TÔI ĐÃ PHỤC VỤ VỚI VAI TRÒ BIÊN TẬP VIÊN cho loạt sách Brazos Theological Commentary on the Bible trong hơn một thập kỷ. Dựa trên kinh nghiệm đó, tôi có thể tự tin khẳng định rằng không có nguy cơ xuất hiện một “phương pháp thần học” được định hình chính xác và thực thi nghiêm ngặt. Các cách tiếp cận, kỹ thuật và chiến lược diễn giải được các tác giả trong loạt Brazos sử dụng rất đa dạng, thậm chí đôi khi gây bối rối. Trong tập chú giải đầu tiên được xuất bản, Jaroslav Pelikan đã khảo sát sách Công-vụ các Sứ-đồ, thường xuyên làm nổi bật những câu Kinh Thánh mời gọi sự suy gẫm thần học sâu sắc. Ví dụ, Pelikan dùng Công-vụ 12:7 (“Bỗng có một thiên sứ của Chúa hiện ra [với Phi-e-rơ]”) để bàn về các thiên sứ trong toàn bộ kinh điển. (Tôi cũng đã áp dụng cách tiếp cận tương tự trong tập chú giải của mình về sách Sáng-thế Ký.) Trong một tập được xuất bản ngay sau đó, Telford Work đã chú giải một số lượng lớn các câu riêng lẻ trong sách Phục-truyền Luật-lệ Ký, sử dụng một hình thức sáng tạo để sắp xếp phần chú giải mang tính hướng thượng của ông theo ba mỹ đức thần học: đức tin, hy vọng và tình yêu thương. Peter Leithart và một số người khác thì chú giải theo từng chương. Những người khác lại phân tích các sách Kinh Thánh theo những cách khác nhau.
Tuy nhiên, độc giả và các nhà phê bình của loạt Brazos vẫn cảm nhận được một sự thống nhất trong mục đích, dù không phải trong cách thực hiện. Như tôi đã cố gắng giải thích trong phần giới thiệu chung của loạt sách, tiền đề cơ bản của Brazos Theological Commentary on the Bible là truyền thống Nicene đóng vai trò không thể thiếu trong việc diễn giải Kinh Thánh cách đúng đắn. Việc xác định điều gì được xem là truyền thống Nicene vẫn còn nhiều tranh luận, và vai trò chính xác của giáo lý trong việc giải nghĩa Kinh Thánh thì khó định nghĩa. Nhưng tuyên bố rộng hơn thì, tôi nghĩ, có thể hiểu được: Việc áp dụng giáo huấn Cơ Đốc cổ điển vào phân tích và giảng giải Kinh Thánh sẽ giúp nói lên điều gì đó hữu ích và chân thật về văn bản Kinh Thánh. “Diễn giải thần học” đã trở thành thuật ngữ tuy không chính xác nhưng vẫn hữu ích để chỉ một cách tiếp cận có định hướng giáo lý.
Mô tả mơ hồ này thường gợi lên những câu hỏi cấp bách từ các học giả Kinh Thánh đang lo lắng. Việc sử dụng giáo lý trong quá trình giải nghĩa Kinh Thánh có khiến việc giảng giải trở thành một công việc giáo khu hạn hẹp, hoặc tệ hơn là một hình thức giáo điều cứng nhắc không? Tại sao phải từ bỏ tính trung lập tín điều vốn giúp ngành nghiên cứu Kinh Thánh có chỗ đứng trong các trường đại học thế tục? Và chẳng phải chúng ta cần một phương pháp khách quan để tiếp cận Kinh Thánh, hầu có thể tìm được nền tảng Kinh Thánh đáng tin cậy cho giáo lý và thần học, bảo vệ Kinh Thánh khỏi việc bị biến thành một chiếc mũi sáp dễ dàng bị uốn nắn để phục vụ cho các chương trình tín điều sao?
Đây là những câu hỏi quan trọng. Nhưng tôi muốn tạm gác chúng lại để đề cập đến một mối quan tâm căn bản hơn. Tại sao chúng ta lại cảm thấy cần có một điều gọi là “giải nghĩa Kinh Thánh theo hướng thần học”? Chẳng phải điều chúng ta mong muốn là sự diễn giải Kinh Thánh cách hiểu biết và sâu sắc, bất kể phương pháp được nêu ra là gì sao? Tính từ “thần học” thực sự mang ý nghĩa gì, ngoài việc khơi lên những tranh luận không cần thiết với các học giả Kinh Thánh hiện đại?
Việc gọi một cách tiếp cận Kinh Thánh là “thần học” là điều mới mẻ, và thực sự chỉ xuất hiện gần đây. Trong tác phẩm The Life of Moses, Gregory of Nyssa xác định hai nhiệm vụ giải nghĩa. Nhiệm vụ đầu tiên là trình bày cho người đọc điều ông gọi là lịch sử (historia). Người giải nghĩa cần xác lập trình tự và thứ tự các sự kiện được thuật lại trong văn bản Kinh Thánh. Nhiệm vụ thứ hai, và quan trọng hơn, là phân định ý nghĩa thuộc linh, điều hướng tâm trí đến sự suy gẫm về những điều thuộc về Đức Chúa Trời. Gregory gọi ý nghĩa này là theōria.
Trong thời Trung Cổ, một sơ đồ bốn tầng nghĩa được thiết lập, và Kinh Thánh được đọc theo các nghĩa: nghĩa đen (literal), ẩn dụ (allegorical), đạo đức (moral), và huyền bí (anagogical). Tầng nghĩa đầu tiên tương tự với khái niệm historia của Gregory. Người giải nghĩa làm rõ các điểm mơ hồ về ngữ pháp và giải quyết những căng thẳng trong trình tự thời gian của các sự kiện, cũng như những khó khăn khác. Ba tầng nghĩa sau là các hình thức diễn giải thuộc linh. Nghĩa đạo đức nhằm gây dựng đời sống, và nghĩa huyền bí thì liên quan đến số phận cuối cùng của chúng ta. Nghĩa ẩn dụ thì rộng mở hơn, liên quan đến các biểu tượng, mô hình, và hình ảnh trong Kinh Thánh chỉ về điều khác. (Ẩn dụ là sự kết hợp của các từ Hy Lạp mang nghĩa “nói điều khác,” nên nghĩa đen của từ này là “nói điều khác.”) Trong truyền thống Trung Cổ này đã có nhiều tranh luận, đặc biệt là về khả năng và giới hạn của cách diễn giải ẩn dụ, vốn đôi khi bị giới hạn trong các hình ảnh tiên tri trong Cựu Ước chỉ về sự ứng nghiệm trong Đấng Christ. Nhưng dù chúng ta đánh giá thế nào về truyền thống bốn tầng nghĩa của Kinh Thánh, ta phải thành thật: thuật ngữ “thần học” không hề được sử dụng.
Cụm từ “giải nghĩa thần học” (theological exegesis) hay các cách diễn đạt tương tự cũng không được dùng bởi các nhân vật cận đại như George Horne (1730–1792), người đã viết chú giải Thi-thiên rất phổ biến, với chủ ý phản đối các phương pháp phê bình lịch sử đang được phát triển vào thế kỷ mười tám. William Temple cũng không dùng từ “thần học” để mô tả tập chú giải xuất sắc của ông về sách Giăng, được xuất bản vào cuối thập niên 1930. Ông thừa nhận rằng một số phần trong Readings in St. John’s Gospel có thể được xem là “một loạt các bài suy gẫm tâm linh,” nhưng ông khẳng định rằng cách tiếp cận của mình “không có đặc điểm nổi bật hay nhất quán.” Điều tối đa mà Temple sẵn sàng nói là ông đã theo sát văn bản theo sự dẫn dắt của nó, “và tôi hy vọng rằng điều này không quá khác biệt với việc nói rằng tôi quan tâm đến điều Đức Thánh Linh phán với tôi qua sách Phúc Âm.”
