Skip to main content

Chương 00: Giới Thiệu

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Năm 1988, Hồng y Joseph Ratzinger lúc bấy giờ đã có một bài giảng tại New York với tựa đề: “Giải Nghĩa Kinh Thánh trong Khủng Hoảng.” Ông nhận xét rằng, sau hai trăm năm nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp lịch sử–bình luận (historical–critical), chúng ta cần “một sự tổng hợp tốt hơn giữa phương pháp lịch sử và phương pháp thần học.” Để đạt được mục tiêu này, cần có sự suy xét cẩn trọng đối với bình luận lịch sử, vốn thường đưa ra những kết luận với độ chắc chắn vượt quá mức mà việc kiểm tra kỹ lưỡng cho là hợp lý. Và vị Giáo hoàng tương lai Benedict XVI đã nhận định rằng bất kỳ văn bản nào - đặc biệt là Kinh Thánh - chỉ bày tỏ trọn vẹn kho tàng ý nghĩa của nó cho những ai đến với tấm lòng cảm thông, sẵn sàng lắng nghe điều đang được truyền đạt, thay vì cố gắng gán ghép văn bản vào những ý tưởng riêng hay những sơ đồ định sẵn.

Phù hợp với tư cách là một cựu giáo sư thần học, bài giảng “Giải Nghĩa Kinh Thánh trong Khủng Hoảng” được trình bày một cách chặt chẽ và có luận cứ rõ ràng. Những chủ đề mà Ratzinger nêu lên vẫn còn mang tính thời sự đối với bất kỳ ai muốn suy nghĩ sáng suốt về giới hạn (và thành tựu) của bình luận lịch sử và các phương pháp hiện đại khác trong việc giải nghĩa Kinh Thánh. Tuy nhiên, sự náo động xung quanh bài giảng của ông cho thấy rằng những câu hỏi lâu đời về phép giải nghĩa, triết học, và phương pháp bình luận văn bản ngày nay lại trở thành thứ yếu, không phải là trọng tâm. Khi ấy, Ratzinger đang giữ chức vụ đứng đầu Bộ Giáo lý Đức tin của Vatican, cơ quan tại Rome chịu trách nhiệm phát biểu và thi hành các tiêu chuẩn giáo lý. Trong số các tiêu chuẩn đó có những giáo huấn đạo đức lên án hành vi đồng tính luyến ái. Vì lý do này, sự hiện diện của ông tại New York đã thu hút những người biểu tình ủng hộ quyền lợi người đồng tính, họ đã gây rối buổi giảng và, sau khi bị đuổi ra ngoài, tiếp tục đập vào cửa sổ. Khi bài giảng kết thúc, cảnh sát New York phải vội vã đưa vị hồng y lên một xe cảnh sát gần đó để thoát khỏi cảnh tượng hỗn loạn.

Kể từ năm 1988, sự thù địch về mặt đạo đức đối với Cơ Đốc giáo ngày càng gia tăng, vượt qua những phản đối cũ kỹ cho rằng niềm tin vào phép lạ và siêu nhiên là điều phi lý, hoặc rằng người Cơ Đốc dựa vào lời chứng Kinh Thánh vốn không thể đứng vững trước sự khảo xét bình luận. Trong bối cảnh như vậy, bất kỳ nỗ lực nào nhằm hòa giải giữa các tiêu chuẩn học thuật và cam kết thần học Cơ Đốc, dù được trình bày thuyết phục đến đâu, cũng khó đạt được hiệu quả. Một thế hệ trước, có thể người ta còn hy vọng rằng học thuật lịch sử hiện đại có thể đối thoại một cách có kết quả với thần học. Khi trở thành Giáo hoàng Benedict XVI vào năm 2005, Ratzinger đã gợi ý như vậy. Khi ấy, ông trở lại Đại học Regensburg, nơi ông từng giảng dạy vào thập niên 1970, và có một bài diễn văn trước ban giảng huấn. Ông hồi tưởng lại những năm tháng làm giáo sư tại đó và bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với sự nghiêm túc mà các học giả thế tục và tôn giáo đã thể hiện khi thảo luận những vấn đề hệ trọng từ các ngành học của họ. Quan điểm của họ không giống nhau, và bất đồng là điều thường thấy. Nhưng những học giả uyên bác ấy đã đặt niềm tin vào cam kết chung đối với lý trí, dù cách họ hiểu và áp dụng lý trí có khác nhau.

