Cho đến nay trong sách này chúng ta đã khảo sát cú pháp của từng từ và cụm từ. Khi nói “cụm từ” chúng ta muốn chỉ đến chức năng của từng từ riêng lẻ và cách chúng liên hệ với nhau trong những đơn vị lớn hơn để hình thành cụm danh từ, cụm động từ, cụm trạng từ, và cụm giới từ. Trong hầu hết các trường hợp, một cụm từ là một chuỗi từ có khả năng đảm nhiệm chức năng cú pháp của một từ duy nhất. Trong phần cuối này, chúng ta sẽ vượt ra ngoài phạm vi cụm từ để đến với mệnh đề và câu.
Ngay cả định nghĩa về mệnh đề và câu cũng có thể gây khó khăn, vì vậy chúng ta bắt đầu bằng cách làm rõ thêm một vài thuật ngữ. Nói một cách đơn giản, một mệnh đề là một nhóm từ bao gồm một chủ từ và chỉ một vị ngữ. Điều này phân biệt mệnh đề với cụm từ, vốn không tạo ra sự khẳng định ngữ pháp cụ thể. Sau khi đã làm rõ mệnh đề và cụm từ, chúng ta cần bổ sung cho lời tuyên bố mà chúng ta đã mở đầu phần này: “Cho đến nay trong sách này chúng ta đã khảo sát cú pháp của từng từ và cụm từ.” Có những ngoại lệ cho lời tuyên bố ấy trong phần khảo sát các hình thái động từ biến cách (Mục 3.2 và 3.3) và các hình thái động từ với tiền tố waw (Mục 3.5). Bởi vì động từ biến cách trong tiếng Hê-bơ-rơ bao hàm chủ từ (được gắn vào bằng hình vị đại từ), nên chủ từ và vị ngữ của một mệnh đề đều nằm trong động từ, khiến cho việc nghiên cứu cú pháp động từ không thể tách rời khỏi các quan hệ ở cấp độ mệnh đề. Tuy nhiên, cho đến điểm này trong sách, việc khảo sát cú pháp của tiếng Hê-bơ-rơ chủ yếu tập trung vào các quan hệ ở cấp độ cụm từ của danh từ, động từ, và tiểu từ. Tại Chương 5 này, chúng ta sẽ chuyển sang khảo sát các quan hệ trong mệnh đề và giữa các mệnh đề.
Một câu được cấu thành từ một hoặc nhiều mệnh đề và là đơn vị cấu trúc ngữ pháp lớn nhất, ngoại trừ diễn ngôn hoặc toàn văn bản. Như vậy, các câu kết hợp với nhau để tạo thành văn bản, vốn có thể được phân tích thêm theo các quy ước ngôn ngữ học văn bản về sự liên kết và tổ chức tu từ. Do đó, hệ thống phân cấp ngữ pháp đi từ từ đến cụm từ, đến mệnh đề, đến câu, rồi đến diễn ngôn.
Cần có thêm định nghĩa để làm rõ các loại câu có thể có trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh. Một câu chỉ có một mệnh đề có thể được gọi là “câu đơn,” vốn có thể là câu danh từ hoặc câu động từ (xem Mục 5.1). Chẳng hạn, mệnh đề danh từ trong Thi Thiên 121:5 có thể được xem riêng như một câu đơn: יְהוָה שֹׁמְרֶךָ, “Đức Giê-hô-va là Đấng gìn giữ ngươi.” Tương tự, mệnh đề động từ trong Sáng Thế Ký 1:1 có thể được tách riêng như một câu đơn: בָּרָא אֱלֹהִים, “Đức Chúa Trời dựng nên.”
Một câu có hai hoặc nhiều mệnh đề có địa vị cú pháp ngang nhau (hay chức năng ngang nhau) được gọi là “câu ghép.” Hãy xem câu ghép trong I Sa-mu-ên 3:9: וַיֵּלֶךְ שְׁמוּאֵל וַיִּשְׁכַּב בִּמְקוֹמוֹ, “Vậy Sa-mu-ên đi, rồi nằm tại chỗ mình.” Hai mệnh đề này có cùng một chủ từ, và có địa vị cú pháp ngang nhau, mặc dù trong mệnh đề thứ hai, chủ từ được ngụ ý và hành động được bổ nghĩa bởi một cụm giới từ. Văn tự tường thuật Hê-bơ-rơ sử dụng liên từ phổ biến waw một cách linh hoạt để nối kết các động từ trong chuỗi và trình tự trong những cấu trúc câu ghép như vậy (xem Mục 3.5).
Một câu có hai hoặc nhiều mệnh đề với địa vị không ngang nhau được gọi là “câu phức,” trong đó một mệnh đề bị đặt dưới quyền mệnh đề kia, tức là mệnh đề độc lập hay mệnh đề chính.
5.1 MỆNH ĐỀ DANH TỪ VÀ MỆNH ĐỀ ĐỘNG TỪ (Nominal and Verbal Clauses)#
Mệnh đề có thể được phân loại thêm thành mệnh đề độc lập hoặc mệnh đề phụ thuộc. Hai loại được đề cập trong phần này là những mệnh đề có thể được phối hợp hoặc đặt song song với các mệnh đề khác để tạo thành câu ghép. Như vậy, mệnh đề danh từ và mệnh đề động từ được khảo sát ở đây là những loại mệnh đề căn bản nhất. Các loại mệnh đề phụ thuộc khác trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh sẽ được trình bày trong Mục 5.2.
5.1.1 Mệnh đề danh từ#
Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh có khả năng hình thành một mệnh đề mà không cần dùng đến động từ biến cách. Chủ từ của những mệnh đề danh từ như vậy sẽ là một danh từ hoặc đại từ. Vị ngữ của nó có thể là một danh từ khác, một đại từ, một cụm giới từ, một trạng từ, hoặc một nguyên mẫu cấu trúc (infinitive construct)..
Mệnh đề danh từ có thể được phân loại thành hai nhóm tổng quát. Mệnh đề định danh (identification clauses) biểu thị bản chất hoặc danh tính của chủ từ, trong khi mệnh đề miêu tả (description clauses) nói đến phẩm chất hoặc thuộc tính của chủ từ. Loại thứ nhất thường trả lời cho câu hỏi “ai” hoặc “cái gì,” còn loại thứ hai mô tả chủ từ như thế nào. Trật tự từ trong một mệnh đề danh từ thường được phân loại tùy theo loại mệnh đề.
Mệnh đề đồng nhất, nói chung, có trật tự chủ từ – vị ngữ và vị ngữ thường xác định; trong khi mệnh đề miêu tả thường có trật tự vị ngữ – chủ từ và vị ngữ thường bất định. Tuy nhiên, có nhiều ngoại lệ đối với trật tự này, tùy thuộc vào sự hiện diện của các yếu tố cú pháp bổ sung, sự nhấn mạnh có chủ ý trên một yếu tố nào đó, hoặc trong một số trường hợp, chức năng tu từ của mệnh đề danh từ.
Thuật ngữ “nhấn mạnh” đôi khi sẽ được dùng ở đây để giải thích sắc thái của một số cách sắp xếp từ (đặc biệt trong Mục 5.1.2, b), nhưng cần nhớ rằng chúng ta đang khảo sát một ngôn ngữ cổ, mà người nói chắc chắn đã dùng ngữ điệu, sự thay đổi độ lớn nhỏ của giọng, và những khoảng ngừng có chủ ý để đánh dấu sự nhấn mạnh. Vì những dấu hiệu ấy vượt quá khả năng tái hiện của chúng ta ngày nay, nên cần thận trọng trước khi gán cho “nhấn mạnh” như là lời giải thích cho những đặc điểm bất thường trong trật tự hoặc cách sắp xếp từ.
Những biến thể và cách dùng sau đây của mệnh đề danh từ là có thể có trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh.
(a) Danh từ làm vị ngữ (xem vị ngữ danh xưng, Mục 2.1.2) – אַתָּה הָאִישׁ, “Vua là người đó” (2 Sa-mu-ên 12:7), יְהוָה מֶלֶךְ, “Đức Giê-hô-va là Vua” (Thi Thiên 10:16). Vị ngữ có thể là danh từ riêng: אֲנִי יְהוָה, “Ta là Đức Giê-hô-va” (Sáng Thế Ký 15:7), אֲנִי יוֹסֵף, “Ta là Giô-sép” (Sáng Thế Ký 45:3). Lưu ý trật tự vị ngữ – chủ từ trong mệnh đề danh từ miêu tả: נָבִיא הוּא, “Người ấy là đấng tiên tri” (Sáng Thế Ký 20:7).
Đôi khi, một đại từ thừa (pleonastic pronoun) được đặt giữa chủ từ và vị ngữ. Việc đại từ này hoạt động như một động từ nối (“là”) hay như một đại từ quy chiếu ngược (anaphoric pronoun) tạo ra cấu trúc tách biệt (quan điểm đa số hiện nay) là một vấn đề còn tranh luận. Tốt hơn nên giả định rằng đại từ thừa thường xuyên mang tính quy chiếu ngược, nhưng đôi khi hoạt động như một yếu tố nối tùy theo ngữ cảnh. Trong cả hai trường hợp, đại từ này là dư thừa vì không cần thiết về mặt ngữ pháp để hoàn tất sự khẳng định (so sánh יְהוָה הָאֱלֹהִים, “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” [Giô-suê 22:34] với יְהוָה הוּא הָאֱלֹהִים, “Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời” [1 Các Vua 18:39]): עֵשָׂו הוּא אֱדוֹם, “Ê-sau là Ê-đôm” (Sáng Thế Ký 36:8).
(b) Tính từ làm vị ngữ (xem Mục 2.5.2) – הִנֵּה אֲנַחְנוּ יְרֵאִים פֹּה בִּיהוּדָה, “Kìa, chúng tôi sợ tại đây trong Giu-đa” (1 Sa-mu-ên 23:3), טוֹב הַדָּבָר, “Lời ấy là tốt” (1 Các Vua 2:38), הַמַּיִם רָעִים, “Nước ấy là xấu” (2 Các Vua 2:19), הַנַּעֲרָה יָפָה עַד־מְאֹד, “Thiếu nữ ấy rất đẹp” (1 Các Vua 1:4). Tính từ thường xuyên làm vị ngữ trong các mệnh đề miêu tả: הָרָה אָנֹכִי, “Ta có thai” (2 Sa-mu-ên 11:5), טָמֵא הוּא, “Người ấy là ô uế” (Lê-vi Ký 13:11).
(c) Phân từ làm vị ngữ (xem Mục 3.4.3, b) – עֹבְרִים אֲנַחְנוּ מִבֵּית־לֶחֶם יְהוּדָה עַד־יַרְכְּתֵי הַר־אֶפְרַיִם, “Chúng tôi đi từ Bết-lê-hem của Giu-đa cho đến chỗ xa xôi của núi Ép-ra-im” (Các Quan Xét 19:18), יְהוָה שֹׁמְרֶךָ, “Đức Giê-hô-va là Đấng gìn giữ ngươi” (Thi Thiên 121:5), כִּי הִנֵּה־אָנֹכִי מֵקִים רֹעֶה, “Vì nầy, ta sẽ dấy lên một kẻ chăn” (Xa-cha-ri 11:16), מַדּוּעַ פָּנֶיךָ רָעִים וְאַתָּה אֵינְךָ חוֹלֶה, “Cớ sao mặt ngươi buồn rầu, mà ngươi chẳng có bệnh?” (Nê-hê-mi 2:2).