Mặc dù tôi chưa thực hiện nghiên cứu chuyên sâu, tôi có ấn tượng rõ ràng rằng thuật ngữ “giải nghĩa thần học” chỉ xuất hiện trong những thập niên cuối của thế kỷ hai mươi. George Lindbeck đã định hình khái niệm này trong bài viết “The Story-Shaped Church: Critical Exegesis and Theological Interpretation,” đóng góp của ông cho một tập sách năm 1987 nhằm vinh danh người đồng nghiệp tại Yale là Hans Frei. Trong bài luận dày đặc đó, Lindbeck lập luận rằng thần học về Hội Thánh của chúng ta, dù được diễn đạt bằng ngôn ngữ lấy từ Kinh Thánh, không phải lúc nào cũng rõ ràng là “thuộc Kinh Thánh” theo nghĩa nghiêm ngặt - tức là dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng các đoạn Kinh Thánh cụ thể có liên hệ rõ ràng đến đời sống Hội Thánh. Thay vào đó, sự hiểu biết của Hội Thánh về chính mình được định hình bởi nỗ lực trung tín với “quy điển trong quy điển,” điều mà (như Lindbeck ghi nhận) Hans Frei xác định là câu chuyện tổng hợp được hình thành từ bốn sách Phúc Âm về con người và công việc của Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét.
Lindbeck triển khai lập luận của mình trong những giới hạn được xác định cẩn thận. Ông giới hạn nhận xét của mình trong phạm vi giáo lý về Hội Thánh, đặc biệt là khi giáo lý đó dựa vào tường thuật trong Cựu Ước về dân Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, tôi có thể trình bày kết luận của ông một cách tổng quát hơn: việc khảo sát kỹ lưỡng lịch sử Hội Thánh cho thấy rằng sự giảng dạy, rao giảng và thực hành của Hội Thánh không phải là điều “rút ra” từ Kinh Thánh. Chúng phát sinh từ một hành động giải nghĩa Kinh Thánh luôn tiếp diễn, nhằm liên hệ các đoạn Kinh Thánh cụ thể với những mối quan tâm và mệnh lệnh hiện tại. Chúng ta có thể thấy tiến trình này trong tác phẩm Four Discourses against the Arians, một bài biện luận dài chống lại thuyết Arius do Athanasius biên soạn. Phần lớn sự biện hộ cho thần tính của Đấng Christ trong tác phẩm này liên quan đến việc giải nghĩa chi tiết Kinh Thánh. Giống như nhiều người khác trong những thế kỷ đầu của lịch sử Hội Thánh, tác phẩm này chứa đựng từng trang diễn giải Kinh Thánh được hướng dẫn bởi một cảm thức “Cơ Đốc luận” mạnh mẽ - dù hiếm khi được lý thuyết hóa - về điều mà toàn bộ Kinh Thánh bày tỏ.
David Yeago là học trò của George Lindbeck. Bài luận năm 1993 của Yeago, The New Testament and the Nicene Dogma: A Contribution to the Recovery of Theological Exegesis, là một ví dụ khác về việc sử dụng từ “thần học” như một tính từ phù hợp cho cách tiếp cận Kinh Thánh mang tính Hội Thánh. Yeago nhận xét rằng các nhà thần học tiền hiện đại có thể không đồng thuận với nhau về giáo lý, nhưng họ đều mặc nhiên cho rằng giáo lý chính thống là sự trình bày giáo huấn của Kinh Thánh. Trong thời hiện đại, giả định này đã bị đảo ngược. Các giáo lý cổ điển bị xem là những suy đoán triết học giả tạo, bị áp đặt lên văn bản Kinh Thánh - đó là tư duy Hy Lạp đang vận hành, chứ không phải là lối lý luận Hê-bơ-rơ của Kinh Thánh, như các học giả Đức thường nói vào cuối thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi. Phong trào Tin lành nhấn mạnh đời sống đạo đức cá nhân đã củng cố khuynh hướng này. Nó khuyến khích một cách tiếp cận mang tính trải nghiệm hơn là được hướng dẫn bởi giáo lý, vốn bị cho là dẫn đến một hình thức duy lý khô khan trong tôn giáo. Theo quan điểm của người theo chủ nghĩa đạo đức cá nhân, ý nghĩa thật của Kinh Thánh là việc nó khơi dậy những cảm xúc ấm áp về mối liên hệ mật thiết với Đức Chúa Trời. Nhà thần học vĩ đại của Đức trong thời hiện đại, Friedrich Schleiermacher (1768–1834), đã lý thuyết hóa cách tiếp cận này theo chiều hướng phù hợp với dòng tư tưởng của chủ nghĩa lãng mạn. Không lâu sau đó, các khoa thần học Tin lành (đặc biệt ở Đức) đã tiếp nhận các phương pháp mới của bình luận văn bản lịch sử, vốn được xem là cách duy nhất đáng tin cậy để xác định Kinh Thánh “thật sự có nghĩa gì.” Tất cả những yếu tố này đã góp phần tạo nên tình trạng khó xử của Cơ Đốc nhân hiện đại: mối liên hệ mật thiết giữa giáo lý và Kinh Thánh đã bị phá vỡ.
Thật sai lầm khi cho rằng chỉ có phương pháp bình luận-lịch sử là nguyên nhân của mọi nan đề. Ngay cả khi thẩm quyền của phương pháp đó đang suy giảm, quan niệm phổ biến vẫn cho rằng thần học nên được hiểu như một dạng triết học được cảm hứng tôn giáo, hơn là sự chắt lọc từ truyền thống giải nghĩa Kinh Thánh của Hội Thánh. Người ta dễ dàng hình dung một nghiên cứu sinh thần học đang đọc Emmanuel Levinas và viết luận văn về Ba Ngôi như là sự sát nhập “thể lý khác” vào trong sự sống đời đời của Đức Chúa Trời. Sự nhấn mạnh vào trải nghiệm vẫn còn mạnh mẽ, dù ngày nay thường được tô điểm bằng sắc thái luân lý. Người ta nói rằng Chúa Giê-xu khích lệ sự đồng cảm và đón nhận người xa lạ. Hoặc Ngài gieo vào lòng chúng ta sự nhiệt huyết cách mạng và khơi dậy cam kết lật đổ các cơ cấu bất công. Chính trước những xu hướng như vậy mà Lindbeck và Yeago đã sử dụng thuật ngữ “giải nghĩa thần học.” Họ tìm cách phục hồi một sự đồng thuận trước đó, một sự đồng thuận xem các giáo lý và nghi lễ của Hội Thánh là kết quả của sự giải nghĩa Kinh Thánh cách vững chắc, và vì thế tin rằng chính các giáo lý và nghi lễ ấy huấn luyện chúng ta để đọc Kinh Thánh cách đúng đắn.
Lập luận của Lindbeck và Yeago về “giải nghĩa thần học” cũng bao hàm một khẳng định mang tính lịch sử. Họ cho rằng các Cơ Đốc Nhân tiền hiện đại đã tham gia vào một công trình rộng lớn và không ngừng nghỉ: dùng giáo lý để diễn giải Kinh Thánh, và dùng Kinh Thánh để soi sáng giáo lý. Từ công trình đó đã hình thành một thế giới quan thấm đẫm Kinh Thánh - một mạng lưới phi thường gồm những suy gẫm triết học, đánh giá lịch sử, và lời khuyên luân lý, trong đó những sợi chỉ vàng của ngôn ngữ Kinh Thánh đan xen khắp nơi. Dù có thể thiếu sót ở chi tiết này hay ở điểm kia, mạng lưới được dệt nên từ việc giải nghĩa vẫn lành mạnh. Vì vậy, “diễn giải thần học” không phải là một phương pháp. Nó là một quyết định của người đọc ngày nay: chọn tin tưởng vào nguồn gốc Kinh Thánh và sự khôn ngoan Kinh Thánh trong các truyền thống của Hội Thánh.
