).

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại động từ thuộc Piel.

(a) Factitive – làm cho nhiều động từ vốn là nội động từ trong Qal trở thành ngoại động từ (phần lớn là động từ tính trạng, mặc dù một vài động từ hành động cũng là nội động từ). Bằng cách chuyển các động từ nội động từ của Qal thành ngoại động từ, Piel factitive chỉ một nguyên nhân tạo ra một trạng thái (hơn là một nguyên nhân tạo ra một hành động; xem Hiphil causative trong phần 3.1.6, a). Như vậy, các nội động từ Qal thường trở thành Piel factitive: וּבְיָדְךָ לְגַדֵּל, “trong tay ngươi có quyền làm cho lớn” (I Sử Ký 29:12); וַאֲגַדְּלָה שְׁמֶךָ, “Ta sẽ làm cho danh ngươi lớn” (Sáng-thế Ký 12:2); אֲנִי יְהוָה מְקַדִּשְׁכֶם, “Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng làm cho các ngươi nên thánh” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:13); יְהוָה מֵמִית וּמְחַיֶּה, “Đức Giê-hô-va khiến chết và khiến sống lại” (I Sa-mu-ên 2:6); וַיְאַבְּדֵם יְהוָה, “Đức Giê-hô-va diệt chúng nó” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 11:4). Cách dùng này thường mang nghĩa kết quả, tức Piel có thể tạo ra một trạng thái (hay “kết quả”) tương ứng với ý nghĩa động từ của một ngoại động từ Qal: שִׁבַּר אֶת־הַמַּצֵּבֹת, “người bẻ gãy các trụ đá” (II Các Vua 18:4); לִמַּדְתִּי אֶתְכֶם חֻקִּים וּמִשְׁפָּטִים, “Ta đã dạy các ngươi luật lệ và mạng lịnh” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:5).

(b) Denominative – chỉ một ý nghĩa động từ được chuyển hóa từ một danh từ hay thực từ (substantive). Hình thức danh từ là chính yếu, và động từ được chuyển hóa từ nó. Piel là gốc động từ thường được dùng nhất để hình thành các động từ denominative (mặc dù cũng có thể thấy trong Hithpael và Hiphil denominative): לֹא־נָפַל דָּבָר אֶחָד מִכֹּל דְּבָרָיו הַטּוֹב אֲשֶׁר דִּבֶּר בְּיַד מֹשֶׁה עַבְדּוֹ, “chẳng một lời nào trong mọi lời tốt lành mà Ngài đã phán bởi môi Môi-se, kẻ tôi tớ Ngài, bị sai đi” (I Các Vua 8:56); זַמְּרוּ לַיהוָה בְּכִנּוֹר בְּכִנּוֹר וְקוֹל זִמְרָה, “Hãy hát ngợi khen Đức Giê-hô-va bằng đàn cầm, bằng đàn cầm và tiếng hát ngợi khen” (Thi-thiên 98:5).

(c) Pluralitive – đánh dấu sự lặp lại của hành động được chỉ định bởi Qal. Nhiều động từ trong Piel phản ánh hành động nhiều lần, lặp đi lặp lại, hoặc bận rộn. Cách dùng này của Piel có thể mang tính chất lặp lại theo thời gian, hoặc mang tính chất số nhiều trong không gian, và thường mang sắc thái tăng cường, mặc dù sức mạnh tăng cường này khó nhận diện trong phần lớn các trường hợp: כָּל־הַיּוֹם קֹדֵר הִלַּכְתִּי, “trọn ngày ta đi vòng quanh mà buồn rầu” (Thi-thiên 38:7); בְּחֻקּוֹתַי יְהַלֵּךְ, “(người công bình) bước đi trong luật lệ ta” (Ê-xê-chi-ên 18:9); וְנוֹעַ יָנוּעוּ בָנָיו וְשִׁאֵלוּ, “Nguyện con cái người đi lang thang và xin ăn (nghĩa đen: hỏi đi hỏi lại)” (Thi-thiên 109:10); הָרֵס תֶּהֶרְסֵם וְשַׁבֵּר תְּשַׁבֵּר מַצֵּבֹתֵיהֶם, “ngươi phải phá hủy chúng nó và bẻ gãy các trụ đá của chúng nó” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:24).

(d) Declarative – liên quan đến một loại tuyên bố, phát ngôn, hoặc sự đánh giá, mặc dù bản chất chính xác của các động từ này và mối liên hệ của chúng với factitive vẫn còn tranh luận: חָפַצְתִּי צַדְּקֶךָ, “Ta muốn xưng ngươi là công bình” (Gióp 33:32); מִנִּסְתָּרוֹת נַקֵּנִי, “Xin xưng ta là vô tội khỏi các lỗi kín giấu” (Thi-thiên 19:13); טַמֵּא יְטַמְּאֶנּוּ הַכֹּהֵן, “Thầy tế lễ sẽ tuyên bố người ấy là ô uế” (Lê-vi Ký 13:44).

Như đã ghi nhận, có những cách dùng của Piel không thể phân loại, và thực tế, chúng đồng nghĩa với gốc động từ Qal, hoặc mang nghĩa chủ động đơn giản tương đương: בִּקֵּשׁ יְהוָה לוֹ אִישׁ כִּלְבָבוֹ, “Đức Giê-hô-va đã tìm cho mình một người theo lòng Ngài” (I Sa-mu-ên 13:14); וַיַּעַשׂ נֹחַ כְּכֹל אֲשֶׁר צִוָּה אֹתוֹ אֱלֹהִים כֵּן עָשָׂה, “Nô-ê làm theo mọi điều Đức Chúa Trời đã phán dặn người, thì người làm như vậy” (Sáng-thế Ký 6:22).

3.1.4 Pual (Gốc Từ thuộc Phân Loại Dp)
#

Pual là gốc động từ “bị động gây khiến/thực hiện trạng thái,” với sắc thái chịu đựng (xem phụ lục về loại và thể), và là hình thức bị động tương ứng với Piel. Do đó, nó bao gồm cùng bốn chức năng của Piel, nhưng trong thể bị động (factitive/kết quả, denominative/danh từ, pluralitive/lặp lại, và declarative/phát ngôn).

(a) Factitive/kết quả – כְּתֵפֹת עָשׂוּ-לוֹ חֹבְרֹת עַל-שְׁנֵי קְצוֹתָו חֻבָּר, “Họ làm cho nó những miếng vai gắn liền ở hai đầu nó” (Xuất Ê-díp-tô Ký 39:4); וְהַפִּשְׁתָּה וְהַשְּׂעֹרָה נֻכָּתָה, “Cây lanh và cây lúa mạch đều bị hư mất” (Xuất Ê-díp-tô Ký 9:31).

(b) Denominative/danh từ – וְאֻכְלוּ אֹתָם אֲשֶׁר כֻּפַּר בָּהֶם, “Chúng sẽ ăn những vật bởi đó sự chuộc tội được thực hiện” (Xuất Ê-díp-tô Ký 29:33).

(c) Pluralitive/lặp lại – וְאֵת שְׂעִיר הַחַטָּאת דָּרֹשׁ דָּרַשׁ מֹשֶׁה וְהִנֵּה שֹׂרָף, “Môi-se tra xét kỹ về con dê dùng làm của lễ chuộc tội, và kìa nó đã bị thiêu” (Lê-vi Ký 10:16).

(d) Declarative/phát ngôn – אֵלֶּה בִּקְשׁוּ כְתָבָם הַמִּתְיַחְשִׂים וְלֹא נִמְצָאוּ וַיְגֹאֲלוּ מִן־הַכְּהֻנָּה, “Các người này tra xét gia phổ của mình, nhưng không tìm được; vậy nên họ bị kể là ô uế khỏi chức tế lễ” (Ê-xơ-ra 2:62).

Một đặc điểm nổi bật của Pual là tỉ lệ rất cao khi nó xuất hiện trong phân từ (participle). Phân từ chiếm không dưới 40 phần trăm của tất cả các hình thức Pual, phần lớn chỉ về một vật hay một người mà trong đó một tình trạng mới đã được đạt đến: וְהִנֵּה יָדוֹ מְצֹרַעַת כַּשָּׁלֶג, “tay người bị phung, trắng như tuyết” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:6); רָשָׁע מַכְתִּיר אֶת־הַצַּדִּיק עַל־כֵּן יֵצֵא מִשְׁפָּט מְעֻקָּל, “Kẻ ác vây quanh người công bình; bởi đó sự xét đoán ra trái ngược” (Ha-ba-cúc 1:4); וּמֵהֶם מְמֻנִּים עַל־הַכֵּלִים וְעַל כָּל־כְּלֵי הַקֹּדֶשׁ, “Trong vòng chúng có kẻ được lập lên coi sóc các khí dụng và mọi khí dụng của nơi thánh” (I Sử Ký 9:29).

3.1.5 Hithpael (Gốc Từ thuộc Phân Loại HtD)
#

Hithpael là gốc động từ “phản thân gây khiến/thực hiện trạng thái,” với sắc thái chịu đựng (xem phụ lục về loại và thể). Ý nghĩa sơ khởi của Hithpael là hình thức phản thân-hỗ tương (double-status) tương ứng với Piel, và thứ yếu là một hình thức bị động. Tuy nhiên, các động từ Hithpael là nội động từ và thường mang nghĩa phản thân hoặc hỗ tương liên hệ đến các hình thức chủ động tương ứng của Qal, Piel, hoặc Hiphil từ cùng một gốc động từ.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại động từ thuộc Hithpael.

(a) Reflexive (Phản thân) – chỉ rằng chủ ngữ của một động từ cũng là đối tượng ngầm định của nó. Nói cách khác, tân ngữ trực tiếp, dù không được chỉ rõ, cũng chính là chủ ngữ của động từ: הִתְחַבְּאוּ, “họ ẩn mình” (I Sa-mu-ên 14:11); וַיִּתְחַבֵּא הָאָדָם וְאִשְׁתּוֹ מִפְּנֵי יְהוָה, “người và vợ mình đều ẩn mình khỏi mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 3:8); הַכֹּהֲנִים לֹא־הִתְקַדָּשׁוּ, “các thầy tế lễ chưa tự làm mình nên thánh” (I Sử Ký 30:3). Trong một số gốc động từ, chủ ngữ của Hithpael phản thân không đồng nhất với tân ngữ trực tiếp (có thể được biểu hiện), nhưng lại đồng nhất với tân ngữ gián tiếp: וַיִּתְפַּשֵּׁט יְהוֹנָתָן אֶת־הַמְּעִיל, “Giô-na-than cởi áo choàng (tân ngữ trực tiếp) khỏi mình (tân ngữ gián tiếp)” (I Sa-mu-ên 18:4).

(b) Reciprocal (Hỗ tương) – chỉ rằng hai hay nhiều chủ ngữ hành động trong mối liên hệ với nhau: לְכָה נִתְרָאֶה פָנִים, “Hãy đến, chúng ta đối mặt nhau” (II Các Vua 14:8); הִתְקַשְּׁרוּ עָלָיו עֲבָדָיו, “Các tôi tớ người hiệp mưu nghịch cùng người” (II Sử Ký 24:25); וָאֶשְׁמַע מִדַּבֵּר אֵלַי, “Ta nghe có người nói cùng ta” (Ê-xê-chi-ên 43:6).

(c) Iterative (Lặp lại) – chỉ hành động được lặp đi lặp lại: לַהַט הַחֶרֶב הַמִּתְהַפֶּכֶת, “ngọn lửa của gươm sáng láng cứ trở đi trở lại” (Sáng-thế Ký 3:24); וַיִּתְאַבֵּל עַל־בְּנוֹ יָמִים רַבִּים, “người [Gia-cốp] để tang con mình lâu ngày” (Sáng-thế Ký 37:34); אֶת־הָאֱלֹהִים הִתְהַלֵּךְ־נֹחַ, “Nô-ê đồng đi cùng Đức Chúa Trời” (Sáng-thế Ký 6:9).

(d) Denominative – chỉ một ý nghĩa động từ được dẫn xuất từ một danh từ hay thực từ: וּבִנְבִיאֵי שֹׁמְרוֹן רָאִיתִי תִפְלָה הִנַּבְּאוּ בַבַּעַל וַיַּתְעוּ אֶת־עַמִּי אֶת־יִשְׂרָאֵל, “Trong các tiên tri tại Sa-ma-ri, ta thấy sự gớm ghiếc: chúng nói tiên tri nhân danh Ba-anh và làm dân ta, tức Y-sơ-ra-ên, lạc lối” (Giê-rê-mi 23:13); וַיִּתְאַנַּף יְהוָה מְאֹד בְּיִשְׂרָאֵל, “Đức Giê-hô-va nổi giận cùng Y-sơ-ra-ên cách dữ dội” (II Các Vua 17:18).

3.1.6 Hiphil (Gốc Từ thuộc Phân Loại H)
#

Hiphil là gốc động từ “chủ động gây khiến,” với sắc thái tác nhân (xem phụ lục về loại và thể). Khác với Piel gây khiến, nơi trọng tâm là việc tạo ra một trạng thái hay tình huống, Hiphil gây khiến diễn đạt nguyên nhân của một hành động. Piel gây khiến thường tập trung vào kết quả của hành động, với sắc thái chịu đựng (nghĩa là, đối tượng bị chuyển một cách thụ động vào một trạng thái hay tình huống mới). Chủ ngữ của Piel gây khiến làm cho đối tượng trở thành trạng thái hay tình huống đó (xem Piel factitive và resultative trong phần 3.1.3, a). Trái lại, Hiphil gây khiến thường liên quan đến việc tạo ra một biến cố, lần này với sắc thái tác nhân. Trong Hiphil gây khiến, đối tượng tham dự vào biến cố được chỉ định bởi gốc động từ.

Nói chung, sắc thái gây khiến cơ bản của Hiphil sẽ được xác định bởi loại gốc động từ cụ thể được dùng, và thường bởi ý nghĩa của gốc động từ đó trong Qal, cũng như việc nó là ngoại động từ hay nội động từ trong Qal. Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại động từ thuộc Hiphil.

(a) Causative (Gây khiến) – chỉ việc tạo ra ý nghĩa của một động từ xuất hiện trong Qal hoặc Niphal. Nhưng sự gây khiến này mang nhiều sắc thái khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của gốc động từ liên quan.

(a.1) Các ngoại động từ Qal thường trở thành ngoại động từ kép trong Hiphil; nghĩa là, chúng có hai tân ngữ: một tân ngữ “gây khiến” và một tân ngữ của ý nghĩa động từ được diễn đạt trong gốc động từ. Ví dụ trong Phục-truyền Luật-lệ Ký 3:28, tân ngữ của sự gây khiến được biểu hiện trong bản dịch là “chúng,” và tân ngữ của ý nghĩa động từ là “đất”: וְהוּא יַנְחִיל אֹתָם אֶת־הָאָרֶץ, “người [Giô-suê] sẽ khiến chúng nhận lấy đất.”

Tuy nhiên, đôi khi tân ngữ thứ hai bị lược bỏ, khiến cho vị ngữ chỉ còn là ngoại động từ đơn. Điều này thường xảy ra khi các tân ngữ của sự gây khiến là cá nhân, hoặc khi chúng là danh từ trừu tượng hay hành động lời nói: לֹא תָרִיעוּ וְלֹא־תַשְׁמִיעוּ אֶת־קוֹלְכֶם, “Chớ kêu la, cũng chớ khiến tiếng các ngươi được nghe” (Giô-suê 6:10). Như vậy, các động từ vốn là ngoại động từ trong Qal, nhưng có thể xuất hiện không có tân ngữ, thì trong Hiphil có thể là ngoại động từ đơn hoặc kép: וַאדֹנָי הִשְׁמִיעַ אֶת־מַחֲנֵה אֲרָם קוֹל רֶכֶב קוֹל סוּס קוֹל חַיִל גָּדוֹל, “Đức Chúa Trời khiến đạo quân A-ram nghe tiếng xe, tiếng ngựa, và tiếng đạo binh lớn” (II Các Vua 7:6). Trong trường hợp này, שמע có hai tân ngữ: đạo quân A-ram và tiếng động. Nhưng cùng một gốc động từ này có thể chỉ có một tân ngữ trong Hiphil gây khiến: מִשָּׁמַיִם הִשְׁמַעְתָּ דִּין, “Từ trên trời, Ngài đã phán xét” (Thi-thiên 76:9).

(a.2) Các nội động từ Qal và Niphal trở thành ngoại động từ đơn trong Hiphil; nghĩa là, chúng có một tân ngữ. Phổ biến nhất trong loại này là một nhóm lớn các động từ hành động nội động từ Qal chỉ sự chuyển động: אֲנִי יְהוָה אֲשֶׁר הוֹצֵאתִיךָ מֵאוּר כַּשְׂדִּים, “Ta là Đức Giê-hô-va đã đem ngươi ra khỏi U-rơ của người Canh-đê” (Sáng-thế Ký 15:7); וַיָּשֶׁב יְהוָה עֲלֵיהֶם אֶת־מֵי הַיָּם, “Đức Giê-hô-va khiến nước biển trở lại trên chúng” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:19).

Các gốc động từ vốn mang tính trạng trong Qal thường cũng trở thành ngoại động từ đơn trong Hiphil. Ở đây, thuật ngữ factitive có thể được dùng để chỉ bản chất chuyển thành ngoại động từ của Hiphil, giống như cách dùng trong Piel: אַל־תַּקְשׁוּ לְבַבְכֶם, “Chớ cứng lòng các ngươi” (Thi-thiên 95:8); אֲנִי אַקְשֶׁה אֶת־לֵב פַּרְעֹה, “Ta sẽ làm cho lòng Pha-ra-ôn cứng lại” (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:3); הוֹבִישׁ יְהוָה אֶת־מֵי יַם־סוּף, “Đức Giê-hô-va làm cho nước biển Sô-phơ khô đi” (Giô-suê 2:10); וַתַּגְדֵּל חַסְדְּךָ, “Ngươi đã làm cho sự nhân từ của ngươi trở nên lớn” (Sáng-thế Ký 19:19).