Với phân từ bị động, thường có ý nghĩa cầu chúc trong sự khẳng định: בָּרוּךְ יְהוָה, “Đáng chúc tụng Đức Giê-hô-va” hoặc “Nguyện Đức Giê-hô-va được chúc tụng” (Ru-tơ 4:14), אָרוּר אֹרְרֶיךָ וּמְבָרֲכֶיךָ בָּרוּךְ, “Kẻ nào rủa sả ngươi sẽ bị rủa sả, và kẻ nào chúc phước ngươi sẽ được chúc phước” (Sáng Thế Ký 27:29).
(d) Cụm giới từ làm vị ngữ – הָאֱלֹהִים בַּשָּׁמַיִם, “Đức Chúa Trời ở trên trời” (Truyền Đạo 5:2), קוֹל מִלְחָמָה בָאָרֶץ, “Tiếng chiến trận ở trong đất” (Giê-rê-mi 50:22), לַיהוָה הוּא, “Ấy thuộc về Đức Giê-hô-va” (Lê-vi Ký 27:26), לֹא בָרַעַשׁ יְהוָה, “Đức Giê-hô-va chẳng ở trong cơn động đất” (1 Các Vua 19:11), יְהוָה עִמָּךְ, “Đức Giê-hô-va ở cùng ngươi” (Các Quan Xét 6:12).
5.1.2 Mệnh đề động từ#
Chủ từ của mệnh đề động từ sẽ là một danh từ hoặc đại từ, và vị ngữ của nó sẽ là một động từ biến cách (tức là động từ hoàn thành hoặc chưa hoàn thành), hoặc một động từ phi biến cách đảm nhiệm chức năng ấy.
Bởi vì mệnh đề động từ rất phổ biến trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh, chúng ta sẽ khảo sát các hình thức của nó tại đây.
(a) Chủ từ của mệnh đề động từ
(a.1) Danh từ làm chủ từ – Chủ từ của một mệnh đề động từ thường được biểu hiện bằng một danh từ: וַיְצַו יְהוֹשֻׁעַ אֶת־הַכֹּהֲנִים, “Giô-suê truyền cho các thầy tế lễ” (Giô-suê 4:17), וַיִּכְתֹּב מֹשֶׁה אֵת כָּל־דִּבְרֵי יְהוָה, “Môi-se chép hết thảy các lời của Đức Giê-hô-va” (Xuất Ê-díp-tô Ký 24:4).
(a.2) Đại từ làm chủ từ – Khi một đại từ nhân xưng độc lập đảm nhiệm vai trò chủ từ của động từ, thường có ý nghĩa nổi bật vì chủ từ vốn đã được bao hàm trong hình thái động từ.
Cụ thể, đại từ làm chủ từ có thể mang tính phân cách, biểu hiện một ý nghĩa đối lập hoặc tách biệt mạnh mẽ, khiến chủ từ của động từ được làm nổi bật đối nghịch với một chủ thể khác: וַיָּשֶׂם אֶת־הַשְּׁפָחוֹת וְאֶת־יַלְדֵיהֶן רִאשֹׁנָה וְאֶת־לֵאָה וִאֶת־יְלָדֶיהָ אַחֲרֹנִים וְאֶת־רָחֵל וְאֶת־יוֹסֵף אַחֲרֹנִים וְהוּא עָבַר לִפְנֵיהֶם, “Người để các con đòi và các con của chúng nó đi trước, rồi để Lê-a và các con của nàng kế sau, lại để Ra-chên và Giô-sép đi sau hết; còn chính người đi trước mặt chúng nó” (Sáng Thế Ký 33:2–3).
Đại từ làm chủ từ cũng có thể mang tính nhấn mạnh, làm nổi bật chủ từ: הוּא יְשׁוּפְךָ רֹאשׁ וְאַתָּה תְּשׁוּפֶנּוּ עָקֵב, “Người sẽ giày đạp đầu ngươi, còn ngươi sẽ cắn gót chân người” (Sáng Thế Ký 3:15), הוּא יַעֲבֹר לִפְנֵי הָעָם הַזֶּה, “Người sẽ đi qua trước dân sự nầy” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 3:28). Với đại từ ngôi thứ nhất, sự nhấn mạnh về bản thân có thể mang tính khẳng định, biểu thị ý thức về chính mình hoặc sự quả quyết: אַתָּה גְמַלְתַּנִי הַטּוֹבָה וַאֲנִי גְּמַלְתִּיךָ הָרָעָה, “Ngươi đã báo cho ta điều lành, nhưng ta đã báo cho ngươi điều dữ” (1 Sa-mu-ên 24:18), אָנֹכִי אֵשֵׁב, עַד שׁוּבֶךָ, “Ta sẽ ngồi đây cho đến khi ngươi trở về” (Các Quan Xét 6:18).
(a.3) Chủ từ bất định — Có những tình huống trong đó chủ từ của một động từ không chỉ đến một người cụ thể nào, nhưng hướng đến một ý nghĩa tổng quát “ai đó,” “một người,” hay “bất cứ ai.” Có nhiều cấu trúc có thể diễn đạt chủ từ bất định hoặc mơ hồ này.
Thứ nhất, động từ chủ động ngôi thứ ba số ít giống đực, hoặc với một phân từ danh từ (substantival participle) làm chủ từ, hoặc không có chủ từ được nêu ra, thường diễn đạt một chủ từ bất định: עַל-כֵּן קָרָא שְׁמָהּ בָּבֶל, “Bởi cớ đó, người ta gọi tên nó là Ba-bên” (Sáng Thế Ký 11:9), כִּי-יִפֹּל הַנֹּפֵל מִמֶּנּוּ, “Ví bằng có ai té xuống từ nó (mái nhà ngươi)” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 22:8).
Thứ hai, động từ bị động ngôi thứ ba số ít giống đực cũng diễn đạt một chủ từ bất định: וְכִסָּה אֶת-עֵין הָאָרֶץ וְלֹא יוּכַל לִרְאֹת אֶת-הָאָרֶץ, “Chúng nó sẽ che mặt đất, đến nỗi chẳng ai thấy đất được nữa” (Xuất Ê-díp-tô Ký 10:5), אָז הוּחַל לִקְרֹא בְּשֵׁם יְהוָה, “Bấy giờ người ta khởi đầu kêu cầu danh Đức Giê-hô-va” (Sáng Thế Ký 4:26).
Thứ ba, động từ ngôi thứ ba số nhiều giống đực, cũng vậy, hoặc với một phân từ danh từ làm chủ từ, hoặc không có chủ từ được nêu ra, diễn đạt một chủ từ bất định: מִן-הַבְּאֵר הַהִיא יַשְׁקוּ הָעֲדָרִים, “Người ta cho bầy uống nước từ giếng đó” (Sáng Thế Ký 29:2), שָׁמָּה קָבְרוּ אֶת-אַבְרָהָם וְאֵת שָׂרָה, “Tại đó người ta chôn Áp-ra-ham và Sa-ra” (Sáng Thế Ký 49:31).
Thứ tư, phân từ số ít và số nhiều cũng có thể diễn đạt một chủ từ bất định: לְבֵנִים אֹמְרִים לָנוּ עֲשׂוּ, “Người ta cứ nói với chúng tôi: ‘Hãy làm gạch!’” (Xuất Ê-díp-tô Ký 5:16), אֵלַי קֹרֵא מִשֵּׂעִיר, “Có ai đó kêu ta từ Sê-i-rơ” (Ê-sai 21:11).
Sau cùng, từ אִישׁ khi không có mạo từ cũng có thể làm chủ từ bất định của một động từ biến cách: לִקְטוּ מִמֶּנּוּ אִישׁ לְפִי אָכְלוֹ, “Ai nấy hãy lượm lấy tùy theo sức ăn của mình” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:16), אִם-נָשַׁךְ הַנָּחָשׁ אֶת-אִישׁ וְהִבִּיט אֶל-נְחַשׁ הַנְּחֹשֶׁת וָחָי, “Ví bằng rắn cắn ai, người đó nhìn lên con rắn bằng đồng thì sẽ sống” (Dân Số Ký 21:9).
(b) Sự Xác Lập Vị Ngữ trong Mệnh Đề Động Từ
Như đã ghi nhận, sự xác lập vị ngữ trong mệnh đề động từ được thực hiện bởi các động từ biến cách. Việc khảo sát cú pháp tổng quát của động từ được trình bày trong Chương 3. Ở đây, sự bàn luận sẽ giới hạn trong việc xem xét cấu trúc của mệnh đề động từ.
(b.1) Trật tự từ – Trật tự từ căn bản hay không đánh dấu (unmarked) của một mệnh đề động từ trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh là động từ – chủ từ – túc từ (VSO): וַיֶּאֱהַב יִצְחָק אֶת-עֵשָׂו, “Y-sác yêu Ê-sau” (Sáng Thế Ký 25:28).
Thường thì, sự nhấn mạnh về thời gian sẽ được đánh dấu bằng một tiểu từ thời gian hoặc một cụm trạng ngữ đặt trước động từ, mô tả hoàn cảnh trong đó sự khẳng định của động từ diễn ra: בְּרֵאשִׁית בָּרָא אֱלֹהִים אֵת הַשָּׁמַיִם וְאֵת הָאָרֶץ, “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất” (Sáng Thế Ký 1:1). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng các nghiên cứu về trật tự từ không đồng thuận rằng tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh thực sự là VSO. Có thể lập luận rằng trật tự từ căn bản của mệnh đề động từ trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh là chủ từ – động từ (SV), vốn thường bị đảo ngược bởi nhiều yếu tố ngữ pháp, cú pháp, và ngữ dụng. Tuy nhiên, sự đảo ngược này phổ biến đến mức VS trở thành trật tự thường gặp nhất về mặt thống kê, và vì lý do thực tiễn, học giả nên xem VS(O) là trật tự mặc định.
(b.2) Trật tự VS(O) điển hình có thể bị thay đổi vì nhiều lý do. • Thứ nhất, chủ từ có thể đi trước động từ để nhấn mạnh chủ từ: וְנֹחַ מָצָא חֵן בְּעֵינֵי יְהוָה, “Nhưng Nô-ê được ơn trước mặt Đức Giê-hô-va” (Sáng Thế Ký 6:8); וַיהוָה הֵטִיל רוּחַ-גְּדוֹלָה אֶל-הַיָּם, “Đức Giê-hô-va khiến một trận gió lớn thổi trên biển” (Giô-na 1:4). • Thứ hai, chủ từ thường đi trước động từ khi có sự thay đổi chủ từ trong dòng tường thuật: וַיִּשָּׁבַע לוֹ וַיִּמְכֹּר אֶת־בְּכֹרָתוֹ לְיַעֲקֹב וְיַעֲקֹב נָתַן לְעֵשָׂו לֶחֶם וּנְזִיד עֲדָשִׁים, “Ê-sau bèn thề với Gia-cốp, và bán quyền trưởng nam cho người. Rồi Gia-cốp đưa cho Ê-sau bánh và canh đậu” (Sáng Thế Ký 25:33–34). • Thứ ba, túc từ cũng có thể đi trước động từ để nhấn mạnh đối tượng của động từ: אֶת־קֹלְךָ שָׁמַעְתִּי בַגָּן, “Tiếng ngươi, ta đã nghe trong vườn” (Sáng Thế Ký 3:10); אֶת־הָאֱלֹהִים הִתְהַלֶּךְ־נֹחַ, “Nô-ê đồng đi với Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 6:9); אֶת־דִּמְכֶם לְנִפְשֹׁתֵיכֶם אֶדְרֹשׁ, “Ta sẽ đòi huyết các ngươi, tức là mạng sống các ngươi” (Sáng Thế Ký 9:5). • Thứ tư, cần thận trọng với các văn bản thi ca vì trật tự từ trong đó rất đa dạng: כִּי־הוּא עַל־יַמִּים יְסָדָהּ, “Vì Ngài đã lập nó trên biển” (Thi Thiên 24:2); עָמְדוֹת הָיוּ רַגְלֵינוּ בִּשְׁעָרַיִךְ יְרוּשָׁלִָם, “Chân chúng tôi đứng trong cửa thành Giê-ru-sa-lem” (Thi Thiên 122:2). • Thứ năm, trong câu trả lời cho một câu hỏi, phần thiết yếu của lời đáp thường đi trước: וַיֹּאמְרוּ אֵלָיו אַיֵּה שָׂרָה אִשְׁתֶּךָ וַיֹּאמֶר הִנֵּה בָאֹהֶל, “Người ta hỏi người rằng: Sa-ra vợ ngươi ở đâu? Người đáp rằng: Kìa, nàng ở trong trại” (Sáng Thế Ký 18:9); וַיֹּאמֶר חֲזָאֵל מַדּוּעַ אֲדֹנִי בֹכֶה וַיֹּאמֶר כִּי־יָדַעְתִּי אֵת אֲשֶׁר־תַּעֲשֶׂה, “Ha-xa-ên hỏi: Cớ sao chúa tôi khóc? Người đáp rằng: Vì ta biết điều ngươi sẽ làm” (2 Các Vua 8:12). • Sau cùng, các tiểu từ nghi vấn, mở đầu cho cả câu hỏi trực tiếp lẫn gián tiếp, thường đi trước trong mệnh đề động từ: מִי הִגִּיד לְךָ כִּי עֵירֹם אָתָּה, “Ai đã cho ngươi biết rằng ngươi ở trần truồng?” (Sáng Thế Ký 3:11); עַל־מָה הִכִּיתָ אֶת־אֲתֹנְךָ, “Cớ sao ngươi đã đánh lừa cái lừa của ngươi?” (Dân Số Ký 22:32).