Vì thế, chúng ta quay lại với những câu hỏi mà nhiều học giả Kinh Thánh đã nêu ra về diễn giải thần học. Chúng ta có nên từ bỏ những hiểu biết lịch sử và rơi vào chủ nghĩa giáo điều cứng nhắc? Liệu chúng ta có đang đọc các hệ thống thần học của mình vào trong Kinh Thánh, thay vì để Kinh Thánh định hình và hướng dẫn thần học của chúng ta? Để trả lời những câu hỏi này, tôi cần trình bày một khẳng định đáng chú ý: Cơ Đốc nhân không có lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp nhận cách tiếp cận mà Lindbeck và Yeago đã đề xuất. Khi trình bày điều này, tôi hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn khái niệm về giải nghĩa thần học. Với sự hiểu biết sâu sắc hơn, chúng ta có thể quay lại với những phản biện và mối quan tâm được nêu ra bởi các nhà phê bình - những người thường thân thiện nhưng đầy trăn trở - và đưa ra một vài lời hồi đáp.
Chúng ta hãy bắt đầu với một khẳng định đơn giản và khá hiển nhiên: Hội Thánh thật của Chúa Giê-xu Christ rao giảng Phúc Âm của Chúa Giê-xu Christ. Khẳng định này dẫn đến điều tôi gọi là “giả định về sự tương hợp.” Nếu Kinh Thánh dạy điều gì đó mà chúng ta xem là cốt lõi của Phúc Âm, thì chúng ta tin rằng giáo huấn của Hội Thánh cũng phải tương đồng về bản chất. Điều ngược lại cũng đúng: nếu Hội Thánh dạy điều gì đó như là chân lý cứu rỗi, thì chúng ta giả định rằng Kinh Thánh cũng dạy như vậy. Đơn giản là thế: điều Kinh Thánh phán phải tương hợp với điều Hội Thánh công bố.
Giả định này có vẻ khó chấp nhận. Vì vậy, tôi xin trình bày lập luận về sự tương hợp một cách chính xác hơn. Dựa trên giả định rằng Hội Thánh thật của Đấng Christ rao giảng Phúc Âm của Đấng Christ như được làm chứng trong Kinh Thánh, chúng ta giả định rằng việc giải nghĩa Kinh Thánh của chúng ta phải phù hợp với điều mà chúng ta xem là giáo lý chính thống. Và nếu điều đó không xảy ra (và sự bất tương hợp chắc chắn có thể xảy ra), thì chúng ta kết luận rằng hoặc cách giải nghĩa của chúng ta là sai lầm, hoặc điều mà chúng ta tưởng là giáo lý chính thống thực ra không phải là chính thống. Tôi không thấy có khả năng thứ ba dành cho người tin kính. Dù theo cách nào, giáo lý chân thật và sự giải nghĩa đúng đắn phải tương hợp với nhau.
Nhưng còn những giáo huấn của Hội Thánh không được tìm thấy trong Kinh Thánh thì sao? Chẳng hạn, Giáo Hội Công Giáo đưa ra các nguyên tắc về chiến tranh chính nghĩa, tuyên bố rằng sự sống bắt đầu từ lúc thụ thai, và cấm sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo. Không có giáo huấn nào trong số này được tìm thấy trong Kinh Thánh, ít nhất là không một cách trực tiếp. Giáo Hội Công Giáo thừa nhận sự thiếu nền tảng Kinh Thánh trực tiếp, và mô tả các giáo lý này là kết quả của lý trí được áp dụng đúng đắn vào các vấn đề đạo đức, chứ không phải là chân lý được mặc khải. Hoặc hãy xét đến các tuyên ngôn giáo lý về sự Thụ Thai Vô Nhiễm và sự Thăng Thiên Thân Thể của Ma-ri. Các văn kiện của Hội Thánh định nghĩa các tín điều này có viện dẫn đến các đoạn Kinh Thánh, nhưng các tín điều ấy không mang tính Kinh Thánh theo nghĩa nghiêm ngặt, ít nhất là không theo cách mà phần lớn người Tin Lành có thể chấp nhận. Một lần nữa, Giáo Hội Công Giáo cũng thừa nhận điều này. Các luận văn bảo vệ các giáo lý về sự Thụ Thai Vô Nhiễm và sự Thăng Thiên Thân Thể thường dựa vào các lý thuyết về thẩm quyền giáo huấn và sự phát triển của giáo lý để biện minh cho tính tông truyền (apostolic authority) của chúng.
Tuy vậy, một tín hữu Công Giáo được giáo huấn kỹ lưỡng vẫn tin rằng những giáo lý này, cùng với các giáo lý khác của Hội Thánh, tương hợp với dòng mạc khải rộng lớn của Kinh Thánh. Như tôi sẽ trình bày chi tiết trong phần sau, chương đầu tiên của sách Sáng-thế Ký và phần mở đầu của sách Phúc Âm Giăng cho thấy rằng Đức Chúa Trời sáng tạo bằng Lời của Ngài, nghĩa là sự sáng tạo có một logos - một trật tự. Truyền thống Công Giáo (và một số truyền thống Cơ Đốc khác) cho rằng lý trí có thể nhận biết trật tự này dưới hình thức luật tự nhiên. Giả định này có sự hỗ trợ từ Kinh Thánh. Sách Châm-ngôn làm chứng về sự hiện hữu của luật tự nhiên, cũng như nhiều phần khác trong Kinh Thánh. Cùng một cách lập luận từ toàn bộ lời chứng của Kinh Thánh cũng được áp dụng cho giáo lý về sự Thụ Thai Vô Nhiễm của Ma-ri, vốn dựa vào các tường thuật trong Cựu Ước về đền tạm nơi sự hiện diện của Đức Chúa Trời ngự trị. Giáo lý về sự Thăng Thiên Thân Thể của Ma-ri được xem là sự ứng nghiệm lời hứa của Chúa Giê-xu: “Có mấy người đứng đây sẽ không nếm sự chết” (Ma-thi-ơ 16:28), và lời chứng của Gióp: “Trong xác thịt tôi sẽ thấy Đức Chúa Trời” (Gióp 19:26).
Những gợi ý ngắn gọn này chưa thể trình bày đầy đủ các lập luận bênh vực cho những giáo lý Công Giáo ấy. Để làm rõ toàn bộ vấn đề sẽ cần đến những luận văn dài. Nhưng tôi không nhằm thuyết phục người đọc. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng các tuyên ngôn tín lý của Công Giáo về những giáo lý và giáo huấn này đều giả định rằng chúng tương hợp với Kinh Thánh. Ngay cả các tuyên ngôn tín lý của Công Giáo về thẩm quyền giáo huấn - tức là khẳng định rằng các giáo lý về Ma-ri là mang tính tông truyền vì được Hội Thánh tuyên bố như vậy - cũng phản ánh sự viện dẫn đến Kinh Thánh, vì lập luận của Công Giáo về thẩm quyền của Hội Thánh được củng cố bởi nhiều lập luận giải nghĩa Kinh Thánh cho thấy vai trò ưu tiên của Phi-e-rơ.
Việc liên tục quay về với Kinh Thánh như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên. Dù chúng ta diễn đạt hay hình dung thẩm quyền của mạc khải Kinh Thánh theo cách nào, dù chúng ta sử dụng mô hình giáo hội học nào để mô tả tính tông truyền của Hội Thánh, thì hầu hết người tin Chúa đều chấp nhận giả định về sự tương hợp. Chúng ta mặc nhiên tin rằng sự đáng tin cậy tối thượng của Kinh Thánh như là Lời của Đức Chúa Trời phải ăn khớp với giáo lý và sự giảng dạy của Hội Thánh, với thực hành nghi lễ phụng vụ và với lời khuyên luân lý. Mạc khải và sự công bố cần phải đồng điệu với nhau.
Giả định về sự tương hợp được vận hành một cách công khai trong các truyền thống tín điều của các Hội Thánh ở phương Tây. Công Đồng Trent, chẳng hạn, đã đặt sự nguy hại của việc phán đoán cá nhân (mà họ cáo buộc người Tin Lành đã thực hành) đối lập với con đường giải nghĩa đúng đắn được hướng dẫn bởi “Hội Thánh Mẹ thánh.” Đối với các giám mục tại Trent, thật không thể chấp nhận được khi các cá nhân tự ý đưa ra cách đọc Kinh Thánh trái ngược với những điều đã được truyền thống Hội Thánh xác lập. Vì vậy, để ngăn ngừa khả năng xảy ra sự bất tương hợp giữa việc giải nghĩa Kinh Thánh và giáo huấn của Hội Thánh, công đồng đã đưa ra một định nghĩa quan trọng về thẩm quyền giáo huấn sau thời kỳ Cải Chánh. Chúng ta đọc thấy rằng: “Hội Thánh có đặc quyền để phán xét ý nghĩa thật và sự giải nghĩa đúng đắn của Kinh Thánh thánh.” Khẳng định về thẩm quyền giáo hội đối với việc giải nghĩa Kinh Thánh này có một mục đích rõ ràng - đó là nhằm bảo đảm sự tương hợp.