(b) Stative (Tính trạng) – chỉ sự gây khiến nội động từ của các gốc động từ vốn cũng mang tính trạng trong Qal, trong đó hành động vẫn gắn với chủ ngữ: וּפַרְעֹה הִקְרִיב, “Pha-ra-ôn đến gần” (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:10); וַתָּזִידוּ, “các ngươi đã trở nên kiêu ngạo” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:43).

Đôi khi Hiphil tính trạng mang nghĩa khởi sự (ingressive), tức chỉ sự bước vào một trạng thái hay tình huống và sự tiếp tục trong trạng thái hay tình huống đó: חֲנֹךְ לַנַּעַר עַל־פִּי דַרְכּוֹ גַּם כִּי־יַזְקִין לֹא־יָסוּר מִמֶּנָּה, “Hãy dạy cho trẻ con theo đường nó phải đi; dầu khi nó già cũng không hề lìa khỏi đó” (Châm-ngôn 22:6).

Trong những trường hợp khác, tân ngữ đơn giản bị lược bỏ, để lại ý nghĩa nội động từ cho một số gốc động từ trong Hiphil: הִקְשִׁיב בְּקוֹל תְּפִלָּתִי, “Ngài đã lắng nghe tiếng cầu nguyện ta” (Thi-thiên 66:19). Sau cùng, sự vắng mặt của tân ngữ cũng có thể giải thích cho một số Hiphil mang tính trạng từ: הֵיטַבְתָּ, “Ngươi đã làm điều tốt” (I Các Vua 8:18); הִשְׁחִיתוּ, “Chúng nó đã bại hoại” (Thi-thiên 14:1).

(c) Declarative (Tuyên bố) – liên quan đến sự công bố, phát ngôn, hoặc sự đánh giá: וְהִצְדִּיקוּ אֶת־הַצַּדִּיק וְהִרְשִׁיעוּ אֶת־הָרָשָׁע, “các quan xét sẽ tha (hoặc xưng công bình) cho người công bình và lên án (hoặc xưng là ác) kẻ ác” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 25:1).

(d) Denominative – chỉ một ý nghĩa động từ được dẫn xuất từ một danh từ hay thực từ. Hình thức danh từ là chính yếu, và động từ được dẫn xuất từ nó: וְלֹא הֶאֱזִין אֲלֵיכֶם, “Ngài (Đức Giê-hô-va) không lắng tai nghe các ngươi” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 1:45); וַיִּגַּשׁ הַפְּלִשְׁתִּי הַשְׁכֵּם וְהַעֲרֵב, “Người Phi-li-tin (Gô-li-át) đến gần buổi sớm và buổi chiều” (I Sa-mu-ên 17:16).

(e) Permissive (Cho phép) – được dùng hiếm hoi, Hiphil chỉ một hành động được đối tượng chấp nhận và được chủ ngữ cho phép: הֶרְאָה אֹתִי אֱלֹהִים גַּם אֶת־זַרְעֶךָ, “Đức Chúa Trời cho ta thấy con cháu ngươi nữa” (Sáng-thế Ký 48:11). Waltke và O’Connor ghi nhận một số cách dùng khác của Hiphil tương tự với nghĩa cho phép, trong đó mối quan hệ giữa chủ ngữ chính và chủ ngữ thứ yếu đòi hỏi nhiều loại tình thái khác nhau trong bản dịch: sự ép buộc, sự chăm lo, sự dung nạp, sự ban cho.

Ngoài sự khó khăn do sự trùng lặp giữa ý nghĩa ngữ nghĩa của một số hình thức Piel và Hiphil, có nhiều động từ Hiphil đơn giản không thể phân loại vào bất kỳ phạm trù nào trong số này. Một số gốc động từ vừa là ngoại động từ vừa là nội động từ trong những ngữ cảnh khác nhau, và chúng ta nên phân tích mỗi gốc động từ dẫn xuất như một hình thức độc lập, không nhất thiết phải gắn kết với các gốc động từ dẫn xuất khác.

3.1.7 Hophal (Gốc Từ thuộc Phân Loại Hp)
#

Hophal là gốc động từ “bị động gây khiến,” với sắc thái tác nhân (xem phụ lục về loại và thể), và là hình thức bị động tương ứng với Hiphil. Do đó, nó bao gồm cùng năm chức năng của Hiphil, nhưng trong thể bị động (gây khiến, tính trạng, tuyên bố, denominative, cho phép). Thường nhất trong Hophal, chủ ngữ bị khiến tham dự vào biến cố được chỉ định bởi gốc động từ; trong khi đó, chủ ngữ của Pual thì được đặt vào một trạng thái hay tình huống.

(a) Causative (Gây khiến) – הַנֹּגֵעַ בָּאִישׁ הַזֶּה וּבְאִשְׁתּוֹ מוֹת יוּמָת, “Ai đụng đến người này hoặc vợ người thì chắc sẽ bị xử tử” (Sáng-thế Ký 26:11); קַח־נָא אֶת־בִּרְכָתִי אֲשֶׁר הֻבָאת לָךְ, “Xin hãy nhận lễ vật ta đã đem đến cho ngươi” (Sáng-thế Ký 33:11).

(b) Stative (Tính trạng) – הָפֵךְ יָדְךָ וְהוֹצִיאֵנִי מִן־הַמַּחֲנֶה כִּי הָחֳלֵיתִי, “Hãy trở tay và đem ta ra khỏi trận, vì ta đã bị thương” (I Các Vua 22:34).

(c) Denominative – וְהָמְלֵחַ לֹא הֻמְלַחַתְּ, “Ngươi không được xát muối” (Ê-xê-chi-ên 16:4); חַיַּת הַשָּׂדֶה הָשְׁלְמָה־לָּךְ, “Thú đồng sẽ hòa thuận cùng ngươi” (Gióp 5:23).

Sự thay đổi thể từ Hiphil sang Hophal cũng có nghĩa rằng trong trường hợp ngoại động từ Qal, chủ ngữ chính của Hiphil không còn được chỉ định nữa, và vì vậy tính ngoại động từ kép bị bỏ đi. Những gốc động từ như vậy sẽ chỉ định một tân ngữ hoặc không có tân ngữ nào: וַיֻּגַּד לְרִבְקָה אֶת־דִּבְרֵי עֵשָׂו, “Lời của Ê-sau được thuật lại cho Rê-bê-ca” (Sáng-thế Ký 27:42). Tương tự, với các nội động từ Qal và Niphal, Hophal thường cũng là nội động từ, nên không có tân ngữ nào được biểu hiện: כְּמַיִם מֻגָּרִים בְּמוֹרָד, “Như nước đổ xuống nơi dốc” (Mi-chê 1:4).

3.1.8 Các Gốc Động Từ Dẫn Xuất Bổ Sung
#

Bảy gốc động từ đã được trình bày ở đây (phần 3.1.1–3.1.7) là những gốc động từ chính yếu của động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh. Ngoài các gốc động từ này, Hê-bơ-rơ Thánh Kinh còn có nhiều gốc động từ khác, vốn hầu như hoàn toàn được hình thành từ nhu cầu tạo ra những mẫu hình tương ứng với bảy gốc động từ chính yếu ấy, nhưng được điều chỉnh cho các gốc động từ yếu. Đặc biệt, các gốc động từ yếu ở giữa (các gốc động từ II-wāw/yōd) phát sinh thêm những gốc động từ dẫn xuất bởi vì Piel, Pual, và Hithpael đòi hỏi sự nhân đôi phụ âm giữa của gốc động từ (xem cột giữa trong phụ lục). Vì không có phụ âm để nhân đôi, các gốc động từ yếu ở giữa (và ở mức độ thấp hơn, các gốc động từ song phụ âm) nhận các gốc động từ dẫn xuất được điều chỉnh để tương ứng với Piel, Pual, và Hithpael. Các gốc động từ phụ tương ứng với Piel là Poel, Polel, và Pilpel; những gốc động từ tương ứng với Pual là Poal, Polal, và Polpal; và những gốc động từ tương ứng với Hithpael là Hithpoel, Hithpolel, và Hithpalpel. Sinh viên trung cấp cần nhận biết những mẫu gốc động từ bất thường này, và phân biệt trong từng trường hợp xem gốc động từ phụ nào tương ứng với một trong bảy gốc động từ chính yếu. Những sắc thái và chức năng ngữ nghĩa được mô tả ở đây cho Piel, Pual, và Hithpael (phần 3.1.3–3.1.5) thường sẽ thích hợp nhất để giải thích các gốc động từ dẫn xuất bổ sung này.

Sinh viên trung cấp cũng cần lưu ý đến sự xuất hiện của gốc động từ Hishtaphel, một gốc động từ phản thân gây khiến với 170 lần xuất hiện. Hình thức này dễ nhận diện, có nghĩa là “sấp mình xuống” trong sự tôn kính: וַיִּשְׁתַּחוּ אַבְרָהָם לִפְנֵי עַם הָאָרֶץ, “Áp-ra-ham sấp mình xuống trước mặt dân trong xứ” (Sáng-thế Ký 23:12); và trong một số ngữ cảnh mang nghĩa “thờ lạy”: וַיִּקֹּד הָאִישׁ וַיִּשְׁתַּחוּ לַיהוָה, “Người bèn cúi đầu và thờ lạy Đức Giê-hô-va” (Sáng-thế Ký 24:26).

Phần lớn các học giả cho rằng hình thức này là Hishtaphel của gốc động từ חוה, một quan điểm được xác nhận bởi sự phát hiện cùng hình thức này trong tiếng Ugaritic, nơi nó rõ ràng là một tiền tố hišt- trên gốc động từ đồng nguyên ḥwy. Tuy nhiên, quan điểm cũ cho rằng hình thức này là Hithpalel phản thân từ gốc động từ שחה vẫn chưa hoàn toàn bị loại bỏ, bởi vì gốc động từ này cũng được chứng thực trong Qal và Hiphil. Trái lại, đa số học giả cho rằng những lần xuất hiện hiếm hoi của שחה (hai lần trong Qal; một lần trong Hiphil) vốn được dẫn xuất thứ yếu từ Hishtaphel của חוה.

3.2 ASPECT (Thể)
#

Như chúng ta đã thấy, phạm trù ngữ pháp Aspekt xác định cấu trúc của một hành động là bất định hoặc tiếp diễn (“hoàn thành” hoặc “chưa hoàn thành”).

Hai hình thái biến cách động từ này chỉ ra thể, vì chúng mô tả hình dạng của một hành động hoặc tình huống trong mối liên hệ với sự trôi qua của thời gian, đặc biệt liên quan đến sự hoàn tất, sự kéo dài, hoặc sự lặp lại. Về mặt thuật ngữ, chúng tôi giữ lại các tên gọi truyền thống “hoàn thành” (perfect) và “chưa hoàn thành” (imperfect), mặc dù chúng tôi hy vọng phần thảo luận ở đây sẽ làm rõ rằng chúng chỉ về hình thức chứ không phải chức năng của động từ. Chúng tôi đã mô tả động từ Hê-bơ-rơ Thánh Kinh là chủ yếu mang tính thể (aspectual), và chỉ thứ yếu mang tính thì (xem ba đoạn đầu của chương này). Do đó, việc dùng các thuật ngữ perfectimperfect là chưa thật thích hợp, vì chúng có thể gợi ý thì quá khứ và thì hiện-tương lai.

Vì lý do này, một số nhà ngữ pháp đã bỏ các thuật ngữ ấy để dùng cách phiên âm đơn giản hơn, như qatal cho perfectyiqtol cho imperfect, trong khi những người khác lại ưa dùng “biến cách hậu tố” (suffix conjugation) cho perfect và “biến cách tiền tố” (prefix conjugation) cho imperfect. Người đọc cần lưu ý rằng các sách ngữ pháp tham khảo thường dùng kết hợp các thuật ngữ: chẳng hạn Joüon dùng “perfect” và “tương lai”; Meyer thì thay đổi giữa “biến cách hậu tố”/perfect và “biến cách tiền tố”/imperfect; còn Waltke và O’Connor thì dùng “hậu tố (perfect)” và “tiền tố (imperfect).”

Mặc dù có những lợi điểm nhất định trong cách dùng thuật ngữ thay thế, phần lớn các sách ngữ pháp và từ điển vẫn tiếp tục dùng cách gọi đơn giản hơn là “perfect” và “imperfect,” với sự hiểu rằng trọng tâm là hình thức chứ không phải chức năng. Chúng tôi cung cấp các thuật ngữ thay thế trong ngoặc đơn để giúp người đọc dễ dàng sử dụng các sách ngữ pháp và từ điển khác.

3.2.1 Thể Hoàn Thành (Qatal / Biến cách hậu tố)
#

Thể hoàn thành nhìn một tình huống từ bên ngoài, xem nó như một toàn thể đã trọn vẹn. Nó có thể chỉ về một hành động hoặc trạng thái trong quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai, mặc dù thường xem đó như một tình huống hay hành động trọn vẹn nhưng không xác định về thời gian (tương tự như thì “aorist” trong tiếng Hy Lạp). Dù không bị ràng buộc bởi hình thái học, thể hoàn thành thường được dùng cho các hành động hoặc trạng thái được thuật lại trong quá khứ, và thường cần dịch sang thì quá khứ. Nó cũng có thể chỉ về trạng thái hoàn thành, tức là một biến cố và trạng thái phát sinh từ biến cố đó (tương tự như thì hoàn thành trong tiếng Hy Lạp). Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại thêm các động từ ở thể hoàn thành.

(a) Complete* (Trọn vẹn) – Hành động hoặc trạng thái được nhìn như một toàn thể đã trọn, với khởi đầu và kết thúc trong tầm nhìn. Thường cần dịch sang thì quá khứ đơn, quá khứ hoàn thành, hoặc quá khứ xa: וְלַחֹשֶׁךְ קָרָא לָיְלָה, “Ngài đặt tên tối tăm là đêm” (Sáng-thế Ký 1:5); שָׁכַח אֵל, “Đức Chúa Trời đã quên” (Thi-thiên 10:11); וְלֹא־יָדַע יַעֲקֹב כִּי רָחֵל גְּנָבָתַם, “Gia-cốp không biết rằng Ra-chên đã lấy trộm chúng” (Sáng-thế Ký 31:32).

(b) Stative (Tính trạng) – Một tình trạng hoặc điều kiện thường được diễn đạt qua động từ tính trạng. Vì động từ tính trạng không chỉ một hành động “một lần cho xong,” nó thường cần diễn đạt sự kéo dài, và thường dịch sang thì hiện tại: יְדֵיכֶם דָּמִים מָלֵאוּ, “tay các ngươi đầy máu” (Ê-sai 1:15); דְּבַר־הַתּוֹעֵבָה הַזֹּאת אֲשֶׁר שָׂנֵאתִי, “sự gớm ghiếc này mà ta ghét” (Giê-rê-mi 44:4).

(c) Experience (Kinh nghiệm) – Với động từ hành động chỉ trạng thái tâm trí, thường cần dịch sang thì hiện tại: לֹא יָדַעְתִּי, “Ta không biết” (Sáng-thế Ký 4:9). Điều này thường gặp với các động từ tri giác (ידע) hoặc thái độ (אהב): שָׂנֵאתִי מָאַסְתִּי חַגֵּיכֶם, “Ta ghét, ta khinh bỉ kỳ lễ các ngươi” (A-mốt 5:21); אֲנִי יָדַעְתִּי אֶת־זְדֹנְךָ וְאֵת רֹעַ לְבָבֶךָ, “Ta biết sự kiêu ngạo và sự gian ác trong lòng ngươi” (I Sa-mu-ên 17:28); וְזֶה־אָהַבְתִּי נֶהְפְּכוּ־בִי, “Kẻ ta yêu thương đã trở nghịch cùng ta” (Gióp 19:19).

(d) Rhetorical future (Tương lai tu từ) – Diễn đạt một hành động hoặc tình huống tương lai sống động, chưa thành hiện thực nhưng được xem là chắc chắn từ quan điểm tu từ của người nói. Như một biện pháp tu từ, thể hoàn thành trình bày các biến cố tương lai như thể chúng đã xảy ra, thường cần dịch sang thì hiện tại hoặc tương lai: לָכֵן גָּלָה עַמִּי מִבְּלִי־דָעַת, “Vậy nên dân ta sẽ bị lưu đày vì thiếu sự hiểu biết” (Ê-sai 5:13); דָּרַךְ כּוֹכָב מִיַּעֲקֹב, “Một ngôi sao sẽ ra từ Gia-cốp” (Dân-số Ký 24:17); כִּי עַתָּה תִתֵּן וְאִם־לֹא לָקַחְתִּי בְחָזְקָה, “Ngươi phải cho ta ngay bây giờ; nếu không, ta sẽ lấy bằng sức mạnh” (I Sa-mu-ên 2:16); עָשִׂיתִי אֶת־הַדָּבָר הַזֶּה, “Ta sẽ làm việc này” (II Sa-mu-ên 14:21).