5.2 MỆNH ĐỀ PHỤ THUỘC#
Mệnh đề phụ thuộc là những mệnh đề lệ thuộc và bổ nghĩa cho một mệnh đề độc lập (hay mệnh đề chính) trong sự kết hợp của hai hay nhiều sự khẳng định (xem “câu phức” ở phần đầu của chương này). Những loại sau đây sẽ hữu ích khi xem xét các hình thức khác nhau của sự phụ thuộc.
Bởi vì tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không có sự phân biệt ngữ pháp giữa mệnh đề phụ thuộc và mệnh đề đẳng lập, độc giả cần lưu ý cẩn thận đến sự đa dạng của các tiểu từ được dùng để giới thiệu chúng. Tuy nhiên, cũng cần nhớ rằng phần lớn những mệnh đề này có thể được giới thiệu chỉ bằng cách đặt song song các mệnh đề (không liên từ), hoặc bằng liên từ waw.
Nói chung, có hai loại mệnh đề phụ thuộc: mệnh đề bổ túc (complement) và mệnh đề bổ sung (supplement). Mệnh đề bổ túc là mệnh đề phụ thuộc nhưng gắn bó chặt chẽ với mệnh đề chính, và thật ra không thể bỏ đi mà không làm thay đổi ý nghĩa của mệnh đề chính. Trái lại, mệnh đề bổ sung là mệnh đề phụ thuộc có chức năng trạng ngữ và có thể bỏ đi mà không làm thay đổi ý nghĩa của mệnh đề chính.
Loại đầu tiên trong các phân loại này, tức mệnh đề danh từ, là một mệnh đề bổ túc; còn các loại còn lại là mệnh đề bổ sung.
5.2.1 Mệnh đề danh từ (Substantival Clause)#
Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh có thể dùng mệnh đề danh từ hoặc mệnh đề động từ để thay thế cho một danh từ trong chức năng danh cách, sở hữu cách, hoặc đối cách, liên hệ đến mệnh đề chính mà nó phụ thuộc. Như trong phần bàn luận về danh từ (Chương 2), các tên gọi cách không có nghĩa là tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh đánh dấu các mệnh đề này bằng hình thái danh cách, sở hữu cách, hoặc đối cách; mà nó chỉ có nghĩa rằng các mệnh đề ấy đảm nhiệm chức năng cú pháp trong những vai trò riêng biệt này.
(a) Nominative (Danh cách) – thay thế cho một danh từ trong chức năng danh cách, và thường được đánh dấu bằng các tiểu từ כִּי hoặc אֲשֶׁר, hoặc bằng một động danh từ có tiền tố giới từ לְ. Một mệnh đề như vậy có thể làm chủ từ của mệnh đề chính (xem Mục 2.1.1): וַיֻּגַּד לְמֶלֶךְ מִצְרַיִם כִּי בָרַח הָעָם, “Có người thuật lại cho vua xứ Ê-díp-tô rằng dân sự đã trốn đi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 14:3); hoặc làm vị ngữ danh xưng (Mục 2.1.2): זֶה אֲשֶׁר לֹא־תֹאכֵלוּ, “Nầy là những vật các ngươi không nên ăn” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 14:12); hoặc làm vị ngữ tính từ (Mục 2.5.2 và 5.1.1, b): טוֹב אֲשֶׁר לֹא־תִדּוֹר, “Thà ngươi đừng hứa nguyện thì tốt hơn” (Truyền Đạo 5:4). Những mệnh đề như vậy cũng có thể làm chủ từ trong câu nghi vấn. Mệnh đề danh cách không liên từ (asyndetic) là hiếm.
(b) Genitive (Sở hữu cách) – thay thế cho một danh từ trong chức năng sở hữu cách (xem Mục 2.2), theo sau và bổ nghĩa cho một danh từ hoặc mệnh đề đứng trước nó. Mối quan hệ giữa mệnh đề sở hữu cách và yếu tố nó bổ nghĩa có thể được đánh dấu bằng một danh từ ở trạng thái liên kết theo sau bởi mệnh đề sở hữu cách, hoặc chỉ bằng sự đặt song song các mệnh đề: כָּל־יְמֵי הִתְהַלַּכְנוּ אִתָּם, “Trong hết thảy ngày chúng tôi đi cùng với họ” (1 Sa-mu-ên 25:15). Mệnh đề sở hữu cách cũng có thể theo sau tiểu từ quan hệ אֲשֶׁר, như trong câu: כָּל־יְמֵי אֲשֶׁר הַנֶּגַע בּוֹ יִטְמָא טָמֵא הוּא, “Trong hết thảy ngày nào người ấy có bệnh thì sẽ ô uế; người ấy là ô uế” (Lê-vi Ký 13:46).
(c) Accusative (Đối cách) – thay thế cho một danh từ trong chức năng đối cách, chỉ đối tượng của một động từ (xem Mục 2.3.1): וַיַּרְא יְהוָה כִּי רַבָּה רָעַת הָאָדָם, “Đức Giê-hô-va thấy sự gian ác của loài người rất nhiều” (Sáng Thế Ký 6:5). Một mệnh đề đối cách làm đối tượng của động từ thường được giới thiệu bằng כִּי hoặc אֲשֶׁר: וַיָּשֶׂם דָּנִיֵּאל עַל-לִבּוֹ אֲשֶׁר לֹא-יִתְגָּאָל, “Đa-ni-ên quyết định trong lòng rằng mình sẽ không bị ô uế” (Đa-ni-ên 1:8). Tiểu từ כִּי đặc biệt thường gặp với các động từ tri giác, hoặc trong việc đánh dấu lời tường thuật trực tiếp: וַתֵּרֶא הָאִשָּׁה כִּי טוֹב הָעֵץ, “Người nữ thấy cây đó tốt” (Sáng Thế Ký 3:6); וַיֹּאמֶר כִּי אֶת-שֶׁבַע כְּבָשׂוֹת תִּקַּח, “Người nói rằng: Hãy lấy bảy con chiên cái này” (Sáng Thế Ký 21:30). Những mệnh đề như vậy cũng có thể làm chức năng trạng ngữ để bổ nghĩa cho hành động của động từ (xem Mục 2.3.2): וַיַּרְא שָׁאוּל אֲשֶׁר-הוּא מַשְׂכִּיל מְאֹד, “Sau-lơ thấy người ấy rất khôn khéo” (1 Sa-mu-ên 18:15). Chức năng đối cách là hình thức thường gặp nhất trong các cách dùng mệnh đề danh từ.
5.2.2 Conditional Clause (Mệnh đề điều kiện)#
Câu điều kiện (diễn đạt mối quan hệ “nếu… thì…”) được giới thiệu bằng mệnh đề phụ thuộc điều kiện, trình bày điều kiện, tức là “tiền đề” (protasis). Có nhiều tiểu từ được dùng để mở đầu mệnh đề điều kiện, đôi khi kể cả liên từ đơn giản waw. Thỉnh thoảng, phần hệ quả (apodosis) cũng được giới thiệu bằng liên từ điều kiện đơn giản waw (xem Mục 4.3.3, f): וְרָאִיתִי מָה וְהִגַּדְתִּי לָךְ, “Ví bằng ta thấy điều gì, thì ta sẽ thuật cho ngươi” (1 Sa-mu-ên 19:3); וְיֵשׁ יְהוָה עִמָּנוּ וְלָמָּה מְצָאָתְנוּ כָּל-זֹאת, “Nếu Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta, thì cớ sao mọi sự nầy xảy đến cho chúng ta?” (Các Quan Xét 6:13).
Có hai loại mệnh đề điều kiện chính: thực hữu và phi thực hữu. Loại thứ nhất chỉ đến một hành động hoặc tình huống đã được ứng nghiệm trong quá khứ hoặc có khả năng được ứng nghiệm; còn loại thứ hai chỉ đến một hành động hoặc tình huống trái với thực tế. Điều kiện phi thực hữu hoặc không thể được ứng nghiệm, hoặc trái ngược với điều đã xảy ra trong quá khứ.
(a) Mệnh đề điều kiện thực hữu thường được giới thiệu bằng các tiểu từ אִם, כִּי hoặc הֵן: אִם תִּהְיוּ כָמֹנוּ, “Ví bằng các ngươi trở nên giống như chúng ta…” (Sáng Thế Ký 34:15); כִּי־תִמְצָא אִישׁ לֹא תְבָרְכֶנּוּ, “Ví bằng ngươi gặp một người, chớ chào người ấy” (2 Các Vua 4:29); מַה־נֹּאכַל בַּשָּׁנָה הַשְּׁבִיעַת הֵן לֹא נִזְרָע, “Trong năm thứ bảy, nếu chúng ta không gieo, thì chúng ta sẽ ăn gì?” (Lê-vi Ký 25:20).
Đôi khi, אֲשֶׁר cũng có thể được dùng để chỉ mệnh đề điều kiện thực hữu: אֶת־הַבְּרָכָה אֲשֶׁר תִּשְׁמְעוּ אֶל־מִצְוֹת יְהוָה אֱלֹהֵיכֶם, “Phước lành sẽ đến, nếu các ngươi nghe theo các điều răn của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 11:27).
Một mệnh đề điều kiện thực hữu phủ định có thể được giới thiệu bằng אִם־לֹא như sau: וְהָיָה אִם־לֹא חָפַצְתָּ בָּהּ, “Ví bằng ngươi không vui lòng về nàng…” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 21:14).
(b) Mệnh đề điều kiện phi thực hữu chủ yếu được đánh dấu bằng tiểu từ לוּ, và tiểu từ liên hệ לוּלֵא: לוּלֵא הִתְמַהְמָהְנוּ, “Ví bằng chúng ta chẳng chậm trễ…” (Sáng Thế Ký 43:10); לוּ הַחֲיִיתֶם אוֹתָם לֹא הָרַגְתִּי אֶתְכֶם, “Ví bằng các ngươi đã để chúng sống, thì ta chẳng giết các ngươi” (Các Quan Xét 8:19). Tiểu từ כִּי cũng có thể được dùng theo cách này.