Công Đồng Vatican I và II đã lặp lại cùng một khái niệm về thẩm quyền giáo huấn. Văn kiện “Dogmatic Constitution on the Catholic Faith” (Hiến chế Tín lý về Đức Tin Công Giáo, Dei Filius) của Vatican I tuyên bố như sau:
“Vì sắc lệnh về việc giải nghĩa Kinh Thánh thánh, được công đồng Trent ban hành cách hữu ích nhằm hạn chế những suy đoán liều lĩnh, đã bị một số người hiểu sai, chúng tôi tái xác nhận sắc lệnh đó và tuyên bố ý nghĩa của nó như sau: rằng trong các vấn đề thuộc về đức tin và đạo đức, vốn liên quan đến việc thiết lập giáo lý Cơ Đốc, thì ý nghĩa của Kinh Thánh thánh phải được giữ là ý nghĩa chân thật, điều mà Hội Thánh mẹ thánh đã giữ và đang giữ, bởi vì Hội Thánh có quyền phán xét ý nghĩa chân thật và sự giải nghĩa đúng đắn của Kinh Thánh thánh.”
Công đồng Vatican II, qua văn kiện “Dogmatic Constitution on Divine Revelation” (Hiến chế Tín lý về Mạc khải Thiên thượng, Dei Verbum), trình bày một cách tiếp cận rộng hơn, linh hoạt hơn và phức tạp hơn về vai trò và cách giải thích Kinh Thánh trong đời sống Hội Thánh. Trong một sự điều chỉnh quan trọng đối với các tuyên bố trước đó - những tuyên bố dễ gây ấn tượng rằng giáo quyền có thẩm quyền cao hơn Kinh Thánh - Vatican II khẳng định: “Chức vụ giảng dạy này không ở trên lời của Đức Chúa Trời, nhưng phục vụ lời ấy, chỉ giảng dạy những gì đã được truyền lại, lắng nghe lời cách thành kính, gìn giữ lời cách cẩn trọng và giải thích lời cách trung tín theo sự ủy nhiệm từ Đức Chúa Trời và với sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh.” Tuy nhiên, khẳng định về thẩm quyền giải nghĩa vẫn được giữ nguyên: “Nhiệm vụ giải thích cách xác thực lời của Đức Chúa Trời… đã được giao phó cách độc quyền cho chức vụ giảng dạy sống động của Hội Thánh, mà thẩm quyền được thi hành trong danh Chúa Giê-xu Christ.”
Người ta có thể đưa ra vô số phản đối đối với cách tiếp cận của Công giáo trong việc giải nghĩa Kinh Thánh, cho rằng đó là độc đoán, phi lịch sử, không phù hợp với Kinh Thánh, v.v. Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng Công giáo giả định sự tương hợp. Bằng cách quy định rõ ràng rằng chỉ có Hội Thánh mới có quyền phán đoán đúng đắn ý nghĩa của Kinh Thánh, Giáo hội Công giáo tìm cách bảo đảm điều mà hầu hết các tín hữu đều cho là đúng: sự tương hợp chặt chẽ giữa giáo lý Hội Thánh và lời Kinh Thánh.
Các văn kiện tín lý Tin lành bác bỏ nhiều giáo lý Công giáo, nhưng không bác bỏ giả định về sự tương hợp. Tài liệu Lutheran Formula of Concord mở đầu bằng nguyên tắc Tin lành sola scriptura. “Chúng tôi tin, giảng dạy và xưng nhận,” tài liệu này tuyên bố, “rằng quy tắc duy nhất và nguyên tắc hướng dẫn theo đó mọi giáo lý và giáo sư phải được đánh giá và phán xét là các bản văn tiên tri và sứ đồ của Cựu Ước và Tân Ước mà thôi.” Trong truyền thống Cải chánh, Westminster Confession nhấn mạnh sự cần thiết của sự soi sáng từ Đức Thánh Linh, cũng như vai trò của lý trí tự nhiên trong các cân nhắc thực tiễn về trật tự Hội Thánh. Nhưng nguyên tắc cơ bản vẫn không thay đổi: “Thẩm phán Tối cao, qua đó mọi tranh luận về tôn giáo phải được phân xử, và mọi sắc lệnh của các công đồng, ý kiến của các văn sĩ cổ, giáo lý của loài người, và linh cảm cá nhân phải được xét đoán, và trong phán quyết của Ngài chúng ta phải yên nghỉ, không ai khác ngoài Đức Thánh Linh phán qua Kinh Thánh.”
Các văn kiện của thời Cải chánh bắt đầu từ một điểm đối lập, nhấn mạnh thẩm quyền của Kinh Thánh hơn là của Hội Thánh. Tuy nhiên, các tuyên xưng tín lý nền tảng của Tin lành cuối cùng vẫn khẳng định giả định về sự tương hợp giữa giáo lý và Kinh Thánh - giống như Công đồng Trent và hai Công đồng Vatican hiện đại. Người theo Lutheran và người theo Calvin chủ trương rằng giáo lý Hội Thánh phải phù hợp với điều Kinh Thánh dạy, trong khi người Công giáo lại cho rằng cách chúng ta hiểu Kinh Thánh phải phù hợp với giáo lý Hội Thánh. Hai bên trong cuộc tranh luận lớn của thời Cải chánh về thẩm quyền Hội Thánh và nguyên tắc sola scriptura khác biệt rõ rệt trong việc chọn điểm khởi đầu: giải nghĩa Kinh Thánh hay thẩm quyền Hội Thánh (dù sự khác biệt ấy có thể không lớn như người ta thường nghĩ, như truyền thống Lutheran thuộc Missouri Synod vốn không khuyến khích việc đọc Kinh Thánh mà không có sự hướng dẫn của mục sư cho thấy). Nhưng hãy tạm gác lại sự khác biệt quan trọng đó để nhận thấy một điểm đồng thuận còn quan trọng hơn: cả Tin lành lẫn Công giáo đều đồng ý rằng ý nghĩa chân thật của Kinh Thánh và sự công bố của Hội Thánh cùng làm chứng cho một chân lý duy nhất.
Giả định về sự tương hợp này ăn sâu vào căn tính Cơ Đốc đến nỗi ngay cả những người Tin lành “chỉ tin Kinh Thánh” và phi tín lý cũng chấp nhận nó. Các Hội Thánh Kinh Thánh (Bible church) phi hệ phái bác bỏ các công cụ như các bài tín điều, khẳng định rằng chỉ Kinh Thánh mới là tiêu chuẩn của chân lý. Họ xem các tín điều là tài liệu do con người tạo ra, cản trở sự tương hợp trọn vẹn giữa việc giải nghĩa Kinh Thánh và giáo lý Hội Thánh. Họ lập luận rằng chúng ta không nên theo đuổi hai công việc riêng biệt - một bên là giải nghĩa Kinh Thánh, bên kia là xây dựng giáo lý. Cả hai phải là một trong sự “giảng Kinh Thánh” thánh khiết. Vì vậy, dù có những tranh luận gay gắt về thẩm quyền Hội Thánh, văn kiện tín lý, lý thuyết về sự vô ngộ, hay phương pháp giải nghĩa, thì từ người Công giáo cực đoan nhất đến người Tin lành phản tín lý nhất, giả định về sự tương hợp không phải là điều gây tranh cãi. Trái lại, đó là điểm đồng thuận lớn mà quanh đó các cuộc tranh luận thần học xoay vòng.