(e) Proverbial (Ngạn ngữ) – Chỉ các hành động, biến cố, hoặc sự thật không bị ràng buộc bởi thời gian, và được xem là chân lý phổ quát. Cũng được gọi là gnomic perfect, thường cần dịch sang thì hiện tại: וְתֹר וְסִיס וְעָגוּר שָׁמְרוּ אֶת־עֵת בֹּאָנָה, “chim cu, chim én, và chim hạc đều giữ thì giờ chúng đến” (Giê-rê-mi 8:7); יָבֵשׁ חָצִיר נָבֵל צִיץ, “Cỏ khô, hoa rụng” (Ê-sai 40:7).

(f) Performative (Thực hiện) – Mô tả một hành động xảy ra bằng lời nói, thường cần dịch sang thì hiện tại. נָתַתִּי אֹתְךָ עַל כָּל-אֶרֶץ מִצְרָיִם, “Ta đặt ngươi lên trên cả xứ Ê-díp-tô” (Sáng-thế Ký 41:41). בַּיּוֹם הַהוּא כָּרַת יְהוָה אֶת-אַבְרָם בְּרִית לֵאמֹר, “Ngày đó Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Áp-ram mà phán rằng: Ta sẽ ban cho dòng dõi ngươi xứ này” (Sáng-thế Ký 15:18).

3.2.2 Thể Chưa Hoàn Thành (Yiqtol / Biến cách tiền tố)
#

Thể chưa hoàn thành có giá trị thời gian còn ít chính xác hơn thể hoàn thành. Nói chung, thể chưa hoàn thành nhìn các hành động, biến cố, hoặc trạng thái từ bên trong, nghĩa là tình huống đang diễn ra hoặc đang trong tiến trình. Người nói hoặc người viết xem tình huống như vẫn đang tiếp tục, đang được thực hiện, vừa mới xảy ra, hoặc sắp xảy đến. Thể chưa hoàn thành có thể mang thức chỉ định (indicative), để người nói hoặc người viết đưa ra một lời khẳng định khách quan, tuy nhiên không đề cập đến khởi đầu hay kết thúc của tình huống. Giống như thể hoàn thành, ngữ cảnh phải quyết định xem tình huống là quá khứ, hiện tại, hay tương lai.

Trong những trường hợp khác, thể chưa hoàn thành có thể mang thức giả định (subjunctive) hoặc giả thuyết, mô tả một tình huống phụ thuộc vốn chỉ là khả dĩ hoặc có điều kiện. Do đó, người nói hoặc người viết dùng thể chưa hoàn thành khi nhìn một hành động như không xác định, thường xuyên, hoặc có khả năng xảy ra.

Sự đa dạng lớn trong cách dùng thể chưa hoàn thành, cùng với sự liên hệ chặt chẽ của nó với các động từ tình thái (modals, xem phần 3.3), có thể được giải thích phần nào bởi những phát triển trong lịch sử ngôn ngữ Hê-bơ-rơ gần cuối thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Dựa trên chứng cứ so sánh từ các ngôn ngữ Semitic, có vẻ như các hình thức tiền tố trong Hê-bơ-rơ Thánh Kinh vốn được tiền thân bởi bốn hình thức riêng biệt trong Hê-bơ-rơ cổ: một thể chưa hoàn thành chỉ định (hiện-tương lai) yaqtulu, một thể chưa hoàn thành giả định yaqtula, một thể mệnh lệnh (jussive) yaqtul, và một thể quá khứ (preterite) yaqtul. Khi các từ Hê-bơ-rơ mất nguyên âm cuối (khoảng năm 1100 trước Công nguyên), các hình thức này trở nên khó phân biệt. Điều này có thể giải thích tại sao cách dùng thể chưa hoàn thành trong Thánh Kinh lại bao gồm cả cách dùng quá khứ (preterite) và một số cách dùng “có điều kiện” (tàn dư của thể giả định trong Hê-bơ-rơ nguyên thủy). Thêm vào đó, các động từ tình thái (volitive modals, xem phần 3.3) cho thấy yaqtulujussive yaqtul đã hoàn toàn hòa nhập vào nhau vào thời điểm Hê-bơ-rơ Thánh Kinh được viết.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại thêm các động từ ở thể chưa hoàn thành:

(a) Future (Tương lai) – mô tả một hành động được trông đợi hoặc được công bố: כִּי-מֶלֶךְ יִמְלֹךְ עָלֵינוּ, “Vì một vua sẽ cai trị chúng ta” (I Sa-mu-ên 12:12); אַתָּה תָּבוֹא אֶל-אֲבֹתֶיךָ בְּשָׁלוֹם, “Ngươi sẽ về cùng tổ phụ mình trong sự bình an” (Sáng-thế Ký 15:15).

Thể chưa hoàn thành tương lai cũng có thể được dùng để chỉ hành động vốn đã thuộc về quá khứ đối với người nói hoặc người viết, nhưng lại xảy ra trước một hành động khác: וַיָּבֵא אֶל-הָאָדָם לִרְאוֹת מָה-יִּקְרָא-לוֹ, “Ngài [Đức Giê-hô-va] dẫn chúng đến cùng người để xem người đặt tên cho chúng thế nào” (Sáng-thế Ký 2:19). Tương tự, nó cũng có thể chỉ hành động trong tương lai nhưng xảy ra trước một hành động khác được trông đợi. וְהַעֲלִיתָ עוֹלָה בַּעֲצֵי הָאֲשֵׁרָה אֲשֶׁר תִּכְרֹת, “Ngươi hãy dâng của lễ thiêu bằng gỗ của cây A-sê-ra mà ngươi sẽ chặt xuống” (Các Quan Xét 6:26).

(b) Customary (Thói quen) – chỉ một hành động xảy ra thường xuyên hoặc theo thói quen. Hành động có thể ở trong quá khứ, khi đó thể chưa hoàn thành mang tính lặp lại, nhấn mạnh bản chất thường xuyên của hành động: כָּכָה יַעֲשֶׂה אִיּוֹב כָּל־הַיָּמִים, “Ấy là việc Gióp thường làm luôn” (Gióp 1:5); וּמֹשֶׁה יִקַּח אֶת־הָאֹהֶל וְנָטָה־לוֹ מִחוּץ לַמַּחֲנֶה, “Môi-se thường đem trại ra dựng ngoài trại quân” (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:7). Hành động theo thói quen cũng có thể chỉ hiện tại, khi đó nó thường mang ý nghĩa ngạn ngữ: בֵּן חָכָם יְשַׂמַּח־אָב, “Con khôn làm cha vui mừng” (Châm-ngôn 10:1).

(c) Progressive (Tiếp diễn) – chỉ hành động đang diễn ra hoặc tiếp tục khi người viết hay người nói mô tả. Những hành động hoặc biến cố hiện tại thường được diễn đạt bằng phân từ, nhưng thể chưa hoàn thành tiếp diễn nhấn mạnh bản chất hiện tại liên tục của hành động, đặc biệt trong câu hỏi: אָנָה תֵלֵכִי, “Ngươi đi đâu?” (Sáng-thế Ký 16:8); לָמָּה תַעֲמֹד בַּחוּץ, “Sao ngươi đứng ngoài?” (Sáng-thế Ký 24:31).

(d) Contingent (Phụ thuộc) – chỉ hành động phụ thuộc vào các yếu tố khác trong ngữ cảnh. Có nhiều cách dùng khác nhau, thường cần dịch bằng các động từ tình thái như “có thể,” “nên,” “sẽ,” “phải,” v.v.

(d.1) Conditional (Điều kiện) – chỉ hành động trong mệnh đề điều kiện: כִּי־אֵלֵךְ בְּגֵיא צַלְמָוֶת, “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết” (Thi-thiên 23:4); אִם־אֶמְצָא בִסְדֹם חֲמִשּׁים צַדִּיקִם, “Nếu ta tìm được trong Sô-đôm năm mươi người công bình” (Sáng-thế Ký 18:26).

(d.2) Permission (Cho phép) – chỉ rằng chủ ngữ được phép hành động, thường dịch bằng “có thể”: מִכֹּל עֵץ־הַגָּן אָכֹל תֹּאכֵל, “Ngươi được tự do ăn các thứ cây trong vườn” (Sáng-thế Ký 2:16); יְהוָה מִי־יָגוּר בְּאָהֳלֶךָ מִי־יִשְׁכֹּן בְּהַר קָדְשֶׁךָ, “Hỡi Đức Giê-hô-va, ai sẽ được ở trong trại Ngài? Ai sẽ được ở trên núi thánh Ngài?” (Thi-thiên 15:1).

(d.3) Obligation (Bổn phận) – chỉ rằng một hành động nên (hoặc không nên) được làm: מַעֲשִׂים אֲשֶׁר לֹא־יֵעָשׂוּ עָשִׂיתָ עִמָּדִי, “Ngươi đã làm cùng ta những việc không nên làm” (Sáng-thế Ký 20:9); לֹא־יֵעָשֶׂה כֵן בְּיִשְׂרָאֵל, “Điều ấy chẳng nên làm trong Y-sơ-ra-ên” (II Sa-mu-ên 13:12).

(d.4) Command (Mệnh lệnh) – chỉ một sự truyền dạy mạnh mẽ hoặc sự cấm đoán: קִנִּים תַּעֲשֶׂה אֶת־הַתֵּבָה, “Ngươi hãy làm phòng trong tàu” (Sáng-thế Ký 6:14); כֹּל אֲשֶׁר־יָלֹק בִּלְשׁוֹנוֹ מִן־הַמַּיִם כַּאֲשֶׁר יָלֹק הַכֶּלֶב תַּצִּיג אוֹתוֹ לְבָד, “Phàm ai dùng lưỡi húp nước như chó húp, hãy để riêng ra” (Các Quan Xét 7:5).

Việc dùng thể chưa hoàn thành (hoặc thể hoàn thành phi thực, xem phần 3.5.2) có thể mang ý nghĩa một mệnh lệnh được người nói xem là luôn có hiệu lực, hoặc một mệnh lệnh không cần thực hiện ngay tức khắc. Cách dùng thể chưa hoàn thành này cũng xuất hiện khi một người có thẩm quyền ban hành luật lệ hoặc chỉ dẫn. Với tiểu từ phủ định, các động từ chưa hoàn thành trở thành mệnh lệnh cấm, điều này rất phổ biến trong văn chương luật pháp: לֹא תִּגְנֹב, “Ngươi chớ trộm cắp” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:15); לֹא תִשְׁמַע אֶל־דִּבְרֵי הַנָּבִיא הַהוּא, “Ngươi chớ nghe lời của tiên tri đó” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 13:4 [trong bản tiếng Anh: 13:3]).

(e) Preterite (Quá khứ) – chỉ định các tình huống thuộc thì quá khứ, đặc biệt khi xuất hiện sau אָז, טֶרֶם, và בְּטֶרֶם: אָז יָשִׁיר־מֹשֶׁה וּבְנֵי יִשְׂרָאֵל אֶת־הַשִּׁירָה הַזֹּאת לַיהוָה, “Bấy giờ Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên hát bài ca này cho Đức Giê-hô-va” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:1); וְכֹל שִׂיחַ הַשָּׂדֶה טֶרֶם יִהְיֶה בָאָרֶץ, “Chưa có cây cỏ nào mọc trên đất” (Sáng-thế Ký 2:5).

Về mặt kỹ thuật, preterite là một hình thức biến cách thứ ba đang dần biến mất trong Hê-bơ-rơ Thánh Kinh. So sánh với các ngôn ngữ Semitic khác cho thấy rằng hình thức rút ngắn của một số gốc động từ yếu – và nhất quán là các hình thức Hiphil tiền tố – có thể được dùng trong văn xuôi như một preterite thực sự với אָז, טֶרֶם, và בְּטֶרֶם, và trong thi ca cổ thì không cần đến các từ này.

3.3 MODALS (Các hình thức tình thái)
#

Ngoài các biến cách diễn đạt sự kiện thực tế (thể hoàn thành và thể chưa hoàn thành), Hê-bơ-rơ Thánh Kinh cũng có ba hình thức tình thái diễn đạt ý chí: jussive, cohortative, và imperative. Các hình thức này phát triển độc lập trong lịch sử ban đầu của tiếng Hê-bơ-rơ, và vì vậy chúng tạo thành một nhóm theo chức năng hơn là theo hình thái; nghĩa là, chúng được xét chung chỉ vì có cách dùng tương tự, chứ không phải vì chúng tạo thành một biến cách riêng biệt.

Chúng cùng nhau bao gồm nhiều cách mà Hê-bơ-rơ Thánh Kinh diễn đạt ý chí hoặc sự mong muốn.

3.3.1 Jussive
#

Người đọc cần nhớ rằng phần lớn các gốc động từ không có sự phân biệt giữa jussive và hình thức chưa hoàn thành tương ứng. Ngoại lệ duy nhất là các hình thức Hiphil, các hình thức Qal của gốc động từ yếu ở giữa, và tất cả các gốc động từ tận cùng bằng hē.

Jussive diễn đạt mong muốn, ước nguyện, hoặc mệnh lệnh của người nói, trong đó chủ ngữ là ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ ba, mặc dù ngôi thứ ba thường gặp hơn.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại jussive.

(a) Command (Mệnh lệnh) – Một người có thẩm quyền dùng jussive với đối tượng là người dưới quyền: יְהִי אוֹר, “Hãy có sự sáng” (Sáng-thế Ký 1:3); וְהָעוֹף יֶרֶב בָּאָרֶץ, “Nguyện chim sanh sản nhiều trên đất” (Sáng-thế Ký 1:22); שִׁבְעַת יָמִים תּוֹחֵל עַד־בּוֹאִי אֵלֶיךָ, “Ngươi sẽ chờ bảy ngày cho đến khi ta đến cùng ngươi” (I Sa-mu-ên 10:8). Đôi khi, điều này mang nghĩa cho phép: וְיַעַל לִירוּשָׁלַם אֲשֶׁר בִּיהוּדָה וְיִבֶן אֶת־בֵּית יְהוָה אֱלֹהֵי יִשְׂרָאֵל, “Nguyện người đi lên Giê-ru-sa-lem, là nơi thuộc Giu-đa, và xây lại đền của Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” (Ê-xơ-ra 1:3); וּתְהִי אִשָּׁה לְבֶן־אֲדֹנֶיךָ כַּאֲשֶׁר דִּבֶּר יְהוָה, “Nguyện nàng trở nên vợ của con chủ ngươi, như Đức Giê-hô-va đã phán” (Sáng-thế Ký 24:51). Trong những trường hợp khác, khái niệm lời mời thích hợp hơn: תְּהִי נָא אָלָה בֵּינוֹתֵינוּ, “Nguyện có lời thề giữa chúng ta” (Sáng-thế Ký 26:28).

(b) Wish (Ước nguyện) – Người dưới quyền dùng jussive với đối tượng là người trên: יְחִי הַמֶּלֶךְ, “Nguyện vua sống lâu” (I Sa-mu-ên 10:24); וְעַתָּה יֵרֶא פַרְעֹה אִישׁ נָבוֹן וְחָכָם, “Bây giờ nguyện Pha-ra-ôn chọn một người khôn ngoan thông sáng” (Sáng-thế Ký 41:33). Người nói có thể dùng jussive để cầu xin bằng cách nói gián tiếp về chính mình khi thưa với người trên: וְתִחְיִי נַפְשִׁי, “Nguyện mạng sống tôi được cứu” (Sáng-thế Ký 19:20). Việc dùng chữ “tôi tớ” là cách thay thế tôn kính cho đại từ ngôi thứ nhất trong những lời cầu xin như vậy: וְעַתָּה יֵשֶׁב־נָא עַבְדְּךָ, “Bây giờ xin cho kẻ tôi tớ ngươi ở lại” (Sáng-thế Ký 44:33). Lời cầu xin như vậy thường đi kèm với tiểu từ נָא: יָשָׁב-נָא עַבְדְּךָ, “Nguyện kẻ tôi tớ ngươi trở về” (II Sa-mu-ên 19:38 [trong bản tiếng Anh: 19:37]). Đôi khi, điều này mang nghĩa lời khuyên: וְיַפְקֵד הַמֶּלֶךְ פְּקִידִים, “Nguyện vua lập các quan giám sát” (Ê-xơ-tê 2:3). Khi được dùng để diễn đạt ước nguyện Đức Chúa Trời hành động, jussive mang nghĩa cầu nguyện: יֹסֵף יְהוָה לִי בֵּן אַחֵר, “Nguyện Đức Giê-hô-va thêm cho ta một con trai nữa” (Sáng-thế Ký 30:24); יָקֵם יְהוָה אֶת-דְּבָרוֹ, “Nguyện Đức Giê-hô-va lập lời Ngài” (I Sa-mu-ên 1:23).

(c) Benediction (Chúc phước) – Người trên nói về Đức Chúa Trời như là chủ ngữ của jussive để tuyên phước cho người thứ ba: וִיהִי אֱלֹהִים עִמָּךְ, “Nguyện Đức Chúa Trời ở cùng ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 18:19); יְבָרֶכְךָ יְהוָה וְיִשְׁמְרֶךָ, “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và gìn giữ ngươi” (Dân-số Ký 6:24); וְעַתָּה יַעֲשֶׂה-יְהוָה עִמָּכֶם חֶסֶד וֶאֱמֶת, “Bây giờ nguyện Đức Giê-hô-va làm ơn và sự thành tín cùng các ngươi” (II Sa-mu-ên 2:6).

(d) Prohibition (Cấm đoán) – với אַל, sắc thái mệnh lệnh và ước nguyện được diễn đạt cách phủ định: וְאַל-תַּעַשׂ לוֹ מְאוּמָה, “Chớ làm gì hại đến người” (Sáng-thế Ký 22:12); אַל-נָא תְהִי מְרִיבָה בֵּינִי וּבֵינֶיךָ, “Nguyện chớ có sự tranh chấp giữa ta và ngươi” (Sáng-thế Ký 13:8); אַל-נָא יִחַר לַאדֹנָי, “Nguyện Chúa chớ nổi giận” (Sáng-thế Ký 18:30).