Ngày nay, thật đáng buồn là chúng ta hiếm khi nghe đến lý trí. “Wokeness” hành động theo những xác tín đạo đức, chứ không dựa vào sự khảo sát lý tính. Những lời kêu gọi hướng đến cam kết chung về lý trí không còn nhận được sự đồng thuận. Vì vậy, dù lời kêu gọi của Ratzinger về một sự tổng hợp tốt hơn giữa sự hiểu biết của đức tin và phương pháp của lý trí vẫn còn giá trị, thì điều đó chỉ có ý nghĩa khi nó được hiểu như một dự án thần học rõ ràng.

Cuốn sách này giả định rằng chúng ta cần hết sức cẩn trọng để tôn vinh chân lý của đức tin mình, và lý trí - bao gồm cả các phương pháp hiện đại của nó - có nhiệm vụ thanh lọc và đào sâu chân lý ấy. Nhưng chúng ta phải tìm kiếm sự thanh lọc và đào sâu này với tư cách là người Cơ Đốc.

Trong những năm đầu học thần học, tôi được truyền cảm hứng bởi Karl Barth. Sự mạnh dạn của ông đã khích lệ tôi tiếp cận các ngành học khác trên nền tảng thần học. Các giáo sư của tôi không hùng hồn như vị thần học gia người Thụy Sĩ vĩ đại ấy, nhưng bằng cách điềm đạm hơn, họ cũng chỉ về cùng một hướng. Vận hành theo khuynh hướng Barth (hoặc như các giáo sư của tôi gọi là khuynh hướng hậu tự do) không có nghĩa là thần học hóa mọi thứ. Người ta nên đọc Plato và học hỏi từ ông. Điều tương tự cũng đúng với Kant và Hegel, cũng như với Shakespeare và Milton. Hans Urs von Balthasar yêu thích hình ảnh bản giao hưởng như một cách phù hợp để hình dung sự tác động của chân lý lên tâm trí chúng ta. Mỗi nhạc cụ phải cất tiếng bằng chính giọng của mình thì mới có thể vang lên đúng với tài năng tổng hợp của người soạn nhạc. Điều đó cũng đúng với triết học, lịch sử, khoa học, văn học, và mọi lĩnh vực khác. Chân lý của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu định hình bản nhạc; các nhà thần học không chơi từng nhạc cụ một.

Trong các chương tiếp theo, tôi bàn về bình luận lịch sử (historical criticism) và đôi khi vận dụng những hiểu biết từ học thuật Kinh Thánh hiện đại. Nhạc cụ ấy cần được lắng nghe. Tôi bàn về một nhân vật Cơ Đốc cổ đại (Origen), và tôi thực hiện điều đó trong khuôn khổ của học thuật lịch sử. Mục tiêu của tôi là hiểu ông theo chính điều kiện của ông, để nghe ông như cách ông được nghe bởi những người cùng thời. Độc giả có thể ngạc nhiên khi thấy rằng trong một chương khác, tôi dành sự chú ý lâu dài cho một bài thơ tiếng Anh Trung cổ. Nhưng dù các nhạc cụ có khác nhau, bản nhạc vẫn luôn mang tính thần học. Vì các chương này không được tổ chức xoay quanh những câu hỏi mà các triết gia, sử gia hay nhà bình luận văn học thường đặt ra. Thay vào đó, tôi đặt ra những câu hỏi thần học và rồi quay sang nhiều nguồn khác nhau để lý luận tìm đến những câu trả lời thỏa đáng.

Nói về các câu hỏi thần học thì chưa thật chính xác. Thật ra, cuốn sách này cứ xoay đi xoay lại quanh một câu hỏi duy nhất: Làm thế nào để chúng ta điều hòa giáo lý với Kinh Thánh? Đây không phải là câu hỏi mà chương trình đào tạo đại học về nghiên cứu Kinh Thánh khuyến khích bạn đặt ra. Thật vậy, như tôi sẽ đề cập nhiều lần trong các phần sau, môi trường học thuật thường chủ động ngăn cản việc bạn cố gắng giải quyết vấn đề mối liên hệ giữa Kinh Thánh và giáo huấn Hội Thánh, xem đó là một cám dỗ nguy hiểm - một lời mời gọi áp đặt những mối quan tâm đạo đức lên một cuộc khảo sát vốn được cho là thuần túy trí thức.