Điều này đưa chúng ta trở lại với khái niệm giải nghĩa thần học như Lindbeck và Yeago đã trình bày. Đây là một cách tiếp cận Kinh Thánh không làm gì khác ngoài việc giả định điều mà hầu hết tín hữu đều giả định: giáo lý Hội Thánh tương hợp với điều Kinh Thánh dạy. Giả định này không loại trừ các câu hỏi lịch sử, cũng không loại trừ các câu hỏi triết học. Nhưng nó thiết lập một tiêu chuẩn cho việc giải nghĩa Kinh Thánh. Nói cách đơn giản, nếu chúng ta tin rằng giáo lý Hội Thánh là đúng, thì dù nghiên cứu của chúng ta có rộng đến đâu và phương pháp có đa dạng thế nào, chúng ta vẫn phải thực hiện công việc giải nghĩa dưới giả định rằng cách đọc đúng Kinh Thánh - dù không xác nhận từng chi tiết - vẫn tương hợp với giáo lý. Và nếu chúng ta không nhận ra được ít nhất một mức độ tương hợp nào đó, thì chúng ta biết mình đang đối diện với một vấn đề cần giải quyết. Hoặc chúng ta cần quay lại với việc giải nghĩa và suy nghĩ lại về ý nghĩa của đoạn Kinh Thánh đang nghiên cứu, hoặc chúng ta cần học thêm về thần học và lịch sử Hội Thánh để bảo đảm rằng mình hiểu đúng các giáo lý của Hội Thánh.
Tôi cảm nhận được sự không hài lòng của người đọc. Tôi đã trình bày giả định về sự tương hợp trong nhiều bối cảnh học thuật và Hội Thánh. Và tôi luôn gặp phải sự phản kháng. Chẳng phải việc giải nghĩa Kinh Thánh nên khách quan, không bị chi phối bởi giáo điều sao? Chúng ta chẳng phải mong muốn những người giải nghĩa được tự do hành động, theo sát văn bản Kinh Thánh dẫn dắt, thay vì làm việc dựa trên những “giả định” sao? Chẳng phải cách tiếp cận này là bước thụt lùi, đưa chúng ta trở lại thời tiền hiện đại khi các nhà lãnh đạo Hội Thánh tìm cách kiểm soát việc nghiên cứu lịch sử một cách cứng nhắc? Những câu hỏi như thế cứ tiếp diễn, đôi khi kéo dài đến tận khuya.
Chúng ta cần suy ngẫm về sự cấp bách mà mình cảm nhận khi đối diện với các câu hỏi liên quan đến việc giải nghĩa Kinh Thánh - một sự cấp bách sinh ra nỗi lo lắng sâu sắc về phương pháp giải nghĩa. Người ta không tranh cãi gay gắt về cách giải thích Shakespeare. Những cuộc xung đột dữ dội về cách giải nghĩa tác phẩm Iliad không ảnh hưởng đến đức tin của hàng triệu người, như cuộc tranh luận lớn về thẩm quyền Kinh Thánh trong Southern Baptist Convention vào thập niên 1980 đã từng làm. Không có Bart Ehrman nào viết sách nhằm chứng minh cho người hâm mộ Jane Austen rằng họ đã bị dẫn dắt sai lệch trong cách hiểu nữ văn sĩ này. Chúng ta không nên ngạc nhiên trước những khác biệt ấy, vì Kinh Thánh không phải là một quyển sách bình thường. Nó có thẩm quyền - không chỉ đối với hơn hai tỷ tín hữu trên toàn thế giới, mà còn đối với nền văn hóa phương Tây, nơi từng xem Kinh Thánh là quyển sách của mọi sách. Với quá nhiều điều hệ trọng, thật khó để suy nghĩ cách sáng suốt.
Nhưng chúng ta phải cố gắng.
Cho phép tôi nêu ra một nguyên tắc lý luận không gây tranh cãi: chúng ta nên dùng điều rõ ràng để hiểu điều mơ hồ. Chúng ta không cần phải gắng sức để giải nghĩa những đoạn văn dễ hiểu. Ý nghĩa của chúng dường như hiển nhiên; chúng tự nói lên điều chúng muốn nói. Nhưng khi chúng ta không chắc về điều gì đó, thì cần đem sự không chắc chắn ấy ra ánh sáng của những điều chúng ta đã xác tín. Để tránh giáo điều, chúng ta diễn đạt điều chưa rõ bằng những gì chúng ta tin là rõ ràng hơn. Chẳng hạn, nếu chúng ta tin chắc rằng Đức Chúa Trời không tồn tại, thì tự nhiên chúng ta sẽ giải nghĩa Kinh Thánh theo hướng thuần túy lịch sử, xem Cựu Ước như một dự án văn hóa - chính trị của tôn giáo Israel cổ đại - một dự án nhằm hợp pháp hóa quyền lực của giới tế lễ và hoàng gia. Hoặc nếu chúng ta cho rằng chế độ gia trưởng là yếu tố định hình lịch sử, thì một cách giải nghĩa Kinh Thánh theo hướng nữ quyền sẽ có lý. Điều tương tự cũng đúng với các cách đọc hậu thực dân và các phương pháp khác. Trong những cách tiếp cận này, người giải nghĩa đang dùng điều họ cho là hiển nhiên để giải nghĩa một văn bản rất cổ, thường khó hiểu - đó là Kinh Thánh. Dù bạn có ý kiến thế nào về các giả định thế tục, nữ quyền hay hậu thực dân, thì cũng cần thừa nhận rằng việc dùng điều rõ ràng để soi sáng điều mơ hồ là một quy trình bình thường.
Chính quy trình ấy cũng hướng dẫn việc giải nghĩa thần học, nhưng với một điểm khác biệt quan trọng. Không giống như các phương pháp lịch sử-phê bình, nữ quyền hay các cách tiếp cận khác, việc đọc Kinh Thánh có định hướng thần học không có một “phương pháp” cố định. Giáo lý Hội Thánh không phải là tập hợp các ý tưởng kiểu Descartes với độ rõ ràng tuyệt đối. Trái lại, Hội Thánh giảng dạy nhiều điều theo nhiều cách khác nhau. Một số giáo lý được xác định trong các tín điều; một số được phác họa trong phụng vụ; một số khác được thể hiện qua dòng chảy liên tục của sự giảng dạy và huấn luyện. Giống như Kinh Thánh, giáo lý Hội Thánh cũng cổ xưa và thường khó hiểu. Vì lý do đó, giả định về sự tương hợp không khuyến khích một cách tiếp cận cứng nhắc, theo công thức. Trái lại, nó đòi hỏi sự linh hoạt phi thường trong tư duy. Có những lúc giáo lý không rõ ràng, trong khi Kinh Thánh lại nói cách trực tiếp đầy ấn tượng. Hãy so sánh, chẳng hạn, sự rõ ràng sắc nét trong lời Chúa Giê-xu về mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Cha trong sách Phúc Âm Giăng với những khái niệm mơ hồ và khó hiểu được dùng để trình bày giáo lý Ba Ngôi. Trong trường hợp này, chúng ta được mời gọi dùng Kinh Thánh để soi sáng giáo lý, chứ không phải dùng giáo lý để giải nghĩa Kinh Thánh.
Có những lúc, giáo lý dường như mâu thuẫn với Kinh Thánh. Trong những trường hợp như vậy, khác với các phương pháp hiện đại, giả định về sự tương hợp ngăn chặn người giải nghĩa thần học khỏi kết luận vội vàng rằng hoặc Kinh Thánh hoặc giáo lý phải sai. Chúng ta được kêu gọi bước vào sự suy xét sâu xa hơn. Tôi cảm nhận được đòi hỏi này khi viết chú giải sách Sáng-thế Ký. (Tôi sẽ bàn thêm về chủ đề này trong chương 5, “Ban đầu.”) Ngay từ đầu, đã có một sự tương phản rõ rệt giữa điều Kinh Thánh nói và điều Hội Thánh giảng dạy.