3.3.2 Imperative (Mệnh lệnh)
#

Thể mệnh lệnh diễn đạt trực tiếp mệnh lệnh hoặc sự chỉ dẫn của người nói ở ngôi thứ hai. Điều đáng chú ý là thể mệnh lệnh chỉ được dùng trong những biểu hiện tích cực của ý chí, chứ không bao giờ trong mệnh lệnh phủ định. Thay vào đó, các mệnh lệnh phủ định được diễn đạt bằng thể chưa hoàn thành đi trước bởi לֹא hoặc אַל.

אַל với thể chưa hoàn thành để chỉ sự cấm đoán tức khắc (xem phần 4.2.3, a), và לֹא với thể chưa hoàn thành để chỉ sự cấm đoán lâu dài (xem phần 4.2.11).

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại thể mệnh lệnh:

(a) Command (Mệnh lệnh) – Người nói thúc giục hành động tức khắc: לֶךְ־לְךָ מֵאַרְצְךָ, “Hãy ra khỏi xứ ngươi” (Sáng-thế Ký 12:1); שׁוּב אֶל־אֶרֶץ אֲבוֹתֶיךָ, “Hãy trở về xứ tổ phụ ngươi” (Sáng-thế Ký 31:3); בֹּא־אַתָּה וְכָל־בֵּיתְךָ אֶל־הַתֵּבָה, “Ngươi và cả nhà hãy vào tàu” (Sáng-thế Ký 7:1); בֹּא דַבֵּר אֶל־פַּרְעֹה מֶלֶךְ מִצְרָיִם, “Hãy đi, nói cùng Pha-ra-ôn vua Ê-díp-tô” (Xuất Ê-díp-tô Ký 6:11).

Hành động ít tức khắc hơn cũng có thể được truyền dạy bằng thể mệnh lệnh, mặc dù thể chưa hoàn thành thường được dùng hơn: וְכַאֲשֶׁר תִּרְאֶה עֲשֵׂה עִם־עֲבָדֶיךָ, “Khi ngươi thấy, hãy làm với các tôi tớ ngươi theo điều ngươi nhận thấy” (Đa-ni-ên 1:13). Thuộc về phạm trù này cũng có những mệnh lệnh mang sắc thái cầu xin hoặc ước nguyện: שִׁפְטוּ־נָא בֵּינִי וּבֵין כַּרְמִי, “Hãy xét xử giữa ta và vườn nho ta” (Ê-sai 5:3). Trái với những mệnh lệnh được diễn đạt bằng hình thức chỉ định (như thể chưa hoàn thành hoặc thể hoàn thành phi thực, xem phần 3.2.2, d.4 và 3.5.2, c), những mệnh lệnh này thường được người nói xem là khẩn cấp và thường chỉ có hiệu lực cho một dịp tiện.

(b) Permission (Cho phép) – Người nói cho phép thực hiện hành động mà người nhận mệnh lệnh mong muốn làm. Cách dùng này thường đi trước bởi một lời cầu xin thực sự trong ngữ cảnh (thường là jussive hoặc cohortative mang nghĩa ước nguyện): אֶעֱלֶה־נָּא וְאֶקְבְּרָה אֶת־אָבִי … עֲלֵה וּקְבֹר אֶת־אָבִיךָ, “Xin cho tôi đi lên và chôn cha tôi… hãy đi lên và chôn cha ngươi” (Sáng-thế Ký 50:5-6); לֵךְ לְשָׁלֹום… אֵלְכָה נָּא, “Xin cho tôi trở về… hãy đi bình an” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:18).

(c) Promise (Lời hứa) – Người nói bảo đảm rằng người nhận mệnh lệnh sẽ thực hiện hành động trong tương lai, mặc dù hành động đó thường vượt quá khả năng của người nhận: עֲלֵה רָמֹת גִּלְעָד וְהַצְלַח, “Hãy đi lên Ra-mốt Ga-la-át và được thắng” (I Các Vua 22:12); וּבַשָּׁנָה הַשְּׁלִישִׁית זִרְעוּ וְקִצְרוּ וְנִטְעוּ כְרָמִים וְאִכְלוּ פִרְיָם, “Qua năm thứ ba, hãy gieo, gặt, trồng vườn nho, và ăn trái nó” (Ê-sai 37:30).

Một hình thức dài của thể mệnh lệnh có thể xuất hiện trong tất cả các gốc động từ dẫn xuất, gồm hậu tố הָ- (-â), vốn tạo ra một số thay đổi nguyên âm khác (קָטְלָה hoặc קָטְלָה trong Qal mạnh). Hình thức này thường được xem là mang tính văn phong hoặc nhấn mạnh, và có người cho rằng nó không có khác biệt rõ rệt về sắc thái so với hình thức mệnh lệnh thường. Những người khác cho rằng nó có thể được dùng khi hành động của động từ hướng về phía người nói. Khả năng lớn hơn, hình thức dài của thể mệnh lệnh tương đương với chữ “xin” trong tiếng Anh, và thường được dùng khi người có địa vị thấp hoặc dưới quyền nói với người trên (dù có một vài ngoại lệ).

Tương tự, hậu tố נָא- thường được thêm vào cả ba hình thức tình thái (imperative, jussive, và cohortative), và đôi khi dường như không tạo ra sự khác biệt rõ rệt về nghĩa, điều này đã dẫn đến nhiều ý kiến khác nhau về sắc thái của nó. Một số học giả ghi nhận sắc thái “logic,” ngụ ý rằng ước muốn của hình thức tình thái là hệ quả hợp lý của một lời phát biểu hoặc tình huống trước đó. Tuy nhiên, giả định lâu đời (từ thời các giáo sĩ Do Thái) rằng việc dùng נָא- với hình thức tình thái thêm nghĩa “xin” có lẽ là đúng. Trong hầu hết các ngữ cảnh, nghĩa “xin” và các sắc thái liên quan là thích hợp, và trong những ngữ cảnh khi người có địa vị thấp hơn nói với người trên, nó mang ý nghĩa lễ phép hoặc sự quy phục.

3.3.3 Cohortative
#

Cohortative diễn đạt mong muốn, ước nguyện, hoặc mệnh lệnh của người nói, với ngôi thứ nhất làm chủ ngữ của hành động. Nói chung, cohortative diễn đạt sự quan tâm cá nhân của người nói đối với hành động hoặc tình huống, thường mang sắc thái “Ta nghĩ có lẽ nên…”

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại cohortative.

(a) Resolve (Quyết tâm) – Người nói diễn đạt sự tự quyết để thực hiện một hành động nằm trong khả năng của mình: אֵרְדָה-נָא וְאֶרְאֶה, “Ta phải xuống và xem” (Sáng-thế Ký 18:21); אָגִילָה וְאֶשְׂמְחָה בְּחַסְדֶּךָ, “Ta sẽ vui mừng và hớn hở trong sự nhân từ của Ngài” (Thi-thiên 31:8); אָשִׁירָה נָּא לִידִידִי, “Xin cho ta hát cho người yêu dấu ta” (Ê-sai 5:1); אֲדַבְּרָה בְּמַר נַפְשִׁי, “Ta sẽ nói trong sự cay đắng của linh hồn ta” (Gióp 10:1); אָשִׁירָה וַאֲזַמְּרָה לַיהוָה, “Ta sẽ hát và ca ngợi Đức Giê-hô-va” (Thi-thiên 27:6).

(b) Wish (Ước nguyện) – Người nói diễn đạt mong muốn thực hiện một hành động cần sự chấp thuận của người khác: אֶעְבְּרָה בְאַרְצֶךָ, “Xin cho ta đi ngang qua đất ngươi” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 2:27); אֵלְכָה נָּא וְאָשׁוּבָה אֶל־אַחַי אֲשֶׁר־בְּמִצְרַיִם, “Xin cho ta trở về cùng anh em ta tại Ê-díp-tô” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:18); אֶעְבְּרָה־נָּא וְאָסִירָה אֶת־רֹאשׁוֹ, “Xin cho ta đi qua và chém đầu hắn” (II Sa-mu-ên 16:9); אֵלְכָה־נָּא הַשָּׂדֶה וַאֲלַקֳּטָה בַשִּׁבֳּלִים, “Xin cho ta ra đồng và mót những bông lúa” (Ru-tơ 2:2). Đôi khi, sự chấp thuận dường như không chắc chắn, hoặc người nói bất lực: אָנָּה יְהוָה אַל־נָא נֹאבְדָה בְּנֶפֶשׁ הָאִישׁ הַזֶּה, “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin chớ để chúng tôi chết vì mạng sống của người này” (Giô-na 1:14); עַל־מִי אֲדַבְּרָה וְאָעִידָה, “Ta sẽ nói cùng ai và cảnh cáo ai?” (Giê-rê-mi 6:10).

(c) Exhortation (Khuyên bảo chung) – Nhiều người cùng nhau khích lệ nhau thực hiện hành động, hoặc cùng giúp trong hành động: הָבָה נִלְבְּנָה לְבֵנִים, “Nào, chúng ta hãy làm gạch” (Sáng-thế Ký 11:3); נְנַתְּקָה אֶת־מוֹסְרוֹתֵימוֹ, “Chúng ta hãy bẻ gãy dây trói của chúng nó” (Thi-thiên 2:3); וְנַחְשְׁבָה עַל־יִרְמְיָהוּ מַחֲשָׁבוֹת, “Chúng ta hãy lập mưu nghịch cùng Giê-rê-mi” (Giê-rê-mi 18:18).

3.4 NONFINITES (Các hình thức phi biến cách)
#

Các hình thức phi biến cách trong tiếng Hê-bơ-rơ không được biến đổi theo Aspekt; nghĩa là, chúng không chỉ về hành động như bất định hoặc tiếp diễn (như các biến cách hoàn thành và chưa hoàn thành, xem phần 3.2). Hơn nữa, hai hình thức nguyên mẫu (infinitives) trong tiếng Hê-bơ-rơ không được đánh dấu bởi ngôi, giống, hoặc số. Phân từ (participle) không được đánh dấu bởi ngôi, nhưng được đánh dấu bởi giống và số. Việc thiếu sự biến đổi đặc thù khiến cho các hình thức phi biến cách này ít bị hạn chế hơn trong cách dùng so với các biến cách hoặc các hình thức tình thái.

Các hình thức phi biến cách được xây dựng trên gốc động từ, nhưng giữ vị trí trung gian giữa động từ và danh từ. Các động từ nguyên mẫu (infinitives) là “danh từ động từ,” vừa có cách dùng giống danh từ, vừa có cách dùng giống động từ. Phân từ (participle) là “tính từ động từ,” được hình thành như một danh từ với giống và số, và thường có chức năng giống như một tính từ.

3.4.1 Infinitive Construct (Nguyên mẫu Cấu Trúc)
#

Infinitive construct gần nhất với cách dùng nguyên mẫu trong các ngôn ngữ khác. Nó vừa “phi thời gian” (atemporal) vừa “phi nhân xưng” (apersonal), nghĩa là chỉ có ngữ cảnh mới quyết định đặc điểm về thì/thể của hành động cũng như chủ ngữ của hành động. Nó có phạm vi sử dụng rộng và linh hoạt, phần lớn xuất hiện trong mối liên hệ với một động từ khác. Nó thường hoạt động như một danh từ, vì có thể đi kèm với giới từ và có thể mang hậu tố đại từ. Thay vì bị phủ định bởi אַל hoặc לֹא, infinitive construct dùng (לְ)בִלְתִּי.

Về mặt kỹ thuật, infinitive construct không có chức năng ngữ nghĩa tự thân: Chức năng của nguyên mẫu chỉ về chức năng cú pháp mà nó đảm nhiệm trong một mệnh đề, hoặc về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa nó và động từ hữu hạn.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại infinitive construct.

(a) Nominal (Danh từ) – khi được dùng như một danh từ hoặc thay cho một danh từ. Như vậy, infinitive construct có thể hoạt động trong chức năng danh cách, sở hữu cách, hoặc đối cách.

(a.1) Ví dụ về infinitive construct trong chức năng danh cách (nominatives): עַנּוֹשׁ לַצַּדִּיק לֹא־טוֹב, “Phạt người công bình là chẳng tốt” (Châm-ngôn 17:26); טוֹב שֶׁבֶת בְּאֶרֶץ־מִדְבָּר מֵאֵשֶׁת מִדְיָנִים וָכָעַס, “Thà ở nơi đất đồng vắng còn hơn ở cùng người đàn bà hay cãi lẫy và hay giận” (Châm-ngôn 21:19 Qere); טוֹב תִּתִּי אֹתָהּ לָךְ, “Ta thà gả nàng cho ngươi” (Sáng-thế Ký 29:19).

(a.2) Ví dụ về infinitive construct trong chức năng sở hữu cách (genitives): עֵת סְפוֹד וְעֵת רְקוֹד, “Có thì khóc lóc, có thì nhảy múa” (Truyền-đạo 3:4); בְּיוֹם אֲכָלְךָ מִמֶּנּוּ מוֹת תָּמוּת, “Ngày nào ngươi ăn trái đó, chắc sẽ chết” (Sáng-thế Ký 2:17); לֹא־עֵת הֵאָסֵף הַמִּקְנֶה, “Chưa phải thì giờ nhóm các bầy lại” (Sáng-thế Ký 29:7). Phạm trù này cũng bao gồm nhiều lần infinitive construct xuất hiện sau giới từ (xem các phần 3.4.1, b–d, f, g).

(a.3) Ví dụ về infinitive construct trong chức năng đối cách (accusatives): לֹא אֵדַע צֵאת וָבֹא, “Ta không biết ra vào thế nào” (I Các Vua 3:7); זְכֹר עָמְדִי לְפָנֶיךָ, “Xin nhớ sự ta đứng trước mặt Ngài” (Giê-rê-mi 18:20).

Cũng như danh từ có thể mang chức năng đối cách trạng ngữ (xem phần 2.3.2), infinitive construct cũng có thể mang chức năng trạng ngữ khi theo sau một động từ hữu hạn (thường là Hiphil hoặc Piel dẫn xuất từ danh từ). Trong những trường hợp như vậy, infinitive construct đảm nhiệm chức năng của động từ chính trong bản dịch tiếng Anh: וַתָּרַע לַעֲשׂוֹת, “Ngươi đã làm điều ác” (I Các Vua 14:9); מַדּוּעַ מִהַרְתֶּן בֹּא הַיּוֹם, “Sao các ngươi trở về sớm hôm nay?” (Xuất Ê-díp-tô Ký 2:18).

Nhiều động từ cần có nguyên mẫu (infinitive) để hoàn tất ý nghĩa của chúng, tương tự như cách dùng đối cách của infinitive construct. Vì vậy, infinitive construct có thể đóng vai trò bổ ngữ động từ: לֹא יוּכַל לִרְאוֹת, “Người không thể thấy được” (Sáng-thế Ký 48:10); לֹא־יֹאבֶה יְהוָה סְלֹחַ לוֹ, “Đức Giê-hô-va sẽ không bằng lòng tha thứ cho người đó” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 29:19). Những động từ thường cần bổ ngữ như vậy bao gồm: ידע (và các động từ về quan sát hoặc nhận thức), חלל (Hiphil, bắt đầu), יסף (Hiphil, tiếp tục), בקש (Piel, tìm kiếm), חדל (ngưng), יכל (có khả năng), מאן (từ chối), נתן (cho phép), và אבה (bằng lòng).

(b) Temporal (Thời gian) – xác định hành động của động từ hữu hạn bằng cách liên hệ nó với hành động của infinitive construct. Việc dùng các giới từ với infinitive construct thời gian chỉ ra khoảnh khắc cụ thể. Cấu trúc này đặc biệt thường gặp khi kết hợp với וַיְהִי (3.5.1) và ít gặp hơn với וְהָיָה (3.5.2).

(b.1) Giới từ בְּ cộng với nguyên mẫu – chỉ hành động xảy ra đồng thời với hành động của động từ hữu hạn, và có thể dịch là “khi,” “lúc,” hoặc “trong khi”: בְּשׁוּב דָּוִד מֵהַכּוֹת אֶת־הַפְּלִשְׁתִּי וַתֵּצֶאנָה הַנָּשִׁים מִכָּל־עָרֵי יִשְׂרָאֵל, “Khi Đa-vít trở về sau khi đánh người Phi-li-tin, các người nữ ra khỏi mọi thành của Y-sơ-ra-ên” (I Sa-mu-ên 18:6); בְּיוֹם הַהוּא בְּשֶׁבֶת עַמִּי יִשְׂרָאֵל לָבֶטַח, “Trong ngày đó, khi dân ta Y-sơ-ra-ên ở cách yên ổn” (Ê-xê-chi-ên 38:14).

(b.2) Giới từ כְּ cộng với nguyên mẫu – chỉ hành động xảy ra ngay trước hành động của động từ hữu hạn, và có thể dịch là “ngay khi,” hoặc “vừa lúc”: וַיְהִי כְּבוֹא אַבְרָם מִצְרָיְמָה וַיִּרְאוּ הַמִּצְרִים אֶת־הָאִשָּׁה כִּי־יָפָה הִיא מְאֹד, “Vừa khi Áp-ram vào Ê-díp-tô, dân Ê-díp-tô thấy người nữ ấy rất đẹp” (Sáng-thế Ký 12:14); כְּשָׁמְעַ עֵשָׂו אֶת־דִּבְרֵי אָבִיו וַיִּצְעַק צְעָקָה גְּדֹלָה וּמָרָה עַד־מְאֹד, “Khi Ê-sau nghe lời cha mình, người kêu lên một tiếng kêu lớn và rất đắng cay” (Sáng-thế Ký 27:34).