Tôi không phủ nhận sự thờ ơ của các học giả thế tục đối với vấn đề mối liên hệ giữa giáo lý và Kinh Thánh. Nhưng chúng ta chớ để bị đánh lừa bởi những lời nói về “hoạt động trí thức thuần túy,” vì điều đó tạo ra ấn tượng sai lầm rằng đức tin không đòi hỏi gì nơi lý trí. Như tôi sẽ trình bày trong các trang tiếp theo, việc điều hòa giáo lý với Kinh Thánh là một công việc đầy thách thức, đòi hỏi nhiều nỗ lực trí thức đa dạng. Trong trường hợp của Origen, điều đó đã thúc đẩy một sự tái cấu trúc đầy sáng tạo đối với chủ nghĩa Tân Plato. Những nhân vật Cơ Đốc thời đầu khác đã vận dụng và tái triển khai các lý thuyết hùng biện cổ đại. Và dĩ nhiên, các giáo phụ đã đưa ra những lập luận giải nghĩa Kinh Thánh vừa phức tạp vừa đa chiều. Tôi xin góp tiếng nói của mình vào truyền thống lý trí phục vụ cho việc giải nghĩa Kinh Thánh, dù ở mức độ khiêm tốn hơn nhiều, vì tôi không có sự tinh thông Kinh Thánh như các nhân vật lớn trong truyền thống Cơ Đốc.

Một số độc giả có thể thất vọng khi tôi từ bỏ việc bàn luận sơ khởi về phương pháp và phép giải nghĩa. Tôi không đi sâu vào tài liệu triết học để tìm kiếm nguồn lực cho một thần học về việc giải nghĩa - một thần học đưa ra các tiêu chí giúp chúng ta bảo đảm rằng cách đọc và cách giải nghĩa của mình là đáng tin cậy, khách quan và trung thực. Trong cuốn sách này, bạn cũng sẽ không tìm thấy một trình bày có hệ thống về giáo lý cảm thúc hay bất kỳ suy gẫm thần học nào đã được phát triển đầy đủ về Kinh Thánh như sự mặc khải của Đức Chúa Trời.

Khi tôi lớn tuổi hơn, tôi nhận thấy tốt nhất là nên nói thẳng vào những vấn đề và nan đề làm cho tâm trí chúng ta chuyển động, thay vì trước tiên phải trình bày những khó khăn ấy một cách nghiêm ngặt. (Việc viết phần dẫn nhập không có gì sai, ngoại trừ nguy cơ không đi vào trọng tâm vì sức lực đã tiêu hao cho phần mở đầu.) Rốt cuộc, mục đích cơ bản của phép giải nghĩa Kinh Thánh và các phương pháp liên quan là nhằm đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho một câu hỏi đơn giản: Làm thế nào để tôi giải nghĩa Kinh Thánh mà vẫn trung thành với điều Kinh Thánh phán dạy?

Trong suốt cuốn sách này, tôi nhiều lần lặp lại điều mà tôi cho là câu trả lời rõ ràng và căn bản nhất: Việc giải nghĩa đúng đắn được chứng minh là đúng khi cách chúng ta đọc Kinh Thánh phù hợp với giáo huấn của Hội Thánh. Tôi sẽ trình bày chi tiết bên dưới về cách tôi đi đến kết luận này. Nhưng trước hết, xin cho tôi nói rõ ràng: Mệnh lệnh về sự phù hợp là nguyên tắc đầu tiên của phép giải nghĩa Kinh Thánh theo đức tin Cơ Đốc. Tôi đặc biệt khuyến khích những độc giả quan tâm đến việc giải nghĩa Kinh Thánh nên đọc Hans-Georg Gadamer, Paul Ricoeur, và các nhân vật thế kỷ hai mươi khác - những người có những suy nghĩ tinh tế và khôn ngoan về văn bản, lịch sử, và sự giải nghĩa. Tôi đã học được rất nhiều từ họ. Nhưng tôi tin rằng tốt nhất là chúng ta nên nắm rõ mệnh lệnh về sự phù hợp trước khi tìm kiếm các nguồn lực và nhận định hữu ích để phát triển, giải thích, và bảo vệ cách tiếp cận của mình đối với việc giải nghĩa.

Ratzinger dường như cũng đi đến một kết luận tương tự. Tại một phiên họp của Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 2008, Giáo hoàng Benedict đã phát biểu trước các tham dự viên. Đó là, hai mươi năm sau bài giảng nổi tiếng của ông về cuộc khủng hoảng trong việc giải nghĩa Kinh Thánh, ông không còn nói về các phương pháp lịch sử và thần học nữa. Thay vào đó, ông trực tiếp nêu ra thách thức trong việc đọc Kinh Thánh: “Vì sự sống và sứ mạng của Hội Thánh, vì tương lai của đức tin, điều tối cần thiết là phải vượt qua sự phân đôi giữa giải nghĩa và thần học.” Nếu chân lý của đức tin chúng ta muốn lớn lên trong lòng và chiếu sáng vào một thế giới đang rất cần sự hoán cải, thì chúng ta phải đưa cách đọc Kinh Thánh vào sự phù hợp với các giáo lý đã đặt nền tảng sứ đồ (apostolic foundation) cho thần học của chúng ta.