Trong Sáng-thế Ký 1:2, chúng ta đọc: “Đất thì trống không và hoang vu, sự tối tăm bao phủ vực sâu, và thần của Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.” Một số học giả Kinh Thánh hiện đại trình bày chi tiết về mối liên hệ giữa câu này và huyền thoại sáng thế Babylon, Enuma Elish. Dựa trên những liên hệ đó, họ kết luận rằng trong bối cảnh nguyên thủy, sách Sáng-thế Ký được hiểu như đang dạy rằng Đức Chúa Trời đã chế ngự hoặc định hình một hỗn mang có sẵn. Nhưng giáo lý lại nói khác. Cả người Do Thái lẫn người Cơ Đốc từ lâu đã đồng thuận rằng Đức Chúa Trời sáng tạo từ hư không - creatio ex nihilo. Với giả định về sự tương hợp, vấn đề trở nên rõ ràng: điều Kinh Thánh dường như nói trong Sáng-thế Ký 1:2 và điều Hội Thánh giảng dạy không hài hòa mà trái ngược nhau.
Đôi khi, mâu thuẫn thật sự là mâu thuẫn. Nhưng cũng có lúc, nghiên cứu và suy xét sâu hơn lại cho thấy điều ngược lại. Trong công việc của chính tôi, tôi buộc phải đặt lại vấn đề với những giả định của mình. Tôi đã vô thức cho rằng tường thuật sáng thế trong sách Sáng-thế Ký là nguồn gốc của giáo lý cổ điển về sự sáng tạo, nhưng cách giải nghĩa theo hướng lịch sử-phê bình hiện đại lại cho thấy điều đó không đúng. Nhưng nếu những câu đầu tiên của sách Sáng-thế Ký không hỗ trợ cho giáo lý sáng tạo từ hư không, thì làm sao người Do Thái và Cơ Đốc nhân thời xưa lại giảng dạy như vậy? Giả định về sự tương hợp ngăn cản kết luận dễ dãi - rất phổ biến trong giới độc giả hiện đại - rằng giáo lý Hội Thánh không phù hợp với Kinh Thánh. Tôi buộc phải dấn thân vào công việc giải nghĩa với nỗ lực gấp đôi.
Bước đầu tiên của tôi là bảo đảm rằng mình thật sự hiểu giáo lý creatio ex nihilo. Để tìm sự giúp đỡ, tôi tìm đến sách The God of Faith and Reason của Robert Sokolowski. Điều này dẫn đến khám phá rằng trọng tâm chính của giáo lý ấy là siêu hình học: không có gì ngoài Đức Chúa Trời chân thật duy nhất và mọi vật Ngài đã dựng nên. Nói cách khác, giáo lý sáng tạo từ hư không thúc đẩy điều có thể gọi là “sự tiết kiệm bản thể” (ontological parsimony). Khi nói đến thực tại, người Cơ Đốc và người Do Thái rất dè sẻn. Họ giới hạn thực tại thuộc về Đức Chúa Trời, trong khi gán cho thực tại được dựng nên một sự hữu hạn nghiêm ngặt. Sự tiết kiệm này tương phản với quan điểm Neoplaton kiểu rococo, vốn cho phép nhiều tầng lớp và mức độ thực tại tuôn ra từ một nguồn thần linh duy nhất.
Với khái niệm “sự tiết kiệm bản thể” trong tâm trí, tôi quay lại với Kinh Thánh và khám phá rằng cuộc tranh luận rộng khắp trong Cựu Ước chống lại sự thờ hình tượng chính là nền tảng Kinh Thánh thật sự cho giáo lý sáng tạo từ hư không. Các hình tượng không phải là yếu ớt, vô hiệu hay thiếu sót; chúng là trống rỗng và vô sinh khí. “Các hình tượng giống như hình nộm,” chúng ta đọc trong sách Giê-rê-mi; “chúng không làm điều ác, cũng không có khả năng làm điều lành” (Giê-rê-mi 10:5). Tân Ước tiếp tục giữ quan điểm ấy. Sứ đồ Phao-lô giải thích sự vô ích của hình tượng bằng cách nhấn mạnh sự độc nhất trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời (Công-vụ 14:15; 17:24). Các hình tượng là vô dụng và trống rỗng, như lẽ phải thế, vì sự tiết kiệm bản thể trong giáo lý sáng tạo từ hư không phủ nhận sự tồn tại của các thực thể trung gian, bán thần, vốn có thể truyền năng lực cho chúng. Đó là lý do Phao-lô không hề bối rối trước việc một số tín hữu ăn thịt đã dâng cho hình tượng; chúng không có năng lực tà ác nào cả (1 Cô-rinh-tô 8:4–6). Với toàn bộ chứng cứ Kinh Thánh, thật tự nhiên khi thấy rằng vấn đề hình tượng chính là trọng tâm trong 2 Maccabees 7:28 - đoạn duy nhất trong Cựu Ước (trong Kinh Thánh Công giáo) khẳng định rõ ràng giáo lý sáng tạo từ hư không.
Và trong quá trình khảo sát giáo lý creatio ex nihilo, tôi khám phá ra nhiều điều hơn vai trò trung tâm của chiến dịch Kinh Thánh chống lại hình tượng. Sự tiết kiệm bản thể có ảnh hưởng đến nhiều vấn đề rộng lớn. Tính thuyết phục trong các tường thuật Kinh Thánh về hành động của Đức Chúa Trời trong lịch sử dường như đòi hỏi những giả định siêu hình mà chúng ta thấy trong giáo lý sáng tạo từ hư không. Điều này cũng đúng với sự hiệp nhất đầy bất ngờ giữa mục đích phổ quát của Đức Chúa Trời và tính đặc thù của lịch sử nhân loại - một lịch sử bắt đầu với sự kêu gọi Áp-ra-ham và đạt đến cao trào trong Giăng 1:14: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta.”
Với sự hiểu biết mới mẻ về nguồn gốc và hệ quả của creatio ex nihilo, tôi có thể quay lại với Sáng-thế Ký 1:2 với nhận thức rõ ràng hơn về điều đang được đặt ra. Lần đầu tiên tôi thấy được mối liên hệ giữa câu này và cách hiểu theo Augustine về quyền lực tiêu hủy, phủ nhận, và làm tan biến của điều ác. Quan điểm xem điều ác như sự hư vô cho phép chúng ta nghe lời phán của Đức Chúa Trời, “Hãy có sự sáng” (Sáng-thế Ký 1:3), như một lời cứu chuộc vang vọng trong Phục-truyền Luật-lệ Ký, nơi Môi-se liên tục khuyên dân Y-sơ-ra-ên chọn sự sống thay vì sự chết. Và mối liên hệ giữa sự sáng và sự sống được làm rõ trong sách Phúc Âm Giăng. Đấng Christ là sự sáng và sự sống, và Ngài ở cùng Đức Chúa Trời “trong lúc ban đầu,” đặt nền móng sâu xa cho công cuộc sáng tạo.
Tôi có thể đưa ra nhiều ví dụ khác từ công việc giải nghĩa Kinh Thánh của mình, cũng như từ những người khác khi họ viết chú giải trong loạt sách Brazos Theological Commentary on the Bible. Khi Sáng-thế Ký 17:7 quy định rằng giao ước cắt bì là giao ước đời đời, người đọc Cơ Đốc ngay lập tức nghĩ đến Ga-la-ti 5:2, nơi Phao-lô nói: “Nếu anh em chịu phép cắt bì, thì Chúa Giê-xu sẽ không ích gì cho anh em.” Đây là hai đoạn Kinh Thánh tương đối rõ ràng nhưng lại khó hòa giải. Điều này thúc đẩy tôi tìm cách giải thích làm thế nào sự bác bỏ phép cắt bì của Phao-lô lại có thể phù hợp với sự khẳng định vai trò đời đời của nó trong chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đó là một cách giải thích đòi hỏi khá nhiều suy gẫm thần học.
Hoặc hãy xem một ví dụ từ chú giải của Robert Jenson về sách Ê-xê-chi-ên, cũng thuộc loạt sách Brazos. Cuối chương 22, chúng ta đọc rằng Đức Chúa Trời đang tấn công Giê-ru-sa-lem, đồng thời tìm kiếm một người công chính để đứng trong chỗ sứt mẻ và bảo vệ thành khỏi cuộc tấn công do chính Ngài sắp đặt. Điều này dường như vô cùng khó hiểu. Đức Chúa Trời đang ở bên ngoài thành, thúc đẩy cuộc tấn công? Hay Ngài đang ở bên trong, tìm cách cứu dân yêu dấu của Ngài? Vai trò kép này không được giải quyết một cách đơn giản, mà được làm rõ và minh bạch, theo Jenson, trong sự chịu đóng đinh và sự sống lại của Chúa Giê-xu - nơi Đức Chúa Trời vừa là Đấng phán xét, vừa là Đấng bị phán xét.