Tương tự như בְּ, giới từ כְּ cũng có thể chỉ hành động đồng thời: וַיְהִי כִּרְאוֹת הַמֶּלֶךְ אֶת־אֶסְתֵּר הַמַּלְכָּה עֹמֶדֶת בֶּחָצֵר נָשְׂאָה חֵן בְּעֵינָיו, “Ngay khi vua thấy Ê-xơ-tê hoàng hậu đứng trong sân, nàng được ơn trước mắt vua” (Ê-xơ-tê 5:2); וְהִיא כְפֹרַחַת עָלְתָה נִצָּהּ, “Khi nó đang nở, hoa nó trổ ra” (Sáng-thế Ký 40:10).

(b.3) Giới từ עַד cộng với nguyên mẫu – chỉ rằng hành động của động từ hữu hạn xảy ra trong khoảng thời gian kéo dài cho đến hành động của nguyên mẫu, và có thể dịch là “cho đến”: לֹא אוּכַל לַעֲשׂוֹת דָּבָר עַד־בֹּאֲךָ שָׁמָּה, “Ta không thể làm gì cho đến khi ngươi đến đó” (Sáng-thế Ký 19:22); בְּזֵעַת אַפֶּיךָ תֹּאכַל לֶחֶם עַד שׁוּבְךָ אֶל־הָאָדָמָה, “Ngươi sẽ ăn bánh bằng mồ hôi mặt mình cho đến khi trở về đất” (Sáng-thế Ký 3:19); וַיֵּאָבֵק אִישׁ עִמּוֹ עַד עֲלוֹת הַשָּׁחַר, “Có một người vật lộn với người cho đến sáng” (Sáng-thế Ký 32:25).

(b.4) Giới từ אַחֲרֵי cộng với nguyên mẫu – chỉ rằng hành động của động từ hữu hạn xảy ra sau hành động của nguyên mẫu, và có thể dịch là “sau”: וַיִּמָּלֵא שִׁבְעַת יָמִים אַחֲרֵי הַכּוֹת־יְהוָה אֶת־הַיְאֹר, “Bảy ngày trọn sau khi Đức Giê-hô-va đánh sông Nin” (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:25); וַיְהִי אַחֲרֵי הַסִּבּוּ אֹתוֹ וַתְּהִי יַד־יְהוָה בָּעִיר, “Sau khi họ đem nó đi vòng quanh [tức là hòm giao ước đến Gát], tay của Đức Giê-hô-va giáng trên thành” (I Sa-mu-ên 5:9).

(c) Purpose (Mục đích) – diễn đạt lý do hành động của động từ hữu hạn xảy ra (thường dùng với לְ, xem thêm mục 4.1.10, d): וַיָּבֵא אֶל־הָאָדָם לִרְאוֹת מַה־יִּקְרָא־לוֹ, “Ngài [Đức Giê-hô-va] dẫn chúng đến cùng người để xem người đặt tên cho chúng thế nào” (Sáng-thế Ký 2:19); אֲנִי יְהוָה אֲשֶׁר הוֹצֵאתִיךָ מֵאוּר כַּשְׂדִּים לָתֶת לְךָ אֶת־הָאָרֶץ הַזֹּאת, “Ta là Đức Giê-hô-va đã đem ngươi ra khỏi U-rơ của người Canh-đê để ban cho ngươi đất này” (Sáng-thế Ký 15:7); הוּא יֹצֵא לִקְרָאתֶךָ, “Người ra đón ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:14). Ngoài לְ, nguyên mẫu mục đích cũng xuất hiện với לְמַעַן và בַּעֲבוּר.

(d) Result (Kết quả) – diễn đạt kết quả hoặc hệ quả của hành động trong động từ hữu hạn. Hình thức này thường đi với לְ, và có thể dịch là “và như vậy,” “để,” hoặc “hầu cho”: וַיִּתְמַכְּרוּ לַעֲשׂוֹת הָרַע בְּעֵינֵי יְהוָה לְהַכְעִיסוֹ, “Chúng nó phó mình để làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va, hầu chọc giận Ngài” (II Các Vua 17:17); מַדּוּעַ מָצָאתִי חֵן בְּעֵינֶיךָ לְהַכִּירֵנִי, “Sao tôi được ơn trước mắt ông, hầu cho ông để ý đến tôi?” (Ru-tơ 2:10); וַיְגָרֶשׁ שְׁלֹמֹה אֶת־אֶבְיָתָר מִהְיוֹת כֹּהֵן לַיהוָה לְמַלֵּא אֶת־דְּבַר יְהוָה, “Sa-lô-môn đuổi A-bia-tha khỏi chức thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va, hầu cho lời của Đức Giê-hô-va được ứng nghiệm” (I Các Vua 2:27); בְּךָ בָּחַר יְהוָה אֱלֹהֶיךָ לִהְיוֹת לוֹ לְעַם סְגֻלָּה, “Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đã chọn ngươi, hầu cho ngươi làm dân thuộc riêng của Ngài” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 7:6).

Sự phân biệt giữa mục đích và kết quả không phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng kết quả thường nhấn mạnh ý tưởng về trình tự hoặc sự tiếp diễn. Ngoài לְ, nguyên mẫu chỉ kết quả cũng xuất hiện với לְמַעַן.

(e) Obligation (Bổn phận) – diễn đạt gánh nặng trách nhiệm hoặc sự cần thiết khi được dùng trong mệnh đề không có động từ: וְעָלַי לָתֶת לְךָ עֲשָׂרָה כֶסֶף וְחֲגֹרָה אֶחָת, “Ta phải cho ngươi mười miếng bạc và một cái đai” (II Sa-mu-ên 18:11). Cách dùng này của infinitive construct thường đi với tiểu từ phủ định, và đôi khi bổn phận phủ định trở thành sự cấm đoán: הֲלוֹא לָכֶם לָדַעַת אֶת־הַמִּשְׁפָּט, “Há chẳng phải bổn phận các ngươi phải biết sự công bình sao?” (Mi-chê 3:1); אֵין לָבוֹא אֶל־שַׁעַר הַמֶּלֶךְ בִּלְבוּשׁ שָׂק, “Không ai được phép vào cửa vua mặc bao gai” (Ê-xơ-tê 4:2).

(f) Imminence (Sắp xảy đến) – diễn đạt hành động được trông đợi sớm xảy ra hoặc sắp diễn ra trong các cấu trúc với ל cộng nguyên mẫu cấu trúc (infinitive construct) trong mệnh đề không có động từ: יְהוָה לְהוֹשִׁיעֵנִי, “Đức Giê-hô-va sẽ cứu ta” (Ê-sai 38:20); וּבְרִיתוֹ לְהוֹדִיעָם, “Ngài sắp tỏ giao ước của Ngài cho chúng nó” (Thi-thiên 25:14); וְכַלָּתוֹ אֵשֶׁת־פִּינְחָס הָרָה לָלַת, “Dâu của Ê-li, vợ của Phi-nê-hát, có thai, gần sanh” (I Sa-mu-ên 4:19).

Đối với hành động sắp xảy ra trong tường thuật quá khứ, cấu trúc này thêm một hình thức của הָיָה: וַיְהִי כַּאֲשֶׁר הִקְרִיב לָבוֹא מִצְרָיְמָה, “Khi người gần vào Ê-díp-tô” (Sáng-thế Ký 12:11); וַיְהִי הַשֶּׁמֶשׁ לָבוֹא, “Khi mặt trời gần lặn” (Sáng-thế Ký 15:12); וַיְהִי הַשַּׁעַר לִסְגֹּר בַּחֹשֶׁךְ, “Khi cửa gần đóng lúc trời tối” (Giô-suê 2:5).

(g) Specification (Sự xác định) – được dùng với לְ sau một động từ để làm rõ hoặc giải thích thêm hành động động từ trước đó, vốn có thể được diễn đạt chung chung hoặc mơ hồ. Trong bản dịch, infinitive construct xác định thường cần “bằng cách…” (giống như cấu trúc X-ing trong tiếng Anh): וְאַתֶּם מוֹסִיפִים חָרוֹן עַל־יִשְׂרָאֵל לְחַלֵּל אֶת־הַשַּׁבָּת, “Các ngươi làm tăng thêm cơn thịnh nộ trên Y-sơ-ra-ên bằng cách phạm đến ngày sa-bát” (Nê-hê-mi 13:18); הָלַךְ אַחֲרַי בְּכָל־לְבָבוֹ לַעֲשׂוֹת רַק הַיָּשָׁר בְּעֵינַי, “Người theo ta hết lòng, bằng cách làm điều ngay thẳng trước mặt ta” (I Các Vua 14:8).

Infinitive construct xác định thường có לַעֲשׂוֹת hoặc לָלֶכֶת sau שָׁמַר, ví dụ: וְשָׁמְרוּ בְנֵי־יִשְׂרָאֵל אֶת־הַשַּׁבָּת לַעֲשׂוֹת אֶת־הַשַּׁבָּת לְדֹרֹתָם בְּרִית עוֹלָם, “Dân Y-sơ-ra-ên sẽ giữ ngày sa-bát, bằng cách làm ngày sa-bát trải qua các đời họ, làm giao ước đời đời” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:16); וְשָׁמַרְתָּ אֶת־מִשְׁמֶרֶת יְהוָה אֱלֹהֶיךָ לָלֶכֶת בִּדְרָכָיו, “Ngươi phải giữ sự canh giữ của Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, bằng cách đi trong đường lối Ngài” (I Các Vua 2:3).

Thuộc về phạm trù này là לֵאמֹר (nguyên mẫu cấu trúc Qal của אמר), vốn được dùng để định khung lời tường thuật, thường theo sau các động từ nói hoặc nghĩ: וַיְדַבֵּר אֱלֹהִים אֶל־נֹחַ לֵאמֹר, “Đức Chúa Trời phán cùng Nô-ê, bằng cách nói rằng” (Sáng-thế Ký 8:15); וַיְבָרֶךְ אֹתָם אֱלֹהִים לֵאמֹר, “Đức Chúa Trời ban phước cho chúng, bằng cách phán rằng” (Sáng-thế Ký 1:22). Cách dùng này đã trở thành công thức quen thuộc để đánh dấu lời tường thuật.

3.4.2 Infinitive Absolute (Nguyên mẫu tuyệt đối)
#

Infinitive absolute cũng vừa “phi thời gian” (atemporal) vừa “phi nhân xưng” (apersonal), nghĩa là chỉ có ngữ cảnh mới quyết định đặc điểm về thì/thể của hành động cũng như chủ ngữ của hành động. Điều này là kết quả từ việc infinitive absolute, giống như infinitive construct, cũng không được biến đổi hình thái. Tuy nhiên, khác với infinitive construct, infinitive absolute không đi với giới từ hoặc hậu tố đại từ. Dù hai loại nguyên mẫu trong tiếng Hê-bơ-rơ có hình thức tương tự nhau, chúng có nguồn gốc và lịch sử khác nhau.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại infinitive absolute.

(a) Nominal (Danh từ) – khi được dùng như một danh từ hoặc thay cho một danh từ. Như vậy, infinitive absolute có thể đảm nhiệm chức năng danh cách, sở hữu cách, hoặc đối cách.

(a.1) Ví dụ về infinitive absolute trong chức năng chủ cách (nominatives): וְקָרוֹב לִשְׁמֹעַ מִתֵּת הַכְּסִילִים זָבַח, “Thà đến gần để nghe còn hơn dâng của lễ bởi kẻ ngu dại” (Truyền-đạo 4:17 [trong bản tiếng Anh: 5:1]); וְגַם־הֵיטִיב אֵין אוֹתָם, “Trong chúng nó chẳng có điều lành” (Giê-rê-mi 10:5); הַכֶּר־פָּנִים לֹא־טוֹב, “Thiên vị là chẳng tốt” (Châm-ngôn 28:21).

(a.2) Ví dụ về infinitive absolute trong chức năng sở hữu cách (genitives): וּבְרוּחַ בָּעֵר, “Bởi thần lửa cháy” (Ê-sai 4:4); מִדֶּרֶךְ הַשְׂכֵּל, “Khỏi đường của sự khôn ngoan” (Châm-ngôn 21:16). Trong những trường hợp hiếm hoi, infinitive absolute có thể xuất hiện sau một giới từ.

(a.3) Ví dụ về infinitive absolute trong chức năng đối cách (accusatives): חֶמְאָה וּדְבַשׁ יֹאכֵל לְדַעְתּוֹ מָאוֹס בָּרָע וּבָחוֹר בַּטּוֹב, “Người sẽ ăn sữa và mật cho đến khi biết bỏ điều dữ và chọn điều lành” (Ê-sai 7:15); לִמְדוּ הֵיטֵב, “Hãy học làm lành” (Ê-sai 1:17); לֹא יֶאֱהַב־לֵץ הוֹכֵחַ לוֹ, “Kẻ nhạo báng chẳng thích bị quở trách” (Châm-ngôn 15:12).

(b) Emphatic (Nhấn mạnh) – xác nhận và làm tăng cường tính xác thực hoặc sự quả quyết của hành động động từ khi được dùng với một động từ hữu hạn có cùng gốc động từ.

(b.1) Trong một trong những cách dùng phổ biến nhất của infinitive absolute, nguyên mẫu tuyệt đối thường đi trước một động từ hữu hạn có cùng gốc động từ, và được dịch tốt nhất bằng các trạng từ như “chắc chắn,” “thật vậy,” “quả thật,” “nhất định,” v.v.: וְאַבְרָהָם הָיוֹ יִהְיֶה לְגוֹי גָּדוֹל, “Áp-ra-ham chắc chắn sẽ trở nên một dân lớn” (Sáng-thế Ký 18:18); הָעֵד הֵעִד בָּנוּ הָאִישׁ, “Người ấy quả thật đã răn bảo chúng tôi” (Sáng-thế Ký 43:4); הַגִּלְגָּל גָּלֹה יִגְלֶה, “Ghinh-gan chắc chắn sẽ bị lưu đày” (A-mốt 5:5); הִשָּׁמֵד תִּשָּׁמֵדוּן, “Các ngươi sẽ bị diệt tuyệt” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:26); וְנַקֵּה לֹא יְנַקֶּה יְהוָה, “Đức Giê-hô-va chẳng kể kẻ có tội là vô tội” (Na-hum 1:3).

Cách dùng này của infinitive absolute có thể nhấn mạnh sự triệt để của hành động động từ: אַבֵּד תְּאַבְּדוּן אֶת־כָּל־הַמְּקֹמוֹת אֲשֶׁר עָבְדוּ־שָׁם הַגּוֹיִם…אֶת־אֱלֹהֵיהֶם, “Các ngươi phải phá hủy tất cả những nơi mà các dân ấy đã hầu việc các thần của chúng” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 12:2).

Đôi khi tiểu từ אַךְ được dùng để nhấn mạnh thêm: אַךְ טָרֹף טֹרַף, “Nó chắc chắn đã bị xé ra từng mảnh” (Sáng-thế Ký 44:28).

(b.2) Đôi khi infinitive absolute theo sau động từ hữu hạn có cùng gốc động từ, và dường như vẫn giữ sắc thái nhấn mạnh: יָצֹא יֵצֵא, “Người chắc chắn sẽ ra” (II Các Vua 5:11).

Trong những ngữ cảnh khác, vị trí hậu tố này dường như mang nghĩa hành động liên tục hoặc lặp lại: לַשָּׁוְא צָרַף צָרוֹף, “Sự luyện lọc cứ tiếp diễn vô ích” (Giê-rê-mi 6:29); אָמְרִים אָמוֹר, “Chúng nó cứ nói hoài” (Giê-rê-mi 23:17); וַיִּשְׁפֹּט שָׁפוֹט, “Người cứ xử đoán luôn” (Sáng-thế Ký 19:9).

Tuy nhiên, trong khi một số nhà ngữ pháp vẫn chấp nhận sắc thái kéo dài này của infinitive absolute hậu tố, những người khác lại nghi ngờ tính xác thực của nó. Lambdin cho rằng vị trí hậu tố này phổ biến hơn với các gốc động từ bất biến (intransitive roots).

Khi infinitive absolute nhấn mạnh theo sau một động từ hữu hạn có cùng gốc động từ, nó có thể được phối hợp với một nguyên mẫu tuyệt đối thứ hai để diễn đạt hành động đồng thời hoặc kéo dài: וַיֵּצֵא יָצֹא וָשׁוֹב, “Quạ cứ bay ra bay vào” (Sáng-thế Ký 8:7); וְהַמְאַסֵּף הֹלֵךְ אַחֲרֵי אֲרוֹן יְהוָה הָלוֹךְ וְתָקוֹעַ בַּשּׁוֹפָרוֹת, “Đội hậu quân đi theo sau hòm của Đức Giê-hô-va, vừa đi vừa thổi kèn” (Giô-suê 6:13 Qere).

Việc dùng infinitive absolute cho הלך trong chức năng này dường như đã trở thành công thức quen thuộc, khá phổ biến: וַיֵּלֶךְ אִתָּהּ אִישָׁהּ הָלוֹךְ וּבָכֹה אַחֲרֶיהָ, “Chồng nàng đi theo nàng, vừa đi vừa khóc ở sau nàng” (II Sa-mu-ên 3:16).