5.2.3 Final Clause (Mệnh đề mục đích)#
Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không phải lúc nào cũng phân biệt rõ ràng giữa mệnh đề mục đích và mệnh đề kết quả; cả hai có thể được gọi chung là “mệnh đề hướng đích” (telic clauses). Một phương tiện chính để giới thiệu mệnh đề mục đích là dùng nguyên mẫu cấu trúc với tiền tố giới từ ל. Ví dụ, וַיַּעֲלֶה אַחְאָב לֶאֱכֹל וְלִשְׁתּוֹת, “A-háp bèn lên để ăn và uống” (1 Các Vua 18:42, mệnh đề mục đích); לָמָה לֹא־מָצָאתִי חֵן בְּעֵינֶיךָ לָשׂוּם אֶת־מַשָּׂא כָּל־הָעָם הַזֶּה עָלָי, “Cớ sao tôi chẳng được ơn trước mặt ngươi, mà ngươi đặt gánh nặng của cả dân sự nầy trên tôi?” (Dân Số Ký 11:11, mệnh đề kết quả).
(a) Final clauses (Mệnh đề mục đích) – diễn đạt mục tiêu hoặc động cơ cho hành động hay tình huống của mệnh đề chính. Chúng thường được giới thiệu bằng tiểu từ אֲשֶׁר. Các tiểu từ לְמַעַן hoặc בַּעֲבוּר cũng hoạt động theo cách này, thường đi cùng với tiểu từ אֲשֶׁר, nhưng không nhất thiết phải như vậy: אַשְׁמִעֵם אֶת־דְּבָרַי אֲשֶׁר יִלְמְדוּן לְיִרְאָה אֹתִי, “Ta sẽ khiến chúng nghe lời Ta, hầu cho chúng học biết kính sợ Ta” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 4:10); לְמַעַן יַאֲמִינוּ כִּי־נִרְאָה אֵלֶיךָ יְהוָה, “Hầu cho chúng tin rằng Đức Giê-hô-va đã hiện ra cùng ngươi” (Xuất Ê-díp-tô Ký 4:5).
Mục đích cũng có thể được diễn đạt bằng một mệnh lệnh với liên từ waw đơn giản làm tiền tố (xem Mục 3.5.3, b): מָה אֶעֱשֶׂה לָכֶם וּבַמָּה אֲכַפֵּר וּבָרְכוּ אֶת־נַחֲלַת יְהוָה, “Ta sẽ làm gì cho các ngươi, và bởi cách nào ta sẽ chuộc tội, để các ngươi chúc phước cho sản nghiệp của Đức Giê-hô-va?” (2 Sa-mu-ên 21:3).
(b) Result clauses (Mệnh đề kết quả) – diễn đạt kết quả cuối cùng hoặc hệ quả của hành động hay tình huống trong mệnh đề chính. Giống như mệnh đề mục đích, mệnh đề kết quả thường được giới thiệu bằng tiểu từ אֲשֶׁר. Tiểu từ לְמַעַן, đi với động từ biến cách hoặc phi biến cách, cũng có chức năng giới thiệu mệnh đề kết quả: וַיִּקְרָא אַבְרָהָם שֵׁם־הַמָּקוֹם הַהוּא יְהוָה יִרְאֶה אֲשֶׁר יֵאָמֵר הַיּוֹם, “Áp-ra-ham đặt tên chỗ đó là Đức Giê-hô-va sẽ sắm sẵn; bởi cớ ấy ngày nay người ta còn nói…” (Sáng Thế Ký 22:14).
Thường thì, nếu mệnh đề chính là một câu hỏi, mệnh đề kết quả sẽ được đánh dấu bằng כִּי như sau: מָה־אֱנוֹשׁ כִּי־תִזְכְּרֶנּוּ, “Người là gì mà Chúa nhớ đến người?” (Thi Thiên 8:5); הַאֱלֹהִים אָנִי לְהָמִית וּלְהַחֲיוֹת כִּי־זֶה שֹׁלֵחַ אֵלַי לֶאֱסֹף אִישׁ מִצָּרַעְתּוֹ, “Ta há là Đức Chúa Trời sao, để giết và làm cho sống lại, mà người này sai đến cùng ta để chữa một người phung khỏi bệnh sao?” (2 Các Vua 5:7).
(c) Negative final/result clauses (Mệnh đề mục đích/kết quả phủ định) – diễn đạt sự phủ định của mệnh đề mục đích hoặc mệnh đề kết quả, và được giới thiệu bằng אֲשֶׁר לֹא: אֲשֶׁר לֹא יִשְׁמְעוּ אִישׁ שְׂפַת רֵעֵהוּ, “Hầu cho loài người không hiểu tiếng của kẻ lân cận mình” (Sáng Thế Ký 11:7, mệnh đề mục đích phủ định); אֲשֶׁר לֹא־יֹאמְרוּ זֹאת אִיזָבֶל, “Hầu cho chẳng ai nói rằng: Ấy là Giê-xê-bên” (2 Các Vua 9:37, mệnh đề kết quả phủ định). Các tiểu từ פֶּן, לְבִלְתִּי, và לְמַעַן לֹא cũng có chức năng đánh dấu mệnh đề mục đích phủ định: בְּלִבִּי צָפַנְתִּי אִמְרָתֶךָ לְמַעַן לֹא אֶחֱטָא-לָךְ, “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, hầu cho tôi không phạm tội cùng Chúa” (Thi Thiên 119:11, mệnh đề mục đích phủ định).
5.2.4 Temporal Clause (Mệnh đề thời gian)#
Mệnh đề phụ thuộc thời gian diễn đạt khung thời gian của một hành động hay tình huống, và cách nó liên hệ đến ý nghĩa của mệnh đề chính. Một phương tiện chính để diễn đạt mệnh đề thời gian là động từ nguyên mẫu với các giới từ בְּ, כְּ, אַחֲרֵי, אַחַר, hoặc מִן; nhưng cũng có những giới từ khác được dùng. Như được minh chứng qua nhiều mệnh đề thời gian dưới đây, động từ nguyên mẫu có thể diễn đạt hành động đồng thời, hành động xảy ra trước, hoặc hành động xảy ra sau (xem Mục 3.4.1, b): בֶּן-שְׁלֹשִׁים שָׁנָה דָּוִד בְּמָלְכוֹ, “Đa-vít được ba mươi tuổi khi người bắt đầu trị vì” (2 Sa-mu-ên 5:4); בָּעֶרֶב כְּבוֹא הַשֶּׁמֶשׁ, “Buổi chiều, khi mặt trời lặn” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 16:6); אַחֲרֵי הַכֹּתוֹ אֵת סִיחֹן, “Sau khi người đánh bại Si-hôn” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 1:4); וַיִּמְלָא שִׁבְעַת יָמִים אַחֲרֵי הַכּוֹת-יְהוָה אֶת-הַיְאֹר, “Bảy ngày trôi qua sau khi Đức Giê-hô-va đánh sông Nin” (Xuất Ê-díp-tô Ký 7:25).
Ngoài động từ nguyên mẫu, còn có những phương tiện khác để diễn đạt mệnh đề thời gian. Lưu ý rằng một vài ví dụ cho thấy thì wayyiqtol (tường thuật quá khứ, xem Mục 3.5.1) đôi khi có thể giới thiệu mệnh đề thời gian, trong khi wayyiqtol cũng có thể giới thiệu mệnh đề chính lệ thuộc vào mệnh đề thời gian (xem Mục 3.5.1, e).
(a) Hành động hoặc tình huống đồng thời – Được giới thiệu bằng כַּאֲשֶׁר hoặc כִּי, một mệnh đề phụ thuộc có thể mô tả hành động hoặc tình huống đồng thời với mệnh đề chính: וַיְהִי כַּאֲשֶׁר כִּלָּה לְהַקְרִיב אֶת-הַמִּנְחָה וַיְשַׁלַּח אֶת-הָעָם, “Khi người [Ê-hút] dâng lễ vật xong, thì người cho dân sự đi” (Các Quan Xét 3:18); וַיְהִי כַּאֲשֶׁר הִקְרִיב לָבוֹא מִצְרָיְמָה, “Khi người [Áp-ra-ham] gần đến Ê-díp-tô” (Sáng Thế Ký 12:11); וַיְהִי אַבְרָם בֶּן-תִּשְׁעִים שָׁנָה וְתֵשַׁע שָׁנִים וַיֵּרָא יְהוָה אֶל-אַבְרָם, “Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người” (Sáng Thế Ký 17:1).
(b) Hành động hoặc tình huống xảy ra sau đó – Được giới thiệu bằng עַד, cũng được dùng trong các dạng kết hợp עַד אֲשֶׁר אִם, עַד אֲשֶׁר, עַד אִם, hoặc עַד כִּי, mệnh đề thời gian có thể diễn đạt hành động xảy ra sau hành động của mệnh đề chính. Tiểu từ טֶרֶם, cũng có khi đi với giới từ בְּ, có thể diễn đạt tình huống xảy ra sau đó. Ý tưởng về hành động tiếp nối cũng có thể được diễn đạt bằng mẫu wayyiqtol, cũng như bằng liên từ לִפְנֵי và trạng từ בָּרִאשֹׁנָה. Cần lưu ý rằng việc dịch các tiểu từ này có thể dao động từ “cho đến,” “trước khi,” đến “sau khi.” Tuy nhiên, điều quan trọng là mệnh đề phụ thuộc chỉ đến tình huống xảy ra sau mệnh đề chính, bất kể cách dịch như thế nào trong tiếng Việt: תָּמִים אַתָּה בִּדְרָכֶיךָ מִיּוֹם הִבָּרַאֲךָ עַד-נִמְצָא עַוְלָתָה בָּךְ, “Ngươi vốn trọn vẹn trong đường lối mình từ ngày được dựng nên, cho đến khi sự gian ác tìm thấy trong ngươi” (Ê-xê-chi-ên 28:15); לֹא-הֶאֱמַנְתִּי לַדְּבָרִים עַד אֲשֶׁר-בָּאתִי וַתִּרְאֶינָה עֵינַי, “Ta chẳng tin lời nói ấy cho đến khi ta đến và mắt ta thấy” (1 Các Vua 10:7); וַיְהִי כַּאֲשֶׁר כִּלּוּ הַגְּמַלִּים לִשְׁתּוֹת וַיִּקַּח הָאִישׁ נֶזֶם זָהָב, “Khi lạc đà uống xong, người ấy lấy một chiếc vòng vàng” (Sáng Thế Ký 24:22); וַיָּלִינוּ שָׁם טֶרֶם יַעֲבֹרוּ, “Chúng nghỉ lại tại đó trước khi qua sông” (Giô-suê 3:1).
Cấu trúc אַחַר הַדְּבָרִים thường được dùng trong tường thuật để chỉ tình huống xảy ra sau đó: אַחַר הַדְּבָרִים הָאֵלֶּה הָיָה דְבַר-יְהוָה אֶל-אַבְרָם, “Sau các sự việc ấy, có lời của Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram” (Sáng Thế Ký 15:1).