Điều tôi muốn nói không phải là biện hộ cho tính thuyết phục của những cách giải nghĩa này. Có thể chúng sai lầm. Hoặc có thể chúng đi quá xa - hoặc chưa đi đủ xa. Việc đánh giá mức độ thích hợp của những cách đọc ấy là dành cho người khác. Mục đích của tôi là minh họa một vài cách mà giả định về sự tương hợp thúc đẩy một lối giải nghĩa linh hoạt và uyển chuyển, thay vì áp đặt những cách hiểu có sẵn lên Kinh Thánh. Những xung đột rõ ràng giữa giáo lý và Kinh Thánh tạo nên những câu hỏi giải nghĩa đầy hứng thú. Sự rõ ràng của Kinh Thánh có thể soi sáng những huyền nhiệm của đức tin được định nghĩa bởi giáo lý, trong khi ở những lúc khác, giáo điều cổ điển lại có thể chỉ ra hướng giải quyết cho những mâu thuẫn nội tại trong Kinh Thánh tưởng chừng như không thể hóa giải.
Một lần nữa, mục tiêu của tôi lúc này không phải là bảo vệ bất kỳ lập luận giải nghĩa cụ thể nào. Điều tôi muốn nhấn mạnh là khẳng định trung tâm của việc giải nghĩa thần học - giả định về sự tương hợp - là điều sinh ra ích lợi, không phải là điều làm tê liệt. Khi chúng ta cho phép giáo lý Hội Thánh và sự công bố Kinh Thánh cùng chia sẻ một tuyên bố chung về chân lý, thì những khác biệt rõ ràng và những điểm khó hiểu sẽ tự nhiên thúc đẩy tâm trí chúng ta và lôi kéo chúng ta xây dựng những lập luận đan xen giữa phân tích thần học và Kinh Thánh. Chính sự đan xen này là công việc mà Lindbeck và Yeago cho rằng đã định hình truyền thống Cơ Đốc ngay từ ban đầu.
Mọi nỗ lực giải nghĩa đều nhằm nói lên điều gì đó đúng đắn về văn bản đang được khảo sát, và đó là lý do tại sao các truyền thống của chúng ta chấp nhận giả định về sự tương hợp. Dĩ nhiên, những chân lý ấy không nhất thiết phải mang tính thần học. Chúng có thể là ngữ nghĩa học, bình luận văn bản, bình luận hình thái, lịch sử, đạo đức, hoặc chính trị. Nhưng dù bằng cách nào, chúng ta thực hiện việc giải nghĩa trong bối cảnh của một nền kinh tế chân lý. Nền kinh tế ấy có thể bị giới hạn và mang tính đặc thù. Chúng ta theo đuổi phân tích ngữ nghĩa học dựa trên những giả định hướng dẫn về cách ngữ pháp vận hành và ngôn ngữ phát triển—một nền kinh tế chân lý ngôn ngữ, có thể nói như vậy. Những giả định này mang tính quyết định đối với một nhà ngữ nghĩa học. Nhưng chúng không bao trùm tất cả. Ví dụ, tôi nghi ngờ rằng các lập luận trong lĩnh vực ngữ nghĩa học tiếng Hê-bơ-rơ thay đổi nhiều tùy theo việc người ta là một nhà Platon cổ đại, một nhà Aristote trung cổ, hay một nhà thực nghiệm hiện đại.
Chủ nghĩa bất khả tri siêu hình (metaphysical agnosticism) suy giảm khi chúng ta phát triển các lập luận giải nghĩa quy mô lớn hơn. Những suy đoán đầy tham vọng của bình luận lịch sử hiện đại thường dựa trên các giả định không được nói ra về cách lịch sử và văn hóa nhân loại diễn tiến. Ví dụ, giả thuyết J và P trong cách giải nghĩa hiện đại về Cựu Ước nhận được sự ủng hộ đáng kể và thuyết phục từ các chi tiết văn bản trong Ngũ Kinh, đặc biệt là trong các cách diễn đạt khác nhau dùng để chỉ Đức Chúa Trời (Yahweh so với Elohim). Theo nhận định của tôi, sự tồn tại của J (Yahweh) và P (Elohim) cùng các mạch văn bản khác trong năm sách đầu tiên của Kinh Thánh là điều không thể phủ nhận. Nhưng các học giả hiện đại không dừng lại ở đó. Họ sử dụng bình luận biên tập (suy đoán về các điều kiện mà văn bản được sáng tác và kết hợp trong quá trình biên tập) để suy đoán về ý nghĩa của sự pha trộn giữa các mạch J và P. Cách tiếp cận này phụ thuộc vào các lý thuyết về truyền thống và sự phát triển lịch sử, và các lý thuyết ấy lại phụ thuộc vào một nền siêu hình học ngầm định. Vai trò của chân trời siêu hình học trong việc giải nghĩa càng rõ ràng hơn khi các học giả Tân Ước quy định rằng họ phải giả định rằng phép lạ và lời tiên tri không thể xảy ra. Giả định này rõ ràng mang tính siêu hình, vì nó quy định điều gì có thể và không thể xảy ra. Và nó dẫn họ đến kết luận rằng các bản tường thuật trong các sách Phúc Âm về lời tiên tri của Chúa Giê-xu về sự hủy diệt đền thờ đã được biên soạn sau sự kiện, cung cấp bằng chứng quyết định cho việc xác định tác giả sau năm 70 Công nguyên.
Cố gắng giải nghĩa bất kỳ văn bản nào mà không dựa vào một chân trời siêu hình học thì chẳng khác nào cố đi mà không có chân, hoặc cố nhìn mà không có mắt. Phần lớn thời gian, chúng ta không bận tâm đến sự cần thiết của các giả định nền tảng. Chẳng hạn, một buổi hội thảo về cuốn The Protocols of the Elders of Zion có thể tìm cách nhận diện lý do và phương pháp hình thành văn bản ấy, cũng như đánh giá ảnh hưởng của nó. Những cách tiếp cận như vậy hứa hẹn đem lại những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa bài Do Thái và các mưu đồ của một nhà nước cảnh sát hiện đại, chưa kể đến sự băng hoại của lòng người. Một giáo sư giỏi biết cách khai mở những hiểu biết ấy bằng cách đặt câu hỏi và giải nghĩa trong ánh sáng của một nền kinh tế chân lý. Có thể vị giáo sư ấy giả định một số điều về động cơ, nỗi sợ hãi, và những tưởng tượng của con người. Hoặc có thể ông ta viện dẫn đến những chân lý về dòng chảy rộng lớn của lịch sử hiện đại, hoặc về nhân tính chung của chúng ta. Sinh viên đánh giá cao kiểu lớp học như vậy, và những cuốn sách được viết theo cách ấy thường thu hút người đọc. Chúng ta mong muốn một chân trời rộng lớn hơn để giúp mình thấy được cách một cuốn sách như The Protocols of the Elders of Zion - dù đầy rẫy những điều sai trái - vẫn có thể soi sáng và mài giũa sự hiểu biết của chúng ta về điều chân thật.
Với những văn bản mà chúng ta trân quý, chúng ta trở nên lo lắng hơn về vai trò của các giả định. Dù chúng ta có thể muốn hiểu và giải nghĩa The Protocols of the Elders of Zion, chúng ta không muốn chấp nhận thế giới quan của nó. Chúng ta muốn hiểu văn bản, nhưng không muốn bị ảnh hưởng bởi nó. Do đó, chúng ta ít bận tâm đến việc liệu các giả định của mình về chân lý có chi phối cách đọc hay không. Tình hình có phần thay đổi khi chúng ta đọc Shakespeare. Bởi vì chúng ta cho rằng các vở kịch của ông chứa đựng nhiều hiểu biết sâu sắc về thân phận con người, chúng ta muốn tâm trí mình được ảnh hưởng bởi tác phẩm của ông. Chúng ta không chỉ muốn biết về Shakespeare hay hiểu ông trong ánh sáng của các giả định về văn hóa, lịch sử, và thân phận con người. Chúng ta cũng muốn suy nghĩ cùng với Shakespeare khi giải nghĩa Macbeth hay King Lear. Chúng ta muốn chân trời chân lý của mình được mở ra để có thể bị thách thức và thậm chí được điều chỉnh.