(c) Manner (Cách thức) – mô tả phương cách mà một hành động hay tình huống được thực hiện, hoặc những hoàn cảnh đi kèm của hành động. Đây là nguyên mẫu tuyệt đối (infinitive absolute) có gốc khác với động từ hữu hạn (finite verb), và vì thế không phải là nguyên mẫu tuyệt đối nhấn mạnh. Thông thường nó theo sau động từ hữu hạn và bổ nghĩa cho động từ ấy theo cách trạng từ:

• רִדְפוּ מַהֵר, “đuổi theo cách mau chóng” (Josh 2:5) • וְנָטָה־לוֹ מִחוּץ לַמַּחֲנֶה הַרְחֵק מִן־הַמַּחֲנֶה, “người [Moses] dựng trại hội mạc ngoài trại, cách xa trại” (Exod 33:7) • וְשָׁחַקְתָּ מִמֶּנָּה הָדֵק, “ngươi sẽ giã một phần hương rất nhỏ mịn” (Exod 30:36) • וַיַּעַמְדוּ הַכֹּהֲנִים נֹשְׂאֵי הָאָרוֹן בְּרִית־יְהוָה בֶּחָרָבָה בְּתוֹךְ הַיַּרְדֵּן הָכֵן, “các thầy tế lễ khiêng hòm giao ước của Đức Giê-hô-va đứng vững trên đất khô ở giữa sông Giô-đanh” (Josh 3:17).

Một số nguyên mẫu tuyệt đối trong thể Hiphil và Piel được dùng để chỉ cách thức một cách tự nhiên và thường xuyên đến nỗi chúng được xem như trạng từ: • אַחְאָב עָבַד אֶת־הַבַּעַל מְעָט יֵהוּא יַעַבְדֶנּוּ הַרְבֵּה, “Ahab hầu việc Ba-anh ít; Jehu sẽ hầu việc nó nhiều” (2 Kgs 10:18) • סָרוּ מַהֵר מִן־הַדֶּרֶךְ אֲשֶׁר צִוִּיתִם, “chúng nó vội vã xây bỏ đường ta đã truyền cho” (Exod 32:8) • וְדָרַשְׁתָּ וְחָקַרְתָּ וְשָׁאַלְתָּ הֵיטֵב, “ngươi sẽ tra xét, dò hỏi, và hỏi kỹ càng” (Deut 13:15 [Eng 13:14]).

Những nguyên mẫu thường được dùng theo cách này là: הַרְבֵּה (nhiều), הֵיטֵב (tốt, kỹ càng), הַשְׁכֵּם (sớm mai), הַרְחֵק (xa), và מַהֵר (mau chóng).

(d) Verbal substitute (Thay thế động từ) – giữ chức năng như một động từ chính, bất kể là động từ hữu hạn, động từ tình thái, hay thậm chí nguyên mẫu cấu trúc (infinitive construct): • רָגוֹם אֹתוֹ בָאֲבָנִים כָּל־הָעֵדָה, “cả hội chúng sẽ ném đá người đó” (Num 15:35) • הִמּוֹל לָכֶם כָּל-זָכָר, “mọi người nam trong các ngươi phải chịu phép cắt bì” (Gen 17:10) • וְנָתוֹן אֹתוֹ עַל כָּל-אֶרֶץ מִצְרָיִם, “người đặt người ấy lên cai trị khắp đất Ê-díp-tô” (Gen 41:43) • זָכוֹר אֶת-יוֹם הַשַּׁבָּת לְקַדְּשׁוֹ, “hãy nhớ ngày Sa-bát, đặng làm nên thánh” (Exod 20:8).

3.4.3 Participle (Phân từ)
#

Phân từ được hình thành giống như một danh từ (mang giống và số), nhưng có chức năng giống như tính từ (xem Mục 2.5), và vì thế được gọi là “tính từ động từ.” Giống như các hình thức phi hữu hạn khác, phân từ là “phi thời gian,” nghĩa là chỉ có ngữ cảnh mới quyết định đặc điểm thì/diện của hành động.

Thông thường, các phân từ chủ động (Qal active, Piel, và Hiphil) ngụ ý hành động đang tiếp diễn hoặc đang tiếp diễn, bất kể trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai. Ý niệm kéo dài này thực ra được biểu đạt mạnh mẽ hơn bởi phân từ so với động từ chưa hoàn thành (imperfect). Các phân từ bị động biểu thị hành động đã hoàn tất, thường dẫn đến việc dịch nghĩa trong mối liên hệ với mệnh đề quan hệ, với động từ hoàn thành hoặc quá khứ. Trong một số cách dùng như vị ngữ tính từ, phân từ thứ yếu trở thành một hình thức thời gian; nghĩa là nó có thể thay thế cho động từ chưa hoàn thành.

Khi phủ định, phân từ dùng אֵין.

Các phạm trù ngữ nghĩa sau đây hữu ích trong việc phân loại phân từ:

(a) Attributive (Thuộc tính) – gán một phẩm chất cho danh từ. Giống như tính từ thuộc tính (xem Mục 2.5.1), phân từ thuộc tính tạo thành một cụm với danh từ mà nó bổ nghĩa, có một chức năng duy nhất trong câu. Nó đứng đồng cách với danh từ, thường theo sau và hòa hợp về giống, số, và tính xác định: • לֵב שֹׁמֵעַ, “một tấm lòng biết nghe” (1 Kgs 3:9) • וּבִזְרוֹעַ נְטוּיָה, “bởi cánh tay giơ ra” (Deut 4:34) • אֹזֶן שֹׁמַעַת, “tai biết nghe” (Prov 15:31).

Thường thì phân từ cần một mệnh đề quan hệ trong bản dịch (được dẫn bằng “người,” “cái,” hoặc “mà”), trong trường hợp đó phân từ thuộc tính thường mang tính xác định: • מִבְּכוֹר פַּרְעֹה הַיֹּשֵׁב עַל-כִּסְאוֹ, “từ con trưởng của Pha-ra-ôn, là kẻ ngồi trên ngôi mình” (Exod 11:5) • הַיּוֹם הַבָּא, “ngày sẽ đến” (Jer 47:4) • הַכֶּסֶף הַמּוּשָׁב, “tiền bạc đã được trả lại” (Gen 43:12) • לֻחֹת אֶבֶן כְּתֻבִים בְּאֶצְבַּע אֱלֹהִים, “bảng đá được viết bởi ngón tay Đức Chúa Trời” (Exod 31:18).

Phân từ thuộc tính không đánh dấu thì hoặc thể (aspect); cả hai đều phải được xác định từ ngữ cảnh. Vì thế הַצָּבָא הַבָּא có thể nghĩa là “đạo binh đã đến,” “đạo binh đang đến,” hoặc “đạo binh sẽ đến.” Trong ngữ cảnh của 2 Chr 28:9, nó chỉ có thể nghĩa là “đạo binh đã đến” vì nằm trong văn cảnh tường thuật các sự kiện quá khứ.

(b) Predicate (Vị ngữ) – diễn đạt một mệnh đề về danh từ hoặc đại từ trong mệnh đề danh từ (tức là mệnh đề không có động từ hữu hạn, xem Mục 5.1.1, c). Giống như tính từ vị ngữ (xem Mục 2.5.1), phân từ vị ngữ hòa hợp về giống và số với danh từ mà nó bổ nghĩa, và luôn luôn bất định. Phân từ có thể đứng trước hoặc sau danh từ hay đại từ mà nó bổ nghĩa: • הַשָּׁמַיִם מְסַפְּרִים כְּבוֹד-אֵל, “các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời” (Ps 19:2 [Eng 19:1]) • בָּרוּךְ אַבְרָם לְאֵל עֶלְיוֹן, “Áp-ram được chúc phước bởi Đức Chúa Trời Chí Cao” (Gen 14:19).

Do đặc tính động từ, phân từ vị ngữ có thể có chủ từ hoặc túc từ trực tiếp, hoặc có thể được bổ nghĩa bởi trạng từ hay cụm giới từ. Như thường lệ, phân từ không biểu thị thì, nhưng hành động hoặc tình trạng kéo dài hay tiếp diễn có thể xảy ra trong quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai, tùy theo ngữ cảnh.

(b.1) Present (Hiện tại) – diễn đạt sự kéo dài trong thì hiện tại, vốn là chức năng động từ tự nhiên nhất của phân từ do bản chất kéo dài của nó. Phân từ vị ngữ chỉ hành động hiện tại trở thành sự thay thế cho động từ bất toàn: • אָנֹכִי בֹּרַחַת, “ta đang trốn chạy” (Gen 16:8) • לֹא-כֵן אֲנַחְנוּ עֹשִׂים, “chúng ta chẳng làm điều phải” (2 Kgs 7:9).

Điều này có thể biểu thị những chân lý phổ quát vừa được bày tỏ, hoặc những chân lý có giá trị muôn đời: • כִּי יֹדֵעַ אֱלֹהִים, “vì Đức Chúa Trời biết” (Gen 3:5) • דּוֹר הֹלֵךְ וְדוֹר בָּא וְהָאָרֶץ לְעוֹלָם עֹמָדֶת, “một thế hệ đi, một thế hệ đến, nhưng đất vẫn còn đời đời” (Eccl 1:4).

Đôi khi phân từ vị ngữ hiện tại xuất hiện sau הִנֵּה để diễn đạt hành động tức thời hoặc tình trạng cần được quan sát (vì thế trong tiếng Anh dịch là “kìa” hay “nầy”): • הִנֵּה פְלִשְׁתִּים נִלְחָמִים בִּקְעִילָה, “kìa dân Phi-li-tin đang đánh thành Kê-i-la” (1 Sam 23:1).

(b.2) Past (Quá khứ) – diễn đạt sự kéo dài trong thì quá khứ: • וְנָהָר יֹצֵא מֵעֵדֶן, “có một sông chảy ra từ Ê-đen” (Gen 2:10) • אֲשֶׁר-הוּא עֹשֶׂה יְהוָה מַצְלִיחַ, “mọi sự Giô-sép làm, Đức Giê-hô-va đều khiến được thạnh vượng” (Gen 39:23) • וַאֲדֹנִיָּה בֶן-חַגִּית מִתְנַשֵּׂא, “A-đô-ni-gia, con bà Hạc-ghít, tự tôn mình lên” (1 Kgs 1:5) • לוֹט יֹשֵׁב בְּשַׁעַר-סְדֹם, “Lót ngồi tại cửa thành Sô-đôm” (Gen 19:1) • סִיחֹן מֶלֶךְ הָאֱמֹרִי אֲשֶׁר יוֹשֵׁב בְּחֶשְׁבּוֹן, “Si-hôn, vua dân A-mô-rít, là kẻ ở tại Hết-bôn” (Deut 3:2).

Phân từ vị ngữ quá khứ thường xuất hiện sau הִנֵּה để diễn đạt hành động tức thời đã xảy ra trong quá khứ (xem b.1 ở phần trước): • הִנֵּה אֹרְחַת יִשְׁמְעֵאלִים בָּאָה, “kìa có một đoàn người Ích-ma-ên đi đến” (Gen 37:25) • וְהִנֵּה שְׁלֹשָׁה אֲנָשִׁים נִצָּבִים עָלָיו, “kìa có ba người đứng gần người” (Gen 18:2) • וְהִנֵּה אֲנַחְנוּ מְאַלְּמִים אֲלֻמִּים בְּתוֹךְ הַשָּׂדֶה, “kìa chúng tôi đang bó những bó lúa ngoài đồng” (Gen 37:7) • וַיְהִי הֵם מְרִיקִים שַׂקֵּיהֶם, “và chúng đương trút bao mình ra” (Gen 42:35).

Bản chất phi thời gian của phân từ động từ (verbal participle) thường được làm rõ bằng cách thêm động từ היה để diễn đạt thì quá khứ một cách minh bạch: • וּמֹשֶׁה הָיָה רֹעֶה אֶת-צֹאן יִתְרוֹ חֹתְנוֹ, “Môi-se chăn bầy chiên của Jethro, cha vợ mình” (Exod 3:1) • הַבָּקָר הָיוּ חֹרְשׁוֹת, “các con bò đang cày” (Job 1:14) • מַמְרִים הֱיִיתֶם עִם־יְהוָה, “các ngươi đã phản nghịch cùng Đức Giê-hô-va” (Deut 9:24) • וָאֱהִי צָם וּמִתְפַּלֵּל לִפְנֵי אֱלֹהֵי הַשָּׁמָיִם, “ta kiêng ăn và cầu nguyện trước mặt Đức Chúa Trời trên trời” (Neh 1:4).

(b.3) Future (Tương lai) – diễn đạt sự kéo dài trong thì tương lai: • אָנֹכִי מַמְטִיר עַל־הָאָרֶץ אַרְבָּעִים יוֹם וְאַרְבָּעִים לַיְלָה, “Ta sẽ khiến mưa sa trên đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm” (Gen 7:4) • לַמּוֹעֵד הַזֶּה כָּעֵת חַיָּה אַתְּ חֹבֶקֶת בֵּן, “đúng kỳ này sang năm, ngươi sẽ bồng một con trai” (2 Kgs 4:16 Qere).

Phân từ vị ngữ tương lai thường được dùng để công bố hành động sắp xảy ra, hoặc hành động đã bắt đầu: • אֲשֶׁר הָאֱלֹהִים עֹשֶׂה הֶרְאָה אֶת־פַּרְעֹה, “Đức Chúa Trời đã tỏ cho Pha-ra-ôn điều Ngài sắp làm” (Gen 41:28) • כִּי־מַשְׁחִתִים אֲנַחְנוּ אֶת־הַמָּקוֹם הַזֶּה, “chúng ta sắp hủy diệt chỗ này” (Gen 19:13).

Giống như phân từ vị ngữ hiện tại và quá khứ, phân từ vị ngữ tương lai có thể đặc biệt chỉ hành động sắp xảy ra khi được dẫn bằng הִנֵּה: • וַאֲנִי הִנְנִי מֵבִיא אֶת־הַמַּבּוּל מַיִם עַל־הָאָרֶץ, “Nầy, chính ta sẽ khiến nước lụt đến trên đất” (Gen 6:17) • הִנְּךָ שֹׁכֵב עִם־אֲבֹתֶיךָ, “ngươi sẽ nằm cùng tổ phụ mình” (Deut 31:16) • הִנְנִי נֹתְנוֹ בְיָדְךָ הַיּוֹם, “Nầy, hôm nay ta sẽ phó nó vào tay ngươi” (1 Kgs 20:13).

Cũng như phân từ vị ngữ quá khứ, phân từ vị ngữ tương lai có thể đi với היה để diễn đạt thì tương lai rõ ràng hơn: • וְכִסֵּא דָוִד יִהְיֶה נָכוֹן לִפְנֵי יְהוָה עַד־עוֹלָם, “ngôi của Đa-vít sẽ được lập vững chắc trước mặt Đức Giê-hô-va cho đến đời đời” (1 Kgs 2:45).

(c) Substantive (Danh từ) – giữ chức năng như một danh từ, thường xuất hiện với mạo từ xác định: • בִּימֵי שְׁפֹט הַשֹּׁפְטִים, “Trong những ngày các quan xét cai trị” (Ruth 1:1).

Không ít lần mạo từ xác định bị lược bỏ: • קֹנֵה שָׁמַיִם וָאָרֶץ, “Đấng dựng nên trời và đất” (Gen 14:19) • הוֹי בֹּנֶה בֵיתוֹ בְּלֹא־צֶדֶק, “Khốn thay cho kẻ xây nhà mình mà không có sự công bình” (Jer 22:13).

Mạo từ xác định đặc biệt có thể tùy chọn trong thi ca: • וּגְאוּלִים יֵלֵכוּ, “Nhưng những kẻ được chuộc sẽ đi” (Isa 35:9).

Là một danh từ, phân từ danh từ có thể thực hiện mọi chức năng của danh từ. Vì thế, nó có thể: • mang tiếp vĩ ngữ đại từ: יְהוָה שֹׁמְרֶךָ, “Đức Giê-hô-va là Đấng giữ ngươi” (Ps 121:5) • đứng trong trạng thái liên kết: שֹׁמְרֵי מִשְׁפָּט, “những kẻ giữ sự công bình” (Ps 106:3) • hoặc làm túc từ của giới từ: לְשֹׁמְרֵי בְרִיתוֹ, “cho những kẻ giữ giao ước Ngài” (Ps 103:18).

Phân từ danh từ cũng có thể giữ bất kỳ chức năng nào trong cách dùng danh cách, sở hữu cách, hoặc đối cách.

Phân từ danh từ trong cấu trúc sở cách có thể thực hiện bất kỳ cách dùng nào của danh từ sở cách (xem Mục 2.2). Tuy nhiên, có một cách dùng đặc biệt của phân từ xảy ra khi một số động từ (nhất là בּוֹא và יָצָא) đứng trong trạng thái liên kết với một danh từ khác, thay vì có túc từ trực tiếp hoặc cụm giới từ như thường thấy: • בָּאֵי שַׁעַר־עִירוֹ, “những kẻ vào cửa thành của người” (Gen 23:10) • יֹצְאֵי הַתֵּבָה, “những kẻ ra khỏi tàu” (Gen 9:10) • יוֹרְדֵי־בוֹר, “những kẻ xuống hố” (Isa 38:18) • אֹכְלֵי שֻׁלְחַן אִיזֶבֶל, “những kẻ ăn tại bàn của Giê-sa-bên” (1 Kgs 18:19).