Như tôi sẽ lập luận, việc “vượt qua sự phân đôi giữa giải nghĩa và thần học” đã là dự án trung tâm của Cơ Đốc giáo ngay từ ban đầu. Điều đó được thể hiện mỗi khi Tân Ước nói: “… để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.” Nhu cầu vượt qua sự phân đôi giữa cách đọc Cựu Ước theo lối truyền thống lúc bấy giờ và sự mặc khải về tình yêu của Đức Chúa Trời qua sự chết và sự sống lại của Đấng Christ đã thúc đẩy tư duy của Sứ đồ Phao-lô, tạo nên nhiều tiểu luận thần học trong các thư tín của ông. “Vượt qua” là động lực của thời kỳ giáo phụ, và mệnh lệnh mà Giáo hoàng Benedict nêu ra đã được tiếp nối qua nhiều thế kỷ. Trong cuốn sách này, tôi khảo sát một phân đoạn nhỏ phát sinh từ các cuộc tranh luận thế kỷ mười sáu về giáo lý xưng công bình. Nỗ lực của tôi trong việc đọc Kinh Thánh cũng nhằm phục vụ cho cùng một nhiệm vụ đó.

Bố cục của cuốn sách này rất rõ ràng. Hai chương đầu trình bày thách thức căn bản mà chúng ta đối diện với tư cách là người đọc Kinh Thánh theo đức tin Cơ Đốc: đó là phân định sự phù hợp giữa Kinh Thánh và giáo lý. Tôi lập luận rằng chính sự phân định này làm cho việc giải nghĩa trở nên “mang tính thần học.” Vấn đề này dễ nhận thấy, đôi khi một cách đau đớn, vì Kinh Thánh thường có vẻ không đồng thuận với giáo huấn của Hội Thánh. Nhưng chúng ta không nên nản lòng trước khó khăn. Công sức chúng ta bỏ ra để tìm đường đến sự phù hợp sẽ mang lại kết quả phong phú. Việc giải nghĩa Kinh Thánh theo hướng thần học là một công việc đầy tham vọng và hứng khởi. Mệnh lệnh “vượt qua” thúc đẩy chúng ta khám phá sự phong phú của Kinh Thánh và những sắc thái tinh tế của giáo lý - cả hai đều chuẩn bị lòng chúng ta để tiếp nhận sự soi sáng từ trên cao.

Chương 3 và 4 đưa ra những ví dụ lịch sử về việc giải nghĩa thần học. Đọc Origen, chúng ta gặp một trong những người đọc Kinh Thánh vĩ đại nhất trong truyền thống Cơ Đốc. Ông đã “Kinh Thánh hóa” siêu hình học và hình thành một giáo lý về sự cảm thúc, soi sáng cách mà Kinh Thánh dẫn dắt chúng ta đi trên con đường hẹp của sự nên thánh, biến công việc giải nghĩa thành một sự bắt chước cao cả hình ảnh Chúa Giê-xu trong sự khiêm nhường và chịu khổ của Ngài. Các nhà thần học thời Cải chánh biết rằng họ đang bị kẹt giữa hai chiều. Trong những vấn đề trọng yếu về sự xưng công bình, đức tin và việc làm, Phao-lô dường như đối nghịch với Gia-cơ. Kinh Thánh dường như mâu thuẫn với chính nó. Những nhà thần học này đã đối diện với vấn đề khó khăn ấy thay vì né tránh, và họ đã đưa ra những trình bày mang tính suy đoán về nguồn gốc và mục đích của các thư tín của Phao-lô và thư tín của Gia-cơ - những trình bày này báo trước các nhận định lịch sử hiện đại. Nhu cầu vượt qua sự phân cách giữa giải nghĩa và thần học không chỉ đưa chúng ta đến gần Đức Chúa Trời hơn, mà còn khiến chúng ta quay lại với sự tương tác sâu sắc hơn với các bậc tiền nhân, đồng thời kích thích trí tuệ chúng ta đào sâu hơn - không chỉ vào cơ cấu nội tại của giáo lý mà còn vào ý nghĩa của lịch sử.