(c) Preceding situation (Tình huống xảy ra trước) – diễn đạt một tình huống đã xảy ra trước hành động của mệnh đề chính, và thường được giới thiệu bằng אַחֲרֵי/אַחַר, vốn có thể đi cùng với אֲשֶׁר. Ít thường gặp hơn, tiểu từ מֵאָז cũng được dùng theo cách này. Một lần nữa, cần lưu ý rằng mệnh đề phụ thuộc chỉ đến tình huống xảy ra trước mệnh đề chính: בְּאַרְבַּע עֶשְׂרֵה שָׁנָה אַחַר אֲשֶׁר הֻכְּתָה הָעִיר, “Năm thứ mười bốn sau khi thành bị đánh hạ” (Ê-xê-chi-ên 40:1); אַחַר הַדָּבָר הַזֶּה לֹא-שָׁב יָרָבְעָם מִדַּרְכּוֹ הָרָעָה, “Sau sự việc ấy, Giê-rô-bô-am chẳng từ bỏ đường lối gian ác mình” (1 Các Vua 13:33); וַיְהִי בָרָד וְאֵשׁ מִתלַקַּחַת בְּתוֹךְ הַבָּרָד כָּבֵד מְאֹד אֲשֶׁר לֹא-הָיָה כָמֹהוּ בְּכָל־אֶרֶץ מִצְרַיִם מֵאָז הָיְתָה לְּגוֹי, “Có mưa đá, và lửa chớp sáng luôn trong mưa đá, rất nặng, đến nỗi trong cả xứ Ê-díp-tô, từ khi nó thành một dân tộc, chưa hề có như vậy” (Xuất Ê-díp-tô Ký 9:24).
Thường thì, liên từ waw cộng với chủ từ (danh từ hoặc đại từ) cộng với động từ hoàn thành biểu thị thì hiện tại hoàn thành hoặc quá khứ hoàn thành trong tiếng Anh (chỉ có ngữ cảnh mới quyết định ý nghĩa nào được dùng): וַיָּשָׁב אַהֲרֹן אֶל־מֹשֶׁה אֶל־פֶּתַח אֹהֶל מוֹעֵד וְהַמַּגֵּפָה נֶעֱצָרָה, “A-rôn trở về cùng Môi-se tại cửa hội mạc; khi ấy tai vạ đã được ngăn lại” (Dân Số Ký 17:15 [Anh văn 16:50]); הַבֹּקֶר הָיָה וְרוּחַ הַקָּדִים נָשָׂא אֶת־הָאַרְבֶּה, “Buổi mai vừa đến, gió đông đã đem châu chấu đến” (Xuất Ê-díp-tô Ký 10:13).
5.2.5 Causal Clause (Mệnh đề nguyên nhân – kết quả)#
Mệnh đề phụ thuộc nguyên nhân – kết quả diễn đạt lý do hoặc nền tảng cho hành động hay tình huống của mệnh đề chính. Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh có nhiều loại mệnh đề nguyên nhân – kết quả, được giới thiệu bằng liên từ đơn giản waw, một mệnh đề nguyên mẫu (thường là động danh từ với giới từ לְ), một mệnh đề động từ (wəqatal, xem Mục 3.5.2), hoặc các tiểu từ כִּי và אֲשֶׁר. Tuy nhiên, Joüon và Muraoka ghi nhận rằng tiểu từ אֲשֶׁר thường biểu thị quan hệ nguyên nhân – kết quả yếu (weak causation).
Cả כִּי và אֲשֶׁר cũng có thể được dùng cùng với יַעַן, vốn cũng có thể được dùng riêng. Giới từ עַל cũng có thể được dùng để chỉ mệnh đề nguyên nhân - kết quả, hoặc riêng lẻ, hoặc đi cùng với כִּי hay אֲשֶׁר. Giới từ này cũng được dùng trong công thức עַל־דְּבַר אֲשֶׁר. Ngoài ra còn có nhiều sự kết hợp ít gặp hơn giữa các tiểu từ và giới từ để giới thiệu mệnh đề nguyên nhân – kết quả.
Ví dụ: כִּי עָשִׂיתָ זֹּאת אָרוּר אָתָּה, “Bởi ngươi đã làm điều đó, nên ngươi bị rủa sả” (Sáng Thế Ký 3:14); יַעַן אֲמָרְכֶם אֶת־הַדָּבָר הַזֶּה, “Bởi các ngươi đã nói lời này” (Giê-rê-mi 23:38); וְגֵר לֹא תִלְחָץ וְאַתֶּם יְדַעְתֶּם אֶת־נֶפֶשׁ הַגֵּר, “Ngươi chớ hà hiếp kẻ ngoại kiều, vì các ngươi biết lòng của kẻ ngoại kiều” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:9).
(a) Joüon và Muraoka ghi nhận rằng tiểu từ עֵקֶב, đôi khi đi cùng với אֲשֶׁר, có sắc thái nguyên nhân – kết quả đặc biệt, diễn đạt “vì cớ” một hành động nào đó, hoặc theo nghĩa tiêu cực, “vì hình phạt” của một sự việc: וְהִתְבָּרְכוּ בְזַרְעֲךָ כֹּל גּוֹיֵי הָאָרֶץ עֵקֶב אֲשֶׁר שָׁמַעְתָּ בְּקֹלִי, “Bởi dòng dõi ngươi, muôn dân trên đất sẽ được phước, vì ngươi đã vâng theo tiếng Ta” (Sáng Thế Ký 22:18); כֵּן תֹּאבֵדוּן עֵקֶב לֹא תִשְׁמְעוּן בְּקוֹל יְהוָה אֱלֹהֵיכֶם, “Vậy các ngươi sẽ bị diệt mất, vì các ngươi không nghe tiếng của Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:20).
(b) Giới từ מִן cũng có thể có chức năng chỉ nguyên nhân: נַעֲלֵינוּ בָלוּ מֵרֹב הַדֶּרֶךְ מְאֹד, “Giày chúng tôi đã mòn vì đường đi quá dài” (Giô-suê 9:13); וְלֹא־יָכֹל עוֹד לְהָשִׁיב אֶת־אַבְנֵר דָּבָר מִיִּרְאָתוֹ אֹתוֹ, “Người [Ích-ba-anh] không thể đáp lại Áp-ne một lời nào nữa, vì người sợ người ấy” (2 Sa-mu-ên 3:11).
5.2.6 Comparative Clause (Mệnh đề so sánh)#
(a) Một mệnh đề phụ thuộc thường có chức năng tạo sự so sánh với hành động hoặc tình huống của mệnh đề chính. Tình huống làm chuẩn mực cho sự so sánh thường được nêu trong mệnh đề chính (apodosis). Tình huống được đem ra so sánh thường được biểu thị bằng mệnh đề phụ thuộc (protasis). Cấu trúc phổ biến nhất cho mệnh đề so sánh là כַּאֲשֶׁר cộng với protasis, theo sau bởi כֵּן cộng với apodosis: וַיְהִי כַּאֲשֶׁר פָּתַר־לָנוּ כֵּן הָיָה, “Y như người đã giải nghĩa cho chúng ta, thì điều đó xảy ra như vậy” (Sáng Thế Ký 41:13). Trật tự đảo ngược, trong đó apodosis đi trước, cũng có: כֵּן תַּעֲשֶׂה כַּאֲשֶׁר דִּבַּרְתָּ, “Hãy làm như lời ngươi đã nói” (Sáng Thế Ký 18:5).
(b) Mối quan hệ so sánh giữa các mệnh đề cũng được biểu thị bằng các tiểu từ כְּ và כֵּן, trong đó tiểu từ trước (כְּ) chi phối mệnh đề chính, thường là mệnh đề động từ hoặc mệnh đề động danh từ, và tiểu từ sau (כֵּן) chi phối mệnh đề phụ thuộc: כְּעֵינֵי עֲבָדִים אֶל-יַד אֲדוֹנֵיהֶם כְּעֵינֵי שִׁפְחָה אֶל-יַד גְּבִרְתָּהּ כֵּן עֵינֵינוּ אֶל-יְהוָה, “Như mắt của các đầy tớ ngó tay chủ mình; như mắt của con đòi ngó tay bà chủ mình; thì mắt chúng tôi cũng ngó Đức Giê-hô-va” (Thi Thiên 123:2). Mối quan hệ so sánh cũng có thể được giới thiệu bằng giới từ כְּ (xem Mục 4.1.9, b): כִּי כָמוֹךָ כְּפַרְעֹה, “Vì ngươi cũng như Pha-ra-ôn vậy” (Sáng Thế Ký 44:18); כָּכֶם כַּגֵּר יִהְיֶה לִפְנֵי יְהוָה, “Như các ngươi thể nào, thì kẻ ngoại kiều cũng thể ấy trước mặt Đức Giê-hô-va” (Dân Số Ký 15:15).
5.2.7 Exceptive Clause (Mệnh đề ngoại trừ)#
Mệnh đề phụ thuộc này có chức năng trình bày một sự ngoại trừ đối với ý tưởng, hành động, hoặc tình huống được nêu trong mệnh đề chính. Tiểu từ אִם, hoặc dùng riêng, hoặc đi với các tiểu từ בִּלְתִּי (cũng có thể dùng riêng), כִּי và אֶפֶס כִּי, cũng như אַךְ và רַק, đều có thể giới thiệu các mệnh đề này (xem Mục 4.2.2 về אַךְ, 4.2.9 về כִּי, 4.2.15 về רַק): לֹא אֲשַׁלֵּחֲךָ כִּי אִם-בֵּרַכְתָּנִי, “Ta sẽ không để ngươi đi, trừ khi ngươi chúc phước cho ta” (Sáng Thế Ký 32:27); גַּם-יְהוָה הֶעֱבִיר חַטָּאתְךָ לֹא תָמוּת אֶפֶס כִּי-נִאֵץ נִאַצְתָּ אֶת-אֹיְבֵי יְהוָה בַּדָּבָר הַזֶּה, “Đức Giê-hô-va đã cất tội ngươi đi; ngươi sẽ không chết. Nhưng bởi việc này ngươi đã gây dịp cho kẻ thù nghịch Đức Giê-hô-va phạm thượng…” (2 Sa-mu-ên 12:13–14).
5.2.8 Restrictive Clause (Mệnh đề hạn định)#
Mệnh đề này đặt một sự giới hạn trên ý tưởng hoặc hành động của mệnh đề chính. Những mệnh đề này thường được giới thiệu bằng các tiểu từ כִּי אֶפֶס, אַךְ, hoặc רַק (xem Mục 4.2.2, a về אַךְ, 4.2.15, a về רַק): וְהִשְׁמַדְתִּי אֹתָהּ מֵעַל פְּנֵי הָאֲדָמָה אֶפֶס כִּי לֹא הַשְׁמֵיד אַשְׁמִיד אֶת־בֵּית יַעֲקֹב, “Ta sẽ diệt nó khỏi mặt đất, song ta sẽ không diệt hết nhà Gia-cốp” (A-mốt 9:8); לַחְמֵנוּ נֹאכֵל וְשִׂמְלָתֵנוּ נִלְבָּשׁ רַק יִקָּרֵא שִׁמְךָ עָלֵינוּ, “Chúng tôi sẽ ăn bánh của mình, mặc áo của mình; chỉ xin cho chúng tôi được gọi bởi danh ngươi” (Ê-sai 4:1); הָלֹךְ אֵלֵךְ עִמָּךְ אֶפֶס כִּי לֹא תִהְיֶה תִּפְאַרְתְּךָ, “Ta sẽ đi với ngươi, song sự vinh hiển sẽ không thuộc về ngươi” (Các Quan Xét 4:9).
5.2.9 Intensive Clause (Mệnh đề tăng cường)#
Mệnh đề phụ thuộc này mở rộng và thêm vào ý tưởng của mệnh đề chính. Dấu hiệu chính của những mệnh đề này là אַף và גַּם (xem Mục 4.2.4, b về אַף, 4.2.5, b về גַּם): וַתִּקַּח מִפְּרְיוֹ וַתֹּאכַל וַתִּתֵּן גַּם־לְאִישָׁהּ עִמָּהּ וַיֹּאכַל, “Người nữ hái trái cây, ăn, rồi cũng đưa cho chồng mình ở cùng, và người ăn” (Sáng Thế Ký 3:6); אַף־אֲנִי בַּחֲלוֹמִי, “Ta cũng thấy trong chiêm bao của ta” (Sáng Thế Ký 40:16).