Một số gốc động từ được dùng rộng rãi như phân từ danh từ đến nỗi chúng thực chất trở thành danh từ, phần lớn chỉ nghề nghiệp hoặc vai trò nhận diện: • שׁוֹפֵט, “quan xét (người xét đoán)” • סוֹפֵר, “thư ký (người ghi chép)” • יוֹצֵר, “thợ gốm (người nắn)” • אֹיֵב, “kẻ thù (người tỏ ra thù nghịch)” và nhiều từ khác.

3.5 CÁC HÌNH THỨC ĐỘNG TỪ KHÁC VỚI TIỀN TỐ WAW
#

Ngoài hình thái của động từ đã được trình bày cho đến nay – bao gồm chi tiết về gốc từ, thể, động từ tình thái, và các hình thức phi biến cách – tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh có một số hình thức chuyên biệt sử dụng liên từ phổ biến waw. Thông thường, đặc biệt trong các phần tường thuật của Cựu Ước, liên từ này được gắn tiền tố vào các hình thức động từ biến cách để thực hiện những chức năng vốn không gắn liền với waw đơn giản (simple waw).

Trong hai hình thức đầu tiên được trình bày ở đây (wayyiqtol, 3.5.1, và wəqatal, 3.5.2), tiền tố waw đi kèm với những thay đổi bổ sung trong hình vị. Các nhà ngữ pháp đã dùng nhiều tên gọi khác nhau cho hiện tượng này: waw consecutive, waw inversive, relative waw, hoặc waw conversive. Mỗi tên gọi đều chỉ cùng một hiện tượng ngữ pháp, nhưng nhấn mạnh khác nhau về chức năng của waw trong việc tạo mối quan hệ giữa các mệnh đề.

Một số nhà ngữ pháp cho rằng waw đơn giản chỉ chuyển nghĩa của một diện động từ sang diện khác (ví dụ: một hình thức chưa hoàn thành được chuyển sang nghĩa hoàn thành), nên gọi là waw conversive. Những người khác tập trung vào việc dùng waw đặc biệt này để sắp xếp hành động động từ theo chuỗi, nên gọi là waw consecutive. Tuy nhiên, khi sự tiến hóa của các hình thức tiền tố trong tiếng Hê-bơ-rơ cổ được phát hiện, cách hiểu về hình thức này trong BH đã thay đổi (xem lại Mục 3.2.2).

Vào cuối thiên niên kỷ thứ hai TCN, tiếng Hê-bơ-rơ có bốn hình thức tiền tố riêng biệt:

  1. yaqtulu, chưa hoàn thành chỉ định (hiện tại–tương lai)
  2. yaqtula, thể giả định (subjunctive)
  3. yaqtul, thể cầu khiến (jussive)
  4. yaqtul, thể quá khứ (preterite).

Khi các nguyên âm cuối bị mất đi (khoảng năm 1100 TCN), các hình thức này về cơ bản trở nên khó phân biệt. Do đó, chưa hoàn thành trong BH có một cách dùng thật sự như quá khứ (xem Mục 3.2.2, e). Khái niệm về waw chuyển đổi hay liên tiếp đã bị loại bỏ. Thay vào đó, thích hợp hơn là gọi waw đi với chưa hoàn thành bằng cách phiên âm hình thức thực tế, *wayyiqtol, hoặc bằng chức năng chính của nó, tức là tường thuật quá khứ (3.5.1). Tương tự, đối với waw đi với hoàn thành, vốn được viết theo cách thông thường của liên từ nhưng thường dời trọng âm về âm tiết cuối, thích hợp hơn là gọi là wəqatal hoặc hoàn thành phi thực (irreal perfect, 3.5.2).

Các mẫu sau đây cần được ghi nhớ khi xét đến các hình thức động từ với tiền tố waw.

3.5.1 Wayyiqtol (Tường thuật quá khứ)
#

Wayyiqtol (tường thuật quá khứ, đôi khi được gọi không chính xác là bất toàn với waw consecutive) đã được xem là “công cụ chính” của các tường thuật trong BH. Nó thường biểu thị một diện tương tự với thể hoàn thành đơn giản (xem Mục 3.2.1), vốn đôi khi xuất hiện trước nó trong mệnh đề liền trước.

Vì xuất hiện rất thường xuyên trong chuỗi các mệnh đề động từ, wayyiqtol thường đóng vai trò thay thế cho thể hoàn thành, dường như thêm ý niệm về sự kế tiếp. Tuy nhiên, wayyiqtol cũng có thể theo sau một mệnh đề với thể chưa hoàn thành, một phân từ, một mệnh đề danh từ, hoặc thậm chí có thể bắt đầu một đoạn văn mới một cách độc lập.

Những sắc thái sau đây sẽ hữu ích trong việc giải thích hình thức chia động từ wayyiqtol.

(a) Sequential (Tuần tự) – diễn đạt sự nối tiếp theo thời gian, mô tả một hành động hoặc tình huống xảy ra sau một hành động hoặc tình huống trước đó: • וְהָאָדָם יָדַע אֶת־חַוָּה אִשְׁתּוֹ וַתַּהַר וַתֵּלֶד אֶת־קַיִן, “A-đam ăn ở cùng vợ mình là Ê-va, nàng thụ thai, rồi sanh Cain” (Gen 4:1) • וַיַּעֲבֹר דָּוִד הָעֵבֶר וַיַּעֲמֹד עַל־רֹאשׁ־הָהָר, “Đa-vít đi qua bên kia, rồi đứng trên chót núi” (1 Sam 26:13) • וַיָּבֹא מֹשֶׁה וְאַהֲרֹן אֶל־פַּרְעֹה וַיַּעֲשׂוּ כֵן כַּאֲשֶׁר צִוָּה יְהוָה, “Môi-se và A-rôn đến cùng Pha-ra-ôn, rồi làm y như Đức Giê-hô-va đã truyền” (Exod 7:10).

Trong tường thuật, một hành động hoặc tình huống không nối tiếp động từ chính, nhưng xảy ra trước đó (tương đương với quá khứ hoàn thành trong tiếng Anh), thường được trình bày bằng cách bỏ mẫu thức wayyiqtol và thay thế bằng liên từ waw trên một hình thức biến thể (finite) (xem Mục 3.5.4, c). Tuy nhiên, đôi khi wayyiqtol cũng được dùng để đánh dấu những cấu trúc trước đó, điều này phải được phân biệt từ ngữ cảnh: • וַיְדַבֵּר אֲלֵיהֶם אֲבִיהֶם אֵי־זֶה הַדֶּרֶךְ הָלָךְ וַיִּרְאוּ בָנָיו אֶת־הַדֶּרֶךְ אֲשֶׁר הָלַךְ אִישׁ הָאֱלֹהִים אֲשֶׁר־בָּא מִיהוּדָה, “Cha chúng nói cùng chúng rằng: Người đi đường nào? Các con trai đã thấy đường mà người của Đức Chúa Trời từ Giu-đa đi” (1 Kgs 13:12).

(b) Consequential (Hệ quả) – diễn đạt kết quả hợp lý, mô tả một hành động hoặc tình huống phát sinh từ một hành động hoặc tình huống trước đó: • וַיְהִי יְהוָה אֶת־יוֹסֵף וַיְהִי אִישׁ מַצְלִיחַ, “Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-sép, nên người được thạnh vượng” (Gen 39:2) • וַיְכֻלּוּ הַשָּׁמַיִם וְהָאָרֶץ, “Vậy trời và đất đều đã dựng xong” (Gen 2:1) • וַיֶּחֱזַק דָּוִד מִן־הַפְּלִשְׁתִּי בַּקֶּלַע וּבָאֶבֶן, “Đa-vít thắng người Phi-li-tin bằng cái ná và hòn đá” (1 Sam 17:50).

Cách dùng hệ quả của wayyiqtol có thể được dùng để kết thúc một tường thuật: • וּתְשֻׁבָתוֹ הָרָמָתָה כִּי־שָׁם בֵּיתוֹ וְשָׁם שָׁפָט אֶת־יִשְׂרָאֵל וַיִּבֶן־שָׁם מִזְבֵּחַ לַיהוָה, “Người trở về Ra-ma, vì nhà người ở đó; tại đó người xét đoán dân Y-sơ-ra-ên, và người xây tại đó một bàn thờ cho Đức Giê-hô-va” (1 Sam 7:17) • וַיְהִי יְהוָה אֶת־יְהוֹשֻׁעַ וַיְהִי שָׁמְעוֹ בְּכָל־הָאָרֶץ, “Đức Giê-hô-va ở cùng Giô-suê, nên danh người đồn khắp đất” (Josh 6:27).

(c) Narratival (Tường thuật) – Do sự thường xuyên của nó, wayyiqtol được dùng độc lập, không cần mệnh đề động từ đi trước, để bắt đầu một chuỗi tường thuật hoặc một phần mới của tường thuật: • וַיֵּרָא אֵלָיו יְהוָה בְּאֵלֹנֵי מַמְרֵא, “Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người [Áp-ra-ham] tại cây sồi Mam-rê” (Gen 18:1).

Cách dùng tường thuật của wayyiqtol thậm chí có thể mở đầu một sách: • וַיִּקְרָא אֶל־מֹשֶׁה וַיְדַבֵּר יְהוָה אֵלָיו מֵאֹהֶל מוֹעֵד, “Đức Giê-hô-va gọi Môi-se và phán cùng người từ trong hội mạc” (Lev 1:1) • וַיְדַבֵּר יְהוָה אֶל־מֹשֶׁה בְּמִדְבַּר סִינַי, “Đức Giê-hô-va phán cùng Môi-se tại đồng vắng Si-na-i” (Num 1:1).

Cách dùng tường thuật đặc biệt thường gặp với động từ biến thể הָיָה để mở đầu một tường thuật mới hoặc một phần của tường thuật: • וַיְהִי אִישׁ אֶחָד מִן־הָרָמָתַיִם צוֹפִים, “Có một người ở Ra-ma-tha-im Tso-phim” (1 Sam 1:1) • וַיְהִי דְבַר־יְהוָה אֶל־יוֹנָה, “Có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Giô-na” (Jonah 1:1).

Trong những trường hợp như vậy, chúng ta có thể xem וַיְהִי như có chức năng ít mang tính động từ thực sự, nhưng giống như một “tín hiệu vĩ cú pháp” (macrosyntactic signal) để giới thiệu một phần hoặc một khối văn bản.

(d) Epexegetical (Giải thích) – làm rõ, mở rộng, hoặc diễn giải lại mệnh đề đi trước (liên từ đơn giản waw cũng có thể được dùng trên danh từ để thực hiện chức năng tương tự; so sánh 4.3.3, d): • אֲבָל אִשָׁה־אַלְמָנָה אָנִי וַיָּמָת אִישִׁי, “Thật, tôi là một người góa; chồng tôi đã chết” (2 Sam 14:5) • וַתִּקְרָא שְׁמוֹ מֹשֶׁה וַתֹּאמֶר כִּי מִן־הַמַּיִם מְשִׁיתִהוּ, “Nàng đặt tên người là Môi-se, mà nói rằng: Vì ta đã vớt người khỏi nước” (Exod 2:10) • מָה עָשִׂיתָ וַתִּגְנֹב אֶת־לְבָבִי, “Ngươi đã làm chi? Ngươi đã dối gạt lòng ta!” (Gen 31:26).

Đôi khi, sự giải thích hành động của động từ có thể lặp lại ý chính của động từ: • וְלֹא־זָכַר שַׂר־הַמַּשְׁקִים אֶת־יוֹסֵף וַיִּשְׁכָּחֵהוּ, “Quan chánh tửu chẳng nhớ đến Giô-sép, và quên người đi” (Gen 40:23) • הֲלוֹא־הוּא אָבִיךָ קָנֶךָ הוּא עָשְׂךָ וַיְכֹנְנֶךָ, “Há chẳng phải Ngài là Cha ngươi, là Đấng dựng nên ngươi, làm nên ngươi và lập ngươi sao?” (Deut 32:6) • וַיָּנָס דָּוִד וַיִּמָּלֵט בַּלַּיְלָה הוּא, “Đa-vít chạy trốn, và thoát khỏi trong đêm ấy” (1 Sam 19:10).

Gần như giống hệt với cách dùng này là sự xác định (specification), trong đó hình thức wayyiqtol làm cho ý động từ trước đó trở nên cụ thể hơn: • וַיִּשְׁכְּחוּ אֶת־יְהוָה אֱלֹהֵיהֶם וַיַּעַבְדוּ אֶת־הַבְּעָלִים וְאֶת־הָאֲשֵׁרוֹת, “Chúng nó quên Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời mình, và hầu việc các Ba-anh cùng A-sê-ra” (Judg 3:7) • קִנֵּא לֵאלֹהָיו וַיְכַפֵּר עַל־בְּנֵי יִשְׂרָאֵל, “Người sốt sắng vì Đức Chúa Trời mình, và chuộc tội cho dân Y-sơ-ra-ên” (Num 25:13).

(e) Dependent (Phụ thuộc) – theo sau các mệnh đề thời gian, hình thức wayyiqtol sẽ trình bày một hành động hoặc tình huống phụ thuộc vào mệnh đề thời gian: • בִּשְׁנַת־מוֹת הַמֶּלֶךְ עֻזִּיָּהוּ וָאֶרְאֶה אֶת־אֲדֹנָי, “Trong năm vua Ô-xi băng, tôi thấy Chúa” (Isa 6:1) • וַיְהִי בִּהְיוֹתָם בַּשָּׂדֶה וַיָּקָם קַיִן אֶל־הֶבֶל אָחִיו, “Khi chúng ở ngoài đồng, Cain đứng lên nghịch cùng em mình là A-bên” (Gen 4:8) • וַיְהִי כְּשָׁמְעָם אֶת־הַתּוֹרָה וַיַּבְדִּילוּ כָל־עֵרֶב מִיִּשְׂרָאֵל, “Khi chúng nghe luật pháp, thì phân rẽ hết thảy dân ngoại khỏi dân Y-sơ-ra-ên” (Neh 13:3).

3.5.2 Wəqatal (Hoàn thành phi thực)
#

Wəqatal (hoàn thành phi thực, đôi khi được gọi không chính xác là hoàn thành với waw consecutive) thường biểu thị cùng một diện với bất toàn (xem Mục 3.2.2), vốn đôi khi xuất hiện trước nó trong mệnh đề liền trước. Tuy nhiên, sự chia động từ wəqatal cũng có thể theo sau một mệnh đề mệnh lệnh, một thể hoàn thành, một phân từ, một nguyên mẫu đóng vai trò như động từ biến thể, hoặc một mệnh đề danh từ. Trong mọi trường hợp, nó thường đóng vai trò thay thế cho thể chưa hoàn thành, dường như thêm ý niệm về sự kế tiếp. Những sắc thái sau đây sẽ hữu ích trong việc giải thích hình thức wəqatal.

(a) Sequential (Tuần tự) – diễn đạt sự nối tiếp theo thời gian, mô tả một hành động hoặc tình huống xảy ra sau một hành động hoặc tình huống trước đó: • עַל־כֵּן יַעֲזָב־אִישׁ אֶת־אָבִיו וְאֶת־אִמּוֹ וְדָבַק בְּאִשְׁתּוֹ, “Bởi vậy, người nam sẽ lìa cha mẹ mình, mà dính díu cùng vợ mình” (Gen 2:24) • אֵצֵא וְהָיִיתִי רוּחַ שֶׁקֶר בְּפִי כָּל־נְבִיאָיו, “Ta sẽ ra, và sẽ làm thần gian dối trong miệng các tiên tri người” (1 Kgs 22:22) • תָּאכַל וְשָׂבָעְתָּ, “Ngươi sẽ ăn, rồi được no nê” (Deut 8:12) • יְהִי מְאֹרֹת בִּרְקִיעַ הַשָּׁמַיִם לְהַבְדִּיל בֵּין הַיּוֹם וּבֵין הַלָּיְלָה וְהָיוּ לְאֹתֹת וּלְמוֹעֲדִים וּלְיָמִים וְשָׁנִים, “Hãy có những đèn trong khoảng không trên trời, để phân biệt ngày với đêm, và làm dấu, định mùa, ngày và năm” (Gen 1:14) • הִנֵּה הָעַלְמָה הָרָה וְיֹלֶדֶת בֵּן וְקָרָאת שְׁמוֹ עִמָּנוּ אֵל, “Nầy, một gái đồng trinh sẽ chịu thai, sanh một con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-ên” (Isa 7:14).

(b) Consequential (Hệ quả) – diễn đạt kết quả hợp lý, mô tả một hành động hoặc tình huống phát sinh từ một hành động hoặc tình huống trước đó: • אֲנִי יְהוָה וְהוֹצֵאתִי אֶתְכֶם, “Ta là Đức Giê-hô-va, và ta sẽ đem các ngươi ra” (Exod 6:6) • הִנֵּה נָגַע זֶה עַל-שְׂפָתֶיךָ וְסָר עֲוֹנֶךָ, “Cái này đã chạm đến môi ngươi, nên tội lỗi ngươi được cất đi” (Isa 6:7) • וְאֵד יַעֲלֶה מִן-הָאָרֶץ וְהִשְׁקָה אֶת-כָּל-פְּנֵי-הָאֲדָמָה, “Có một dòng nước từ đất lên, và tưới khắp mặt đất” (Gen 2:6) • אֲנִי יְהוָה דִּבַּרְתִּי וְעָשִׂיתִי, “Ta là Đức Giê-hô-va đã phán, và ta sẽ làm thành” (Ezek 17:24) • וְהֵפִיץ יְהוָה אֶתְכֶם בָּעַמִּים וְנִשְׁאַרְתֶּם מְתֵי מִסְפָּר, “Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi tan tác ra trong các dân, và số còn lại sẽ ít” (Deut 4:27).