Chương 5, 6 và 7 trình bày những nỗ lực giải nghĩa của chính tôi. Khi minh họa bản chất của việc giải nghĩa thần học trong các chương đầu, tôi sử dụng nhiều kết quả khảo cứu của mình về chương đầu tiên của sách Sáng-thế ký, và tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong chương 5. Trong chương 6, tôi suy gẫm về chủ đề sự ra đi của Đấng Christ trong sách Phúc âm Giăng - một cách nghịch lý, đó lại là cách Ngài vẫn “hiệp một” với các môn đồ của mình. Chương 7 soi sáng thư thứ nhất của Phao-lô gửi tín hữu tại Cô-rinh-tô thông qua việc đọc kỹ bài thơ Piers Plowman, một tác phẩm mang hình thức Kinh Thánh được sáng tác vào cuối thế kỷ mười bốn. Người ta thường hiểu rõ nhất một công việc là khi trực tiếp thực hiện nó, thay vì chỉ dựa vào lý thuyết. Đây là những nỗ lực của tôi.

Cuốn sách kết thúc bằng những suy gẫm về một dự án đầy tham vọng - thực hành việc giải nghĩa thần học thay vì chỉ nói về nó: Brazos Theological Commentary on the Bible (BTCB). Tôi đảm nhiệm vai trò tổng biên tập của loạt sách này, đồng thời đóng góp tập riêng của mình về sách Sáng Thế Ký (giải thích lý do tôi thường xuyên viện dẫn sách này trong các chương). Qua nhiều năm đọc và duyệt các bản chú giải trước khi xuất bản, cũng như làm việc với chính bản thảo của mình, tôi đã từ bỏ ý tưởng rằng việc đặt chữ “thần học” trước chữ “giải nghĩa” hàm ý một phương pháp riêng biệt. Sự đa dạng đáng kinh ngạc - thậm chí là cực độ - của loạt sách này buộc tôi phải suy nghĩ rõ ràng hơn về việc giải nghĩa Kinh Thánh theo hướng gắn bó với Hội Thánh và được soi dẫn bởi thần học. Cuối cùng, điều đó dẫn tôi đến nguyên tắc đầu tiên của phép giải nghĩa Kinh Thánh theo đức tin Cơ Đốc: cách đọc Kinh Thánh tốt nhất là cách phân định được sự phù hợp giữa Kinh Thánh và giáo lý. Từ nguyên tắc đó mà cuốn sách này được hình thành.

Như tôi đã ghi chú trong phần bàn luận về câu đầu tiên của sách Sáng-thế Ký, chữ “khởi đầu” có nhiều tầng nghĩa. Chúng ta được dạy rằng: “kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu của sự khôn ngoan.” Cách dùng “khởi đầu” ở đây không chỉ nói đến điểm khởi phát theo thời gian, mà là nền tảng hay cơ sở của sự khôn ngoan. Ý nghĩa đó cũng đúng với vai trò của mệnh lệnh về sự phù hợp giữa Kinh Thánh và giáo lý - sự “vượt qua” mà Giáo hoàng Benedict đã kêu gọi - trong cuốn sách này. Nó là nền tảng, là lý do, và là mục đích của toàn bộ công trình. Vấn đề thời gian lại là chuyện khác. Hầu hết các chương sau được xây dựng từ các bài luận và bài giảng tôi viết trong thập niên đầu của thế kỷ này, khi tôi còn là giáo sư thần học. (Xem phần cảm tạ ở cuối sách.) Trong thập niên vừa qua, công việc chính của tôi đã đưa tôi ra khỏi sự kêu gọi trước đây là trở thành một nhà thần học học thuật. Phần lớn sự chú tâm của tôi hiện nay dành cho việc suy nghĩ và viết về những vấn đề phù du của con người trong các cuộc chiến chính trị và văn hóa của thời đại. Nhưng suốt thập niên 2010, Dave Nelson tại Baker Academic - người cộng tác biên tập với tôi trong loạt sách Brazos Theological Commentary on the Bible - liên tục thúc giục tôi xuất bản những tài liệu này. Vì sợ mình sẽ giống như những con chó trong Kinh Thánh quay lại với đồ mình đã mửa ra, tôi đã kháng cự. Cuối cùng, Dave đã thuyết phục được tôi.

Khi tôi đọc lại những gì mình đã viết về việc giải nghĩa thần học, tôi không hài lòng. Mỗi phần đều cần được chỉnh sửa đáng kể. Tôi bắt tay vào làm việc, ban đầu với sự quyết tâm nghiêm nghị, nhưng theo thời gian thì với niềm vui ngày càng lớn. Thật là một phước hạnh khi được làm việc trong vườn nho luôn kết quả của Lời Đức Chúa Trời. Tôi hy vọng bạn, độc giả thân mến, cũng sẽ được uống từ chén hoan hỉ ấy.


ĐIỂM DỪNG CỦA GIẢI NGHĨA