5.2.10 Adversative Clause (Mệnh đề đối nghịch)#
Mệnh đề phụ thuộc này trình bày một sự đối nghịch với ý tưởng của mệnh đề chính. Mối quan hệ giữa các mệnh đề này có thể được đánh dấu bằng כִּי לֹא (cũng được dùng với אִם), hoặc các tiểu từ אֲבָל và אוּלָם: וְעַתָּה לֹא־אַתֶּם שְׁלַחְתֶּם אֹתִי הֵנָּה כִּי הָאֱלֹהִים, “Vậy chẳng phải các ngươi đã sai ta đến đây đâu, bèn là Đức Chúa Trời” (Sáng Thế Ký 45:8); גַּם־הוּא יִהְיֶה־לְּעָם וְגַם־הוּא יִגְדָּל וְאוּלָם אָחִיו הַקָּטֹן יִגְדַּל מִמֶּנּוּ, “Người cũng sẽ thành một dân, và cũng sẽ lớn; nhưng em người sẽ lớn hơn người” (Sáng Thế Ký 48:19); וַיֹּאמֶר לֹא כִּי אֲנִי שַׂר־צְבָא־יְהוָה עַתָּה בָאתִי, “Người nói: Chẳng phải vậy đâu; nhưng ta đến bây giờ làm tướng đạo binh của Đức Giê-hô-va” (Giô-suê 5:14).
Liên từ waw cũng có thể thực hiện chức năng này: וְלֹא־יִקָּרֵא עוֹד אֶת־שִׁמְךָ אַבְרָם וְהָיָה שִׁמְךָ אַבְרָהָם, “Tên ngươi sẽ chẳng còn gọi là Áp-ram nữa, nhưng sẽ là Áp-ra-ham” (Sáng Thế Ký 17:5). אַל־תָּלֶן הַלַּיְלָה בְּעַרְבוֹת הַמִּדְבָּר וְגַם עָבוֹר תַּעֲבוֹר, “Ngươi chớ ngủ đêm tại chỗ lội qua đồng vắng, song phải đi qua” (2 Sa-mu-ên 17:16).
5.2.11 Circumstantial Clause (Mệnh đề hoàn cảnh)#
Mệnh đề phụ thuộc hoàn cảnh diễn đạt tình huống hay bối cảnh trong đó hành động hoặc tình huống của mệnh đề chính xảy ra. Mệnh đề hoàn cảnh “có thể được hiểu theo nghĩa rộng hoặc nghĩa hẹp.” Nghĩa rộng xuất phát từ việc một số mệnh đề hoàn cảnh là mệnh đề thời gian hoặc mệnh đề nguyên nhân – kết quả (tương tự như các Mục 5.2.4 và 5.2.5). Việc một mệnh đề có phải là mệnh đề hoàn cảnh theo nghĩa rộng hay không đôi khi là vấn đề giải thích, và tùy thuộc vào sự nhấn mạnh và chủ đề của ngữ cảnh trực tiếp. Tuy nhiên, nghĩa hẹp thì rõ ràng hơn cả về hình thức lẫn chức năng, và sẽ được minh họa trong các ví dụ sau.
Thông thường, liên từ đơn giản waw có chức năng giới thiệu một mệnh đề hoàn cảnh (xem Mục 4.3.3, e, trong đó waw thường đi theo sau một danh từ và một sự khẳng định): מִגְדָּל וְרֹאשׁוֹ בַשָּׁמַיִם, “Một cái tháp, đầu nó chạm đến trời” (Sáng Thế Ký 11:4); כֹּה הִרְאַנִי וְהִנֵּה אֲדֹנָי נִצָּב עַל־חוֹמַת אֲנָךְ וּבְיָדוֹ אֲנָךְ, “Ngài cho ta thấy: Kìa, Chúa đứng bên vách tường thẳng đứng, tay cầm dây dọi” (A-mốt 7:7).
Khá thường xuyên, mệnh đề hoàn cảnh được đặt song song với mệnh đề chính mà không có tiểu từ nối: וַיֵּט אָהֳלֹה בֵּית־אֵל מִיָּם, “Người dựng trại mình, Bê-tên ở phía tây” (Sáng Thế Ký 12:8); וַיִּתְקָעֵם בְּלֵב אַבְשָׁלוֹם עוֹדֶנּוּ חַי, “Người đâm ba mũi giáo vào lòng Áp-sa-lôm khi người còn sống” (2 Sa-mu-ên 18:14).
Như đã minh họa, vị ngữ của một mệnh đề hoàn cảnh đồng thời với tình huống của mệnh đề chính có thể được diễn đạt bằng danh từ, tính từ, hoặc cụm giới từ. Phân từ cũng đảm nhiệm chức năng này: וַיָּבֹא אֱלִישָׁע דַּמֶּשֶׂק וּבֶן־הֲדַד מֶלֶךְ־אֲרָם חֹלֶה, “Ê-li-sê đến Đa-mách, khi Bên-Ha-đát, vua xứ A-ram, đang đau ốm” (2 Các Vua 8:7); וַיֵּרָא אֵלָיו יְהוָה בְּאֵלֹנֵי מַמְרֵא וְהוּא יֹשֵׁב פֶּתַח־הָאֹהֶל כְּחֹם הַיּוֹם, “Đức Giê-hô-va hiện ra cùng người tại cây sồi Mam-rê, khi người đang ngồi nơi cửa trại trong lúc trời nóng” (Sáng Thế Ký 18:1).
Các hình thức động từ biến cách được dùng để diễn đạt hoàn cảnh trong quá khứ hoặc tương lai. Một động từ hoàn thành làm vị ngữ của mệnh đề hoàn cảnh diễn đạt hành động xảy ra trước (xem Mục 3.5.6, d): אַל־תְּאַחֲרוּ אֹתִי וַיהוָה הִצְלִיחַ דַּרְכִּי, “Chớ chậm trễ tôi, vì Đức Giê-hô-va đã khiến đường tôi được thạnh vượng” (Sáng Thế Ký 24:56); וַיְהִי בְּבֹא דָוִד וַאֲנָשָׁיו צִקְלַג בַּיּוֹם הַשְּׁלִישִׁי וַעֲמָלֵקִי פָשְׁטוּ אֶל־נֶגֶב וְאֶל־צִקְלַג, “Khi Đa-vít và những người đi với người đến Xích-lác ngày thứ ba, thì dân A-ma-léc đã cướp phá miền Nam và Xích-lác” (1 Sa-mu-ên 30:1).
Một động từ chưa hoàn thành làm vị ngữ diễn đạt hoàn cảnh tương lai: הַמְכַסֶּה אֲנִי מֵאַבְרָהָם אֲשֶׁר אֲנִי עֹשֶׂה וְאַבְרָהָם הָיוֹ יִהְיֶה לְגוֹי גָּדוֹל וְעָצוּם, “Ta há giấu Áp-ra-ham điều ta sẽ làm sao, vì Áp-ra-ham chắc sẽ trở nên một dân lớn và mạnh” (Sáng Thế Ký 18:17–18); אֶעְבְּרָה בְאַרְצֶךָ בַּדֶּרֶךְ בַּדֶּרֶךְ אֵלֵךְ לֹא אָסוּר יָמִין וּשְׂמֹאול, “Xin cho tôi đi ngang qua đất ngươi; tôi sẽ đi theo đường cái, không xây qua bên hữu hay bên tả” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 2:27).
5.2.12 Concessive Clause (Mệnh đề nhượng bộ)#
Mệnh đề phụ thuộc nhượng bộ diễn đạt “sự đối nghịch nguyên nhân – kết quả,” tức là nó trình bày một hành động hoặc tình huống vốn dĩ có vẻ sẽ dẫn đến, hoặc được mong đợi sẽ gây ra, hành động hoặc tình huống của mệnh đề chính, nhưng thực tế lại không. Mệnh đề này có thể là asyndetic, tức không có dấu hiệu nào, chỉ bằng cách đặt song song, hoặc có thể dùng liên từ đơn giản waw: הִנֵּה־נָא הוֹאַלְתִּי לְדַבֵּר אֶל־אֲדֹנָי וְאָנֹכִי עָפָר וָאֵפֶר, “Nầy, tôi đã dạn dĩ nói cùng Chúa, dầu tôi chỉ là tro bụi” (Sáng Thế Ký 18:27).
Các tiểu từ כִּי, עַל, hoặc גַּם כִּי cũng diễn đạt ý nghĩa “mặc dầu,” trong khi các tiểu từ אִם và כִּי diễn đạt ý nghĩa “dầu cho”: גַּם כִּי־תַרְבּוּ תְפִלָּה אֵינֶנִּי שֹׁמֵעַ, “Dầu các ngươi có nhiều lời cầu nguyện, ta cũng chẳng nghe” (Ê-sai 1:15); לֹא־נָחָם אֱלֹהִים דֶּרֶךְ אֶרֶץ פְּלִשְׁתִּים כִּי קָרוֹב הוּא, “Đức Chúa Trời không dẫn họ theo đường xứ Phi-li-tin, dầu đường ấy gần” (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:17); כִּי אִם־תְּכַבְּסִי בַנֶּתֶר וְתַרְבִּי־לָךְ בֹּרִית נִכְתָּם עֲוֹנֵךְ לְפָנַי, “Dầu ngươi có giặt bằng thuốc tro và dùng nhiều xà phòng, thì sự gian ác ngươi vẫn còn ghi trước mặt ta” (Giê-rê-mi 2:22).
5.2.13 Relative Clause (Mệnh đề quan hệ)#
Mệnh đề này đứng phụ thuộc vào mệnh đề chính và gán một phẩm chất, trạng thái, hoặc ý tưởng động từ cho mệnh đề chính. Nó mô tả một tiền đề (hay đối tượng tham chiếu), vốn thường xuất hiện ngay trước mệnh đề. Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh có cả mệnh đề quan hệ hạn định và không hạn định.
Loại thứ nhất (còn gọi là mệnh đề quan hệ hạn định) có chức năng phân biệt giữa nhiều thành viên trong một nhóm hoặc một loại: הַמַּיִם אֲשֶׁר מֵעַל לָרָקִיעַ, “Nước ở trên khoảng không” (Sáng Thế Ký 1:7); וַיִּבֶן יְהוָה אֱלֹהִים אֶת־הַצֵּלָע אֲשֶׁר־לָקַח מִן־הָאָדָם לְאִשָּׁה, “Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy xương sườn đã rút khỏi người mà làm nên một người nữ” (Sáng Thế Ký 2:22). Mệnh đề quan hệ hạn định như vậy xác định đối tượng tham chiếu bằng cách phân biệt nó khỏi những khả năng hoặc sự mơ hồ khác có thể liên hệ đến nó.
Loại ít gặp hơn là mệnh đề quan hệ không hạn định (còn gọi là mệnh đề quan hệ không giới hạn), chỉ đơn giản ghi nhận một thuộc tính tổng quát của đối tượng tham chiếu mà không đặt nó đối nghịch với những thành viên khác trong “loại” của nó: אָנֹכִי יְהוָה אֱלֹהֶיךָ אֲשֶׁר הוֹצֵאתִיךָ מֵאֶרֶץ מִצְרַיִם, “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã đem ngươi ra khỏi đất Ê-díp-tô” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2; Phục Truyền Luật Lệ Ký 5:6); וְעַתָּה אָרוּר אָתָּה מִן־הָאֲדָמָה אֲשֶׁר פָּצְתָה אֶת־פִּיהָ, “Vậy bây giờ ngươi bị rủa sả khỏi đất, là đất đã mở miệng nó” (Sáng Thế Ký 4:11). Như thế, mệnh đề quan hệ không hạn định cung cấp thêm thông tin về đối tượng tham chiếu mà không phân biệt nó với một nhóm đối tượng liên hệ khác.
Tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh không có phương tiện cú pháp hay từ vựng đặc biệt để đánh dấu loại mệnh đề quan hệ nào được dùng – hạn định hay không hạn định. Người giải thích phải dựa vào ngữ cảnh để nhận biết ý nghĩa tổng quát của mệnh đề quan hệ.
(a) Dấu hiệu thường gặp nhất của mệnh đề quan hệ là tiểu từ אֲשֶׁר. Trong thi ca, hoặc trong các văn bản muộn hơn, tiền tố -שֶׁ / -שַׁ đánh dấu mệnh đề quan hệ (xem Mục 4.6.2). Trong thi ca cổ hơn, từ זֶה và các hình thức liên hệ với ז được dùng (xem Mục 4.6.3). Đôi khi, cách dùng phân từ thuộc tính cũng có thể đánh dấu mệnh đề quan hệ.
Ví dụ: וְעַתָּה קוּם עֲבֹר אֶת־הַיַּרְדֵּן הַזֶּה אַתָּה וְכָל־הָעָם הַזֶּה אֶל־הָאָרֶץ אֲשֶׁר אָנֹכִי נֹתֵן לָהֶם, “Vậy bây giờ, hãy chỗi dậy đi ngang qua sông Giô-đanh này, ngươi và cả dân sự này, vào đất mà ta ban cho họ” (Giô-suê 1:2); הַיָּמִים אֲשֶׁר מָלַךְ דָּוִד עַל־יִשְׂרָאֵל, “Những ngày Đa-vít trị vì trên Y-sơ-ra-ên” (1 Các Vua 2:11); בְּרֶשֶׁת־זוּ טָמָנוּ, “Trong lưới mà các nước đã giăng” (Thi Thiên 9:16 [Anh văn 9:15]); מַה־שֶּׁהָיָה הוּא שֶׁיִּהְיֶה, “Điều đã có, ấy là điều sẽ có” (Truyền Đạo 1:9).
Mệnh đề quan hệ cũng có thể là asyndetic (không liên từ): בְּאֶרֶץ לֹא לָהֶם, “Trong một đất chẳng thuộc về họ” (Sáng Thế Ký 15:13).
(b) Với một số mệnh đề quan hệ, đặc biệt là những mệnh đề chỉ đến một địa điểm địa lý, một đại từ quy chiếu ngược xuất hiện, tham chiếu đến tiền đề của đại từ quan hệ; nhưng tốt nhất là không dịch ra (xem Mục 4.6.1): הַמָּקוֹם אֲשֶׁר אַתָּה עֹמֵד עָלָיו אַדְמַת־קֹדֶשׁ הוּא, “Chỗ ngươi đứng là đất thánh” [nguyên văn: “Chỗ ngươi đứng trên nó, ấy là đất thánh”] (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:5); גּוֹי אֲשֶׁר לֹא-תִשְׁמַע לְשֹׁנוֹ, “Một dân mà ngươi không hiểu tiếng nói của nó” [nguyên văn: “Một dân, mà ngươi không hiểu tiếng của nó”] (Phục Truyền Luật Lệ Ký 28:49); יִוָּדַע הַנָּבִיא אֲשֶׁר-שְׁלָחוֹ יְהוָה בֶּאֱמֶת, “Tiên tri sẽ được nhận biết là người mà Đức Giê-hô-va thật đã sai” [nguyên văn: “Tiên tri sẽ được nhận biết là người Đức Giê-hô-va thật đã sai người ấy”] (Giê-rê-mi 28:9). Một trạng từ, như שָׁם, cũng có thể được dùng thay cho đại từ quy chiếu ngược: הַמָּקוֹם אֲשֶׁר דִּבֶּר אִתּוֹ שָׁם אֱלֹהִים, “Chỗ mà Đức Chúa Trời đã phán cùng người” (Sáng Thế Ký 35:15).
(c) Paronomasia (Chơi chữ) – Sự lặp lại một từ trong cả mệnh đề chính và mệnh đề quan hệ có thể được dùng để diễn đạt một ý nghĩa bất định: וַאֲנִי הוֹלֵךְ עַל אֲשֶׁר-אֲנִי הוֹלֵךְ, “Ta đi nơi nào ta đi” (2 Sa-mu-ên 15:20); וַיִּתְהַלְּכוּ בַּאֲשֶׁר יִתְהַלְּכוּ, “Họ đi nơi nào họ có thể đi” (1 Sa-mu-ên 23:13); וְחַנֹּתִי אֶת-אֲשֶׁר אָחֹן וְרִחַמְתִּי אֶת-אֲשֶׁר אֲרַחֵם, “Ta sẽ làm ơn cho ai ta làm ơn, và ta sẽ thương xót ai ta thương xót” [nguyên văn: “Ta sẽ làm ơn cho người ta làm ơn, và ta sẽ thương xót người ta thương xót”] (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:19). Có lẽ cũng nên kể đến lời khẳng định thần học quan trọng thuộc loại này: אֶהְיֶה אֲשֶׁר אֶהְיֶה, “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu” (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14).
5.3 ADDITIONAL SENTENCE TYPES (Các loại câu bổ sung)#
Ở phần đầu của chương này, chúng ta đã đưa ra các định nghĩa có thể sử đụng được cho “câu đơn,” “câu ghép,” và “câu phức,” cũng như thuật ngữ khó nắm bắt là “câu.” Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ trình bày tổng quan về những loại câu quan trọng khác trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh.
5.3.1 Interrogative Sentences (Câu nghi vấn)#
Một mệnh đề nghi vấn, trong ý nghĩa căn bản nhất, đặt ra một câu hỏi trực tiếp, có thể hướng đến người đọc, hoặc nằm trong mạch tường thuật. Câu hỏi này có thể là thật, hoặc có thể là tu từ, trong trường hợp đó không mong đợi có câu trả lời. Các câu nghi vấn thường chỉ được phân biệt bằng ngữ điệu, vì chúng không được đánh dấu bằng bất kỳ hình thái nào: וַיֹּאמֶר שָׁלוֹם בּוֹאֶךָ, “Người [Sa-mu-ên] nói: Ngươi đến cách bình an chăng?” (1 Sa-mu-ên 16:4). Tuy nhiên, có những tiểu từ dùng để đánh dấu câu nghi vấn.
(a) Các mệnh đề nghi vấn có thể được đánh dấu bằng tiểu từ הַ để chỉ câu hỏi trực tiếp: אַל־תִּירָאוּ כִּי הֲתַחַת אֱלֹהִים אָנִי, “Chớ sợ chi, vì ta há ở thế Đức Chúa Trời sao?” (Sáng Thế Ký 50:19); הֲשָׁלוֹם לַנַּעַר לְאַבְשָׁלוֹם, “Áp-sa-lôm, con trai ngươi, có được bình an chăng?” (2 Sa-mu-ên 18:32).
(b) Trong trường hợp câu hỏi phân biệt, “X hay Y?” thì tiểu từ אִם sẽ giới thiệu lựa chọn thứ hai: הֲלָנוּ אַתָּה אִם־לְצָרֵינוּ, “Ngươi thuộc về chúng ta hay về kẻ thù nghịch chúng ta?” (Giô-suê 5:13).
(c) Ngoài tiểu từ הַ, còn có một nhóm đại từ nghi vấn dùng để giới thiệu các loại câu hỏi cụ thể, bao gồm מִי, מָה, אֵיךְ, אֵי, אָן, v.v.: מָה חֳרִי הָאַף הַגָּדוֹל הַזֶּה, “Cớ sao có cơn giận lớn nầy? [nguyên văn: Cái nóng của cơn giận lớn này là gì?]” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 29:23 [Anh văn 29:24]); מִי הִגִּיד לְךָ כִּי עֵירֹם אָתָּה, “Ai đã cho ngươi biết rằng ngươi ở trần truồng?” (Sáng Thế Ký 3:11); אֵיךְ תֹּאמַר אֲהַבְתִּיךָ, “Sao ngươi có thể nói rằng: Ta yêu ngươi?” (Các Quan Xét 16:15); אֵי הֶבֶל אָחִיךָ, “A-bên, em ngươi, ở đâu?” (Sáng Thế Ký 4:9).
(d) Tiểu từ אֵפוֹא thường theo sau một mệnh đề nghi vấn để nhấn mạnh thêm cho câu hỏi: מִי־אֵפוֹא הוּא הַצָּד־צַיִד, “Vậy thì ai là kẻ đã săn được thịt?” (Sáng Thế Ký 27:33).
Các dấu hiệu nghi vấn cũng có thể đánh dấu mệnh đề cảm thán: הֲנִגְלֹה נִגְלֵיתִי אֶל־בֵּית אָבִיךָ, “Quả thật ta đã hiện ra cùng nhà cha ngươi” (1 Sa-mu-ên 2:27); אֵיךְ נָפְלוּ גִבּוֹרִים בְּתוֹךְ הַמִּלְחָמָה, “Ôi, những người mạnh mẽ đã ngã trong trận chiến!” (2 Sa-mu-ên 1:25); מַה־טּוֹבוּ אֹהָלֶיךָ יַעֲקֹב, “Các trại của ngươi đẹp biết bao, hỡi Gia-cốp!” (Dân Số Ký 24:5).
Ngoài ra, một danh từ cũng có thể đảm nhiệm chức năng cảm thán. Cách dùng này không được đánh dấu bằng hình thái, nên phụ thuộc vào ngữ cảnh: וַיֹּאמֶר אֶל־אָבִיו רֹאשִׁי רֹאשִׁי, “Người nói với cha mình: Đầu tôi! Đầu tôi!” (2 Các Vua 4:19).
Mệnh đề nghi vấn cũng có thể có chức năng diễn đạt câu hỏi gián tiếp, tức là tường thuật hoặc tham chiếu đến câu hỏi của một người nói khác, mặc dù câu hỏi ban đầu không cần phải được nêu rõ. Vì câu hỏi gián tiếp về mặt logic tham chiếu đến lời nói của người khác, nên nó không nhằm được trả lời. Những mệnh đề này được giới thiệu theo cùng cách như câu hỏi trực tiếp: וְלֹא יָדַעְתִּי מֵאַיִן הֵמָּה, “Ta không biết chúng từ đâu đến” (Giô-suê 2:4); לֹא יָדַעְנוּ מִי־שָׂם כַּסְפֵּנוּ בְּאַמְתְּחֹתֵינוּ, “Chúng tôi không biết ai đã để bạc của chúng tôi trong bao” (Sáng Thế Ký 43:22); שְׁאַל מָה אֶעֱשֶׂה־לָּךְ, “Hãy cầu xin điều ta phải làm cho ngươi” (2 Các Vua 2:9).
5.3.2 Oath Sentences (Câu thề nguyền)#
Một lời thề rủa sả, hay nguyền rủa, thường được giới thiệu bằng công thức – “Nguyện Đức Chúa Trời làm cho ta như vậy và thêm nữa.” Nội dung của lời thề, tức apodosis, được đánh dấu bằng אִם nếu lời thề mang tính phủ định, diễn đạt một hành động mà người thề sẽ không làm; trong khi אִם לֹא và כִּי có chức năng giới thiệu lời thề khẳng định, tức hành động mà người thề sẽ làm (xem Mục 4.3.2, e và f).
Ví dụ: כֹּה יַעֲשֶׂה לִּי יְהוָה וְכֹה יוֹסִיף כִּי הַמָּוֶת יַפְרִיד בֵּינִי וּבֵינֵךְ, “Nguyện Đức Giê-hô-va làm cho ta như vậy và thêm nữa, nếu chẳng phải sự chết chia rẽ ta và ngươi” (Ru-tơ 1:17). כֹּה יַעֲשֶׂה־לִּי אֱלֹהִים וְכֹה יוֹסִיף כִּי אִם־לִפְנֵי בּוֹא־הַשֶּׁמֶשׁ אֶטְעַם־לֶחֶם אוֹ כָל־מְאוּמָה, “Nguyện Đức Chúa Trời làm cho ta như vậy và thêm nữa, nếu ta nếm bánh hay vật gì khác trước khi mặt trời lặn” (2 Sa-mu-ên 3:35).