(c) Volitional (Ý chí) – diễn đạt một mệnh lệnh hoặc ước muốn: • וַאֲהַבְתֶּם אֶת-הַגֵּר כִּי-גֵרִים הֱיִיתֶם בְּאֶרֶץ מִצְרָיִם, “Các ngươi phải yêu khách ngoại kiều, vì mình đã từng làm khách ngoại kiều trong đất Ê-díp-tô” (Deut 10:19) • וּקְשַׁרְתָּם לְאוֹת עַל-יָדֶךָ, “Hãy buộc nó làm dấu trên tay ngươi” (Deut 6:8) • וְהִתְקַדִּשְׁתֶּם וִהְיִיתֶם קְדֹשִׁים כִּי קָדוֹשׁ אָנִי, “Hãy tự làm mình nên thánh, và hãy nên thánh, vì ta là thánh” (Lev 11:44).

Những ví dụ này cho thấy rằng wəqatal mang tính ý chí, đặc biệt khi đi sau một mệnh lệnh, thường diễn đạt một mạng lệnh trong diễn ngôn, nơi một nhân vật có địa vị xã hội cao hơn truyền đạt cho kẻ dưới quyền.

Cách dùng ý chí (volitional) của wəqatal thường được dẫn trước bởi một mệnh đề có động từ cầu khiến (jussive), mệnh lệnh (imperative), hoặc động từ đồng nguyện (cohortative), hay một nguyên mẫu tuyệt đối (infinitive absolute) đóng vai trò như mệnh lệnh (xem Mục 3.4.2, d), và có chức năng diễn đạt sự kế tiếp: • יְבַקְשׁוּ לַאדֹנִי הַמֶּלֶךְ נַעֲרָה בְתוּלָה וְעָמְדָה לִפְנֵי הַמֶּלֶךְ, “Hãy tìm cho chúa tôi là vua một gái đồng trinh, và nàng sẽ hầu trước mặt vua” (1 Kgs 1:2) • לֹא-יָמוּשׁ סֵפֶר הַתּוֹרָה הַזֶּה מִפִּיךָ וְהָגִיתָ בּוֹ יוֹמָם וָלַיְלָה, “Quyển luật pháp này chớ rời khỏi miệng ngươi, nhưng hãy suy gẫm nó ngày và đêm” (Josh 1:8).

Wəqatal đi sau một động từ tình thái, hoặc một nguyên mẫu tuyệt đối tương đương, có thể nhấn mạnh sự kế tiếp, khiến cho việc thực hiện hành động hay tình huống của nó phụ thuộc vào hành động trước đó: • עֲשֵׂה כַאֲשֶׁר דִּבֶּר וּפְגַע-בּוֹ וּקְבַרְתּוֹ, “Hãy làm như người đã nói, đánh người, rồi chôn đi” (1 Kgs 2:31) • לְךָ וְנִקְרְבָה בְּאַחַד הַמְּקֹמוֹת וְלָנוּ, “Hãy đi, chúng ta sẽ đến gần một trong các nơi đó, rồi nghỉ đêm tại đó” (Judg 19:13) • בְּנֵה-לְךָ בַיִת בִּירוּשָׁלִַם וְיָשַׁבְתָּ שָּׁם, “Hãy xây cho ngươi một nhà tại Giê-ru-sa-lem, rồi ở tại đó” (1 Kgs 2:36).

Thường thì wəqatal mang sắc thái về mục đích hoặc kết quả: • עָלֹה נַעֲלֶה וְיָרַשְׁנוּ אֹתָהּ, “Chúng ta hãy đi lên tức thì, và sẽ chiếm lấy nó” (Num 13:30) • הָלוֹךְ וְרָחַצְתָּ שֶׁבַע-פְּעָמִים בַּיַּרְדֵּן, “Hãy đi, và tắm bảy lần trong sông Giô-đanh” (2 Kgs 5:20) • וְשׁוּב עִמִּי וְהִשְׁתַּחֲוֵיתִי לַיהוָה אֱלֹהֶיךָ, “Hãy trở lại cùng ta, để ta thờ lạy Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi” (1 Sam 15:30) • וְזֹאת עֲשׂוּ לָהֶם וְחָיוּ וְלֹא יָמֻתוּ, “Hãy làm điều này cho chúng, để chúng được sống và không chết” (Num 4:19).

(d) Apodictic (Mệnh lệnh tuyệt đối) – trong câu điều kiện, diễn đạt kết quả hợp lý, mô tả một hành động hoặc tình huống phát sinh từ (hoặc phụ thuộc vào) hành động hoặc tình huống trước đó: • אִם-חָפֵץ בָּנוּ יְהוָה וְהֵבִיא אֹתָנוּ אֶל-הָאָרֶץ הַזֹּאת, “Nếu Đức Giê-hô-va vui lòng về chúng ta, thì Ngài sẽ dẫn chúng ta vào đất này” (Num 14:8) • אִם-יִהְיֶה אֱלֹהִים עִמָּדִי … וְהָיָה יְהוָה לִי לֵאלֹהִים, “Nếu Đức Chúa Trời ở cùng tôi…thì Đức Giê-hô-va sẽ là Đức Chúa Trời của tôi” (Gen 28:20–21) • וְאִם-אֵין מוֹשִׁיעַ אֹתָנוּ וְיָצָאנוּ אֵלֶיךָ, “Nếu không có ai giải cứu chúng ta, thì chúng ta sẽ ra hàng ngươi” (1 Sam 11:3).

Thường thì wəqatal mang tính mệnh lệnh tuyệt đối (apodictic) không nhằm trình bày mệnh đề hệ quả (apodosis), nhưng để mở rộng ý tưởng trong mệnh đề điều kiện (protasis) hoặc trong chính mệnh đề hệ quả: • אִם־שָׁמֹעַ תִּשְׁמְעוּ בְּקֹלִי וּשְׁמַרְתֶּם אֶת־בְּרִיתִי, “Nếu các ngươi nghe tiếng ta cách trọn vẹn và giữ giao ước ta” (Exod 19:5) • כִּי תַעַזְבוּ אֶת־יְהוָה וַעֲבַדְתֶּם אֱלֹהֵי נֵכָר, “Nếu các ngươi lìa bỏ Đức Giê-hô-va và hầu việc các thần ngoại quốc…” (Jos 24:20) • כִּי־יִהְיֶה לָהֶם דָּבָר בָּא אֵלַי וְשָׁפַטְתִּי בֵּין אִישׁ וּבֵין רֵעֵהוּ וְהוֹדַעְתִּי אֶת־חֻקֵּי הָאֱלֹהִים וְאֶת־תּוֹרֹתָיו, “Nếu họ có sự tranh tụng, thì đến cùng ta; ta sẽ xét đoán giữa người và kẻ lân cận mình, và ta sẽ tỏ ra các luật lệ của Đức Chúa Trời cùng các điều răn của Ngài” (Exod 18:16).

(e) Iterative (Lặp lại) – chỉ hành động được lặp đi lặp lại hoặc thói quen trong quá khứ: • וְעָלָה הָאִישׁ הַהוּא מֵעִירוֹ מִיָּמִים יָמִימָה לְהִשְׁתַּחֲוֹת, “Người ấy hằng năm từ thành mình lên để thờ lạy” (1 Sam 1:3) • וְשָׁלַח יְהוָה אֲלֵיכֶם אֶת־כָּל־עֲבָדָיו הַנְּבִיאִים הַשְׁכֵּם וְשָׁלֹחַ, “Đức Giê-hô-va đã sai đến cùng các ngươi mọi tôi tớ Ngài là các đấng tiên tri, sớm mai và liên tiếp” (Jer 25:4) • וְדִבַּרְתִּי עַל־הַנְּבִיאִים, “Ta [Đức Giê-hô-va] đã nhiều lần phán cùng các đấng tiên tri” (Hos 12:11 [Eng 12:10]).

Các mối quan hệ chuỗi động từ không chỉ giới hạn trong các hình thức wayyiqtolwəqatal, nhưng cũng có thể được diễn đạt bởi các động từ có tiền tố liên từ đơn giản waw. Như vậy, một waw liên kết (waw conjunction) trong thể hoàn thành hoặc chưa hoàn thành cũng có thể diễn đạt sự kế tiếp hoặc sự tiếp nối. Hãy xem: • עָשִׂיתִי לִי גַּנּוֹת וּפַרְדֵּסִים וְנָטַעְתִּי בָהֶם עֵץ כָּל־פֶּרִי, “Ta đã làm cho mình những vườn và những vườn cây, rồi trồng trong đó đủ thứ cây trái” (Eccl 2:5) • וְיִשְׁתַּחֲוּוּ לְכָל־צְבָא הַשָּׁמַיִם וַיַּעֲבֹד אֹתָם וּבָנָה מִזְבְּחוֹת בְּבֵית יְהוָה, “Người thờ lạy cả cơ binh trên trời, rồi hầu việc chúng, và xây bàn thờ cho chúng trong đền của Đức Giê-hô-va” (2 Chr 33:3–4) • כִּי מִי עָמַד בְּסוֹד יְהוָה וְיֵרֶא וְיִשְׁמַע אֶת־דְּבָרוֹ, “Nhưng ai đã đứng trong hội nghị của Đức Giê-hô-va, để thấy và nghe lời Ngài” (Jer 23:18) • הַאֵין פֹּה נָבִיא לַיהוָה עוֹד וְנִדְרְשָׁה מֵאוֹתוֹ, “Há chẳng có một đấng tiên tri của Đức Giê-hô-va tại đây nữa, để chúng ta cầu vấn người sao?” (1 Kgs 22:7).

Ngoài ra, liên từ đơn giản waw trên một hình thức động từ biến thể diễn đạt tất cả các chức năng thông thường của liên từ waw (xem 4.3.3), đặc biệt là: song hành động từ (verbal hendiadys) (4.3.3, g), phối hợp (coordination) (4.3.3, b), hoặc tiếp tục (continuation).

3.5.3 Sequence of Volitives (Waw trong chuỗi động từ ý chí)
#

Như đã ghi nhận, sự chia động từ wəqatal có thể diễn đạt ý chí (xem Mục 3.5.2, c). Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh cũng có thể dùng liên từ đơn giản waw với các thể chưa hoàn thành (imperfects) và động từ ý chí (volitives), và đôi khi cả hoàn thành (perfects), để diễn đạt những mệnh lệnh nối tiếp, vốn có thể ngụ ý sự kế tiếp hoặc mục đích.

(a) Succession (Kế tiếp) – chỉ một hành động xảy ra sau động từ chính theo trình tự thời gian: • אַל־נָא יִחַר לַאדֹנָי וַאֲדַבֵּרָה, “Xin chúa tôi chớ giận, rồi tôi sẽ nói” (Gen 18:30) • שְׁאַל אֶת־נְעָרֶיךָ וְיַגִּידוּ לָךְ, “Hãy hỏi các kẻ trẻ của ngươi, rồi chúng sẽ thuật lại cho ngươi” (1 Sam 25:8) • וְנִזְעַק אֵלֶיךָ מִצָּרָתֵנוּ וְתִשְׁמַע וְתוֹשִׁיעַ, “Chúng tôi sẽ kêu cầu ngươi trong cơn hoạn nạn, rồi ngươi sẽ nghe và cứu giúp” (2 Chr 20:9) • לֵךְ וּבָאתָ־לְּךָ אֶל־אֶרֶץ יְהוּדָה, “Hãy đi, rồi vào đất Giu-đa” (1 Sam 22:5).

(b) Purpose (Mục đích) – diễn đạt mục đích hoặc động cơ phía sau động từ chính: • וְהָבִיאָה לִּי וְאֹכֵלָה, “Hãy đem cho ta, để ta ăn” (Gen 27:4) • אָסֻרָה־נָּא וְאֶרְאֶה אֶת־הַמַּרְאֶה הַגָּדֹל הַזֶּה, “Để ta xây qua mà xem sự hiện thấy lớn này” (Exod 3:3) • וְהַרְגּוּם וְהִשְׁבַּתְנוּ אֶת־הַמְּלָאכָה, “Hãy giết chúng, để ngăn công việc lại” (Neh 4:5 [Eng 4:11]) • וַאֲשַׁלְּחָה אֶת־הָעָם וְיִזְבְּחוּ לַיהוָה, “Ta sẽ cho dân đi, để họ dâng tế lễ cho Đức Giê-hô-va” (Exod 8:4).

3.5.4 Narrative Interruptions (Waw trong những chỗ gián đoạn trong văn tường thuật)
#

Liên từ đơn giản waw có thể được dùng trong các văn bản tường thuật để giới thiệu một mệnh đề sau các hình thức chia động từ wayyiqtolwəqatal, trình bày một ý tưởng mang tính gián đoạn hoặc không liên tục theo một cách nào đó. Sự gián đoạn này có thể xảy ra sau bất kỳ hình thức nào trong hai loại chia động từ ấy, nhưng thường thì liên từ waw không được gắn tiền tố vào một hình thức động từ khác, mà vào một danh từ liên quan (tức là chủ từ hoặc túc từ của mệnh đề mới; so sánh Mục 5.1.2, b.2). Ý tưởng gián đoạn hoặc không kế tiếp được trình bày bởi liên từ đơn giản waw có thể diễn đạt nhiều sắc thái khác nhau:

(a) Distinct Subject (Chủ từ khác biệt) – liên từ đơn giản waw chỉ đến một hành động dường như kế tiếp nhưng được thực hiện bởi một chủ từ khác, nhấn mạnh một tác nhân khác biệt với tác nhân của động từ chính, và thực chất trình bày sự đối lập về chủ từ: • וַיֵּט מֹשֶׁה אֶת־מַטֵּהוּ עַל־הַשָּׁמַיִם וַיהוָה נָתַן קֹלֹת וּבָרָד, “Môi-se giơ cây gậy lên trời, và Đức Giê-hô-va khiến có sấm sét cùng mưa đá” (Exod 9:23) • וַיִּשְׁלַח אֶת־הַנְּעָרִים וַיֵּלֵכוּ וְהוּא־בָא וַיַּעֲמֹד אֶל־אֲדֹנָיו, “Người sai các kẻ trẻ đi, và chúng đi; nhưng chính người đến và đứng trước mặt chủ mình” (2 Kgs 5:24–25).

(b) Simultaneous Action (Hành động đồng thời) – liên từ đơn giản waw diễn đạt một hành động không kế tiếp, nhưng xảy ra đồng thời với động từ chính: • וַיִּקְרָא אֱלֹהִים לָאוֹר יוֹם וְלַחֹשֶׁךְ קָרָא לָיְלָה, “Đức Chúa Trời gọi sự sáng là ngày, và sự tối là đêm” (Gen 1:5) • וַיֵּלֶךְ שְׁמוּאֵל הָרָמָתָה וְשָׁאוּל עָלָה אֶל־בֵּיתוֹ גִּבְעַת שָׁאוּל, “Samuel đi đến Ra-ma, và Sau-lơ lên nhà mình tại Ghíp-bê-a của Sau-lơ” (1 Sam 15:34) • וְהָרְגוּ אֹתִי וְאֹתָךְ יְחַיּוּ, “Chúng sẽ giết ta, nhưng để ngươi sống” (Gen 12:12).

(c) Anterior Action (Hành động trước đó) – Liên từ đơn giản waw báo hiệu một hành động hoặc tình huống nằm ngoài trật tự thời gian trong dòng tường thuật, và tương đương với thì quá khứ hoàn thành (pluperfect) hoặc hiện tại hoàn thành (present perfect) trong các tường thuật về quá khứ. Đôi khi, những lời chú thích chen vào trong một tường thuật sẽ được trình bày theo cách này: • וַיָּבֹא לָבָן בְּאֹהֶל יַעֲקֹב וּבְאֹהֶל לֵאָה וּבְאֹהֶל שְׁתֵּי הָאֲמָהֹת וְלֹא מָצָא וַיֵּצֵא מֵאֹהֶל לֵאָה וַיָּבֹא בְּאֹהֶל רָחֵל וְרָחֵל לָקְחָה אֶת־הַתְּרָפִים, “Laban vào trại của Gia-cốp, rồi vào trại của Lê-a, rồi vào trại của hai tỳ nữ, nhưng không tìm được [các hình tượng gia đình]. Người ra khỏi trại của Lê-a, rồi vào trại của Ra-chên; nhưng Ra-chên đã lấy các hình tượng ấy…” (Gen 31:33–34). • וּשְׁמוּאֵל מֵת וַיִּסְפְּדוּ־לוֹ כָּל־יִשְׂרָאֵל וַיִּקְבְּרֻהוּ בָרָמָה וּבְעִירוֹ וְשָׁאוּל הֵסִיר הָאֹבוֹת וְאֶת־הַיִּדְּעֹנִים מֵהָאָרֶץ, “Samuel đã chết, cả Israel đều khóc thương người, và chôn tại Ra-ma, tức thành của người. Còn Sau-lơ đã trừ bỏ những kẻ đồng bóng và tà thuật khỏi đất” (1 Sam 28:3). • וַיִּתְחַפֵּשׂ מֶלֶךְ יִשְׂרָאֵל וַיָּבוֹא בַּמִּלְחָמָה וּמֶלֶךְ אֲרָם צִוָּה אֶת־שָׂרֵי הָרֶכֶב אֲשֶׁר־לוֹ שְׁלֹשִׁים וּשְׁנַיִם, “Vua Israel cải trang mình và vào trong chiến trận. Còn vua Sy-ri đã truyền cho ba mươi hai quan tướng của các xe mình” (1 Kgs 22:30–31).

CÚ PHÁP HEBREW CĂN BẢN