Tiền đề (protasis) của một lời thề cũng được giới thiệu bằng nhiều cấu trúc có liên quan đến tính từ חַי hoặc חֵי, cùng với đại từ ngôi thứ nhất (אָנֹכִי/אֲנִי), hoặc một nhân vật có thẩm quyền như Pha-ra-ôn, nhưng thường xuyên hơn là thần linh (יְהוָה hoặc אֱלֹהִים). Các apodosis của những lời thề này được giới thiệu bằng cùng các tiểu từ như đã nêu ở trên – אִם cho lời thề phủ định và אִם לֹא hoặc כִּי cho lời thề khẳng định: חַי־יְהוָה כִּי בְנֵי־מָוֶת אַתֶּם, “Nhân Đức Giê-hô-va hằng sống, chắc các ngươi đáng chết” (1 Sa-mu-ên 26:6); חֵי פַרְעֹה כִּי מְרַגְּלִים אַתֶּם, “Nhân Pha-ra-ôn hằng sống, chắc các ngươi là kẻ do thám” (Sáng Thế Ký 42:16).
5.3.3 Wish Sentences (Câu ước muốn)#
Mệnh đề ước muốn diễn đạt một sự mong mỏi hoặc khát vọng mạnh mẽ. Thường thì sự diễn đạt này có thể mang tính chất của một câu hỏi hoặc một câu cảm thán.
(a) Phương tiện phổ biến nhất để diễn đạt một ước muốn trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh là qua việc dùng động từ ý chí (xem Mục 3.3): יְהִי אוֹר, “Hãy có sự sáng” (Sáng Thế Ký 1:3); הִפָּרֶד נָא מֵעָלַי, “Xin hãy phân rẽ khỏi ta” (Sáng Thế Ký 13:9). Đôi khi, một mệnh đề ước muốn được giới thiệu bằng động từ biến cách, được đánh dấu với לוּ hoặc אִם: וַיֹּאמֶר אַבְרָהָם אֶל־הָאֱלֹהִים לוּ יִשְׁמָעֵאל יִחְיֶה לְפָנֶיךָ, “Áp-ra-ham thưa cùng Đức Chúa Trời rằng: Ôi, giá như Ích-ma-ên được sống trước mặt Ngài!” (Sáng Thế Ký 17:18); לוּ־מַתְנוּ בְּאֶרֶץ מִצְרַיִם, “Ôi, giá như chúng tôi đã chết trong đất Ê-díp-tô!” (Dân Số Ký 14:2).
(b) Sự diễn đạt một ước muốn thường giống như một câu hỏi. Do đó, các tiểu từ nghi vấn, đặc biệt là מִי, có thể được dùng để giới thiệu một sự mong mỏi mạnh mẽ: מִי־יְשִׂמֵנִי שֹׁפֵט בָּאָרֶץ, “Ôi, giá có ai lập ta làm quan xét trong đất” (2 Sa-mu-ên 15:4). Cấu trúc מִי יִתֵּן là một đặc điểm đáng chú ý trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh, diễn đạt ý nghĩa ước muốn, đôi khi mang nghĩa “Nguyện Đức Chúa Trời ban cho!”: וּמִי יִתֵּן אֶת־הָעָם הַזֶּה בְּיָדִי, “Ôi, giá như dân này ở trong tay ta!” (Các Quan Xét 9:29); וּמִי יִתֵּן כָּל־עַם יְהוָה נְבִיאִים, “Ôi, giá như cả dân Đức Giê-hô-va đều là tiên tri!” (Dân Số Ký 11:29).
(c) Sự diễn đạt một ước muốn cũng có thể được cấu tạo bằng phân từ hoặc một cụm giới từ làm vị ngữ trong mệnh đề: אֹרְרֶיךָ אָרוּר וּמְבָרְכֶיךָ בָּרוּךְ, “Kẻ nào rủa sả ngươi sẽ bị rủa sả, và kẻ nào chúc phước ngươi sẽ được phước” (Sáng Thế Ký 27:29); שָׁלוֹם לָכֶם, “Bình an cho các ngươi” hoặc “Nguyện các ngươi được bình an” (Sáng Thế Ký 43:23).
(d) Tương tự như các lời thề là mệnh đề xác quyết (asseverative clauses), cũng diễn đạt một sự khẳng định mạnh mẽ. Lời nói này có thể là một lời thề, trong trường hợp đó mệnh đề xác quyết hoạt động như một lời thề lược bỏ. Tuy nhiên, mệnh đề cũng có thể đơn giản là sự củng cố hoặc xác nhận một sự thật. Ngoài những tiểu từ đã được ghi nhận, các tiểu từ אָכֵן, אַךְ, אָמְנָה, אָמְנָם, אֲבָל, רַק, và הִנֵּה đều được dùng để đánh dấu sự khẳng định: רַק אֵין־יִרְאַת אֱלֹהִים בַּמָּקוֹם הַזֶּה, “Chắc thật không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trong nơi này” (Sáng Thế Ký 20:11); אֲבָל אֲשֵׁמִים אֲנַחְנוּ עַל־אָחִינוּ, “Quả thật chúng ta có tội về việc đối với em chúng ta” (Sáng Thế Ký 42:21); אָכֵן יֵשׁ יְהוָה בַּמָּקוֹם הַזֶּה, “Quả thật Đức Giê-hô-va ở trong nơi này” (Sáng Thế Ký 28:16); הִנֵּה מִשְׁמַנֵּי הָאָרֶץ יִהְיֶה מוֹשָׁבֶךָ, “Chắc thật chỗ ở ngươi sẽ cách xa sự màu mỡ của đất” (Sáng Thế Ký 27:39).
5.3.4 Existential Sentences (Câu tồn tại)#
Có hai cách chính để diễn đạt sự tồn tại của một vật hay một người trong tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh.
(a) Đối với thì quá khứ hoặc tương lai, một hình thức của động từ הָיָה diễn đạt sự tồn tại: וְהַנָּחָשׁ הָיָה עָרוּם מִכֹּל חַיַּת הַשָּׂדֶה, “Rắn là loài khôn lanh hơn hết thảy thú đồng” (Sáng Thế Ký 3:1); אִישׁ הָיָה בְאֶרֶץ־עוּץ, “Có một người trong đất Út” (Gióp 1:1); כֹּה יִהְיֶה זַרְעֶךָ, “Dòng dõi ngươi sẽ như vậy” (Sáng Thế Ký 15:5).
(b) Đối với thì hiện tại, động từ הָיָה không được dùng. Thay vào đó, tiểu từ tồn tại יֵשׁ được dùng (xem Mục 4.4.2). Tiểu từ này không được phủ định; sự vắng mặt của một điều gì đó trong thì hiện tại được diễn đạt bằng tiểu từ אֵין (xem Mục 4.4.1): אָכֵן יֵשׁ יְהוָה בַּמָּקוֹם הַזֶּה, “Quả thật Đức Giê-hô-va ở trong nơi này” (Sáng Thế Ký 28:16); וְאָדָם אֵין לַעֲבֹד אֶת־הָאֲדָמָה, “Chưa có người để cày đất” (Sáng Thế Ký 2:5).
5.3.5 Negative Sentences (Câu phủ định)#
(a) Thông thường, các mệnh đề động từ được phủ định bằng לֹא, mặc dù אַל được dùng với động từ chưa hoàn thành như một hình thức tương đương với mệnh lệnh phủ định hoặc các động từ ý chí khác (xem Mục 4.2.3 và 4.2.11): לְאָדָם לֹא-מָצָא עֵזֶר כְּנֶגְדּוֹ, “Người nam không tìm được một kẻ giúp đỡ thích hợp” (Sáng Thế Ký 2:20); אַל-תִּירָא מִפְּנֵיהֶם, “Chớ sợ chúng nó” (Giô-suê 11:6).
(b) Các mệnh đề danh từ thường được phủ định bằng אֵין, mặc dù לֹא cũng có thể phủ định mệnh đề danh từ: אֵין לָהּ וָלֶד, “Nàng không có con” (Sáng Thế Ký 11:30); לֹא-טוֹב הֱיוֹת הָאָדָם לְבַדּוֹ, “Người nam ở một mình thì không tốt” (Sáng Thế Ký 2:18).
(c) Cụ thể, để phủ định động danh từ, לְבִלְתִּי được dùng: לְבִלְתִּי סוּר-מִמֶּנּוּ יָמִין וּשְׂמֹאול, “Hầu cho ngươi không xây qua bên hữu hay bên tả” (Giô-suê 23:6); הִשָּׁמֶר לְךָ פֶּן-תִּשְׁכַּח אֶת-יְהוָה אֱלֹהֶיךָ לְבִלְתִּי שְׁמֹר מִצְוֹתָיו, “Khá giữ, kẻo ngươi quên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, mà không gìn giữ các điều răn của Ngài” (Phục Truyền Luật Lệ Ký 8:11).
5.3.6 Elliptical Clauses and Sentences (Mệnh đề và câu lược bỏ)#
Đôi khi, tiếng Hê-bơ-rơ Thánh Kinh lược bỏ một số thành phần từ trong mệnh đề. Chú ý kỹ đến ngữ cảnh thường cho thấy yếu tố bị lược bỏ, và hiếm khi gây ra sự mơ hồ.
(a) Danh từ thường bị lược bỏ trong so sánh, đặc biệt trong mệnh đề trình bày tình huống được so sánh: מְשַׁוֶּה רַגְלַי כָּאַיָּלוֹת, “Ngài làm cho chân tôi giống như chân con nai cái” (2 Sa-mu-ên 22:34 Qere); וַתָּרֶם כִּרְאֵים קַרְנִי, “Ngài đã nhắc sừng tôi lên như sừng bò rừng” (Thi Thiên 92:11).
(b) Đại từ thường bị lược bỏ khi tiền đề của chúng đã rõ từ ngữ cảnh, chủ yếu trong hai tình huống: làm chủ từ của động từ phi biến cách: בַּהֲפֹךְ אֶת-הֶעָרִים אֲשֶׁר-יָשַׁב בָּהֵן לוֹט, “Khi Ngài phá hủy các thành mà Lót đã ở trong đó” (Sáng Thế Ký 19:29); עֹמֵד עַל־הַגְּמַלִּים עַל־הָעָיִן, “Người đứng gần lạc đà tại giếng” (Sáng Thế Ký 24:30); và khi làm đối tượng của động từ: וַיָּבֵא אֶל־הָאָדָם, “Ngài đem chúng đến cho người nam” (Sáng Thế Ký 2:19).
(c) Một số cách diễn đạt về số lượng, như “ngày,” “tháng,” hoặc “năm” thường bị lược bỏ sau các con số: וְלוּ אָנֹכִי שֹׁקֵל עַל־כַּפַּי אֶלֶף כָּסֶף, “Dầu ta cân trong tay ta một ngàn bạc” (2 Sa-mu-ên 18:12 Qere); אַךְ בֶּעָשׂוֹר לַחֹדֶשׁ הַשְּׁבִיעִי, “Ngày mồng mười tháng bảy” (Lê-vi Ký 23:27).
(d) Sự lược bỏ cũng thường xảy ra với phủ định: אַל בְּנֹתַי, “Không, hỡi các con gái ta” (Ru-tơ 1:13); הֲיֵשׁ יְהוָה בְּקִרְבֵּנוּ אִם־אָיִן, “Đức Giê-hô-va há chẳng ở giữa chúng ta sao?” (Xuất Ê-díp-tô Ký 17:7).