Tôi gọi cách tiếp cận này là sự quy phục trong giải nghĩa, thậm chí là sự vâng phục. Chúng ta sẵn lòng đặt The Protocols of the Elders of Zion vào trong nền kinh tế chân lý của mình. Nhưng chúng ta lại muốn các vở kịch của Shakespeare ảnh hưởng đến các giả định của mình về chân lý. Tầm quan trọng của sự quy phục trở nên cấp thiết khi một người đọc tiếp cận Kinh Thánh như là Lời của Đức Chúa Trời. Các giáo lý về sự cảm thúc và sự vô ngộ khẳng định rằng Kinh Thánh ban cho một sự khôn ngoan tối thượng, toàn diện, và siêu việt. Lời Kinh Thánh cung cấp mã lệnh chủ đạo cho toàn thể thực tại, và những người giải nghĩa trung tín hoàn toàn đúng khi mong muốn nền kinh tế chân lý của mình phải mang tính Kinh Thánh. Nói cách đơn giản, là những Cơ Đốc nhân trung tín, chúng ta mong có sự xác tín rằng chân trời siêu hình mà chúng ta dùng để định khung cho việc giải nghĩa Kinh Thánh chính là chân trời có nội dung Kinh Thánh.
Về phương diện này, dù có nói rõ hay không, hầu hết các tín hữu đều khẳng định nguyên tắc sola scriptura. Chẳng hạn, nhiều học giả Kinh Thánh hiện đại muốn hoạt động như những nhà giải nghĩa Cơ Đốc thường viện dẫn giáo lý về sự nhập thể như là cơ sở cho phân tích lịch sử của họ. Họ đang khẳng định một nền tảng Kinh Thánh cho chân trời chân lý theo hướng lịch sử hiện đại, vốn thường cung cấp các giả định nền tảng cho việc nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp bình luận-lịch sử. Theo nhận định của tôi, việc sử dụng giáo lý nhập thể để biện minh cho các giả định lịch sử của bình luận lịch sử hiện đại không đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, động cơ thì đúng đắn. Như tôi đã trình bày trong chương này, giả định về sự tương hợp khích lệ chúng ta đặt niềm tin lớn vào nội dung Kinh Thánh của giáo lý chính thống. Và điều đó là hoàn toàn hợp lý. Như Lindbeck và Yeago đã chỉ ra, truyền thống Nicene được hình thành từ một quá trình tương tác giải nghĩa lâu dài với cả Cựu Ước và Tân Ước. Điều này có nghĩa là giáo lý Hội Thánh và các giả định siêu hình của nó có thể chưa hoàn hảo và cần được cải chính, nhưng chúng luôn thấm đẫm Kinh Thánh.
Hãy xem xét, chẳng hạn, tác phẩm On First Principles, vốn là nỗ lực đầu tiên và bền bỉ của thần học Cơ Đốc mang tính suy luận và hệ thống. (Tôi sẽ bàn thêm về Origen trong chương 3.) Ngay phần mở đầu của tác phẩm này, Origen khẳng định rằng phương pháp của ông “không có nguồn nào khác ngoài chính lời và sự dạy dỗ của Đấng Christ.” Nếu chúng ta để mình bị mê hoặc bởi những giả định hẹp hòi, không thể đứng vững, và mang tính hiện đại đặc thù về cách niềm tin và tư tưởng được hình thành và liên kết, thì chúng ta có thể sai lầm khi cho rằng “nguồn” có nghĩa là được tìm thấy trực tiếp trong hoặc suy luận ra từ Kinh Thánh. Giả định này khiến lời khẳng định của Origen trở nên phi lý, vì On First Principles là một chuyên luận suy luận chịu ảnh hưởng sâu sắc từ thuyết NeoPlatonism (chủ nghĩa Tân-Platon). Tuy nhiên, nếu chúng ta gác bỏ những giả định hiện đại ấy và thay vào đó nhìn nhận thần học vĩ đại của Origen về sự sáng tạo, thời gian, thân thể, sự ác, sự cứu chuộc, và sự hoàn tất như là một cách định hình chân trời siêu hình học để giúp chúng ta đọc Kinh Thánh một cách mang tính Kinh Thánh, thì chúng ta có thể nắm bắt ý nghĩa thật sự của lời ông. “Hãy suy nghĩ về thực tại theo cách này,” Origen nên được hiểu là đang nói như vậy, “và bạn sẽ có thể bước vào sự khôn ngoan của Kinh Thánh cách trọn vẹn hơn, bởi vì bạn đang suy nghĩ theo Kinh Thánh.” Hệ thống của Origen là độc đáo, và ở nhiều phương diện là khiếm khuyết. Nhưng theo tôi, nỗ lực đầy tham vọng của ông nhằm “Kinh Thánh hóa” siêu hình học chính là đặc điểm tiêu biểu của toàn bộ truyền thống Nicene.
Truyền thống Nicene là một hệ thống phức tạp và khó kiểm soát. Tôi là người theo truyền thống thần học (theological traditionalist), nghĩa là tôi giả định rằng truyền thống này là đúng đắn. Khi nó có vẻ sai, có lẽ tôi đã hiểu sai điều nó dạy. Tuy nhiên, hoàn toàn có thể có một thái độ ít tin tưởng hơn. Giả định về sự tương hợp cho phép người ta xem truyền thống Nicene như cần được điều chỉnh bởi sự giải nghĩa Kinh Thánh. Xung lực điều chỉnh này không phải là đặc điểm riêng của các nhà Cải chánh thế kỷ mười sáu. Truyền thống Nicene nói chung nên được hiểu như một cuộc tranh luận (thường là sôi nổi) về cách tốt nhất để giải thích chân lý của mọi sự trong ánh sáng của sự dạy dỗ Kinh Thánh, thực hành Hội Thánh, và sự công bố Tin Lành - một cuộc tranh luận kéo dài qua nhiều thế hệ. Giống như mọi cuộc tranh luận quy mô lớn, liên tục, và mang tính cộng đồng, nó bao gồm những sự trình bày lại, suy xét lại, và điều chỉnh không ngừng. Nhưng ngay cả với những người nhấn mạnh đến sự cải cách liên tục, vẫn có nhiều điểm đồng thuận ổn định và bền vững trong truyền thống Nicene. Và như một nền kinh tế chân lý được định hình bởi Kinh Thánh, truyền thống này không có đối thủ. Tôi thách thức bất kỳ ai xác định được một cách tư duy về Đức Chúa Trời, lịch sử, và định mệnh con người mà vừa có ý thức siêu hình học sâu sắc hơn truyền thống Nicene, vừa được đầu tư cách liên tục và đầy đủ bằng nội dung giải nghĩa Kinh Thánh.
Chính những nỗ lực của tôi trong việc viết chú giải Kinh Thánh đã khiến tôi nhận thức rõ về sự chặt chẽ trong tư duy và sức mạnh giải nghĩa của truyền thống Nicene. Khi tôi vật lộn với vấn đề về quan điểm truyền thống đối với Đức Chúa Trời và sự sáng tạo trong mối liên hệ với những câu đầu tiên của sách Sáng-thế Ký, tôi đã bị thuyết phục bởi nguồn gốc giải nghĩa của giáo lý sáng tạo từ hư không. Là một khẳng định siêu hình học về Đức Chúa Trời và thực tại, giáo lý cổ điển này không có nền tảng trong lẽ thường hay khoa học cổ đại. (Một vấn đề trong On First Principles của Origen là ông cố giữ lại vũ trụ luận của thuyết NeoPlatonism, mà ông cho là khoa học tốt nhất thời đó.) Creatio ex nihilo không xuất phát từ khoa học, mà từ nỗ lực bền bỉ nhằm hình thành sự giản lược bản thể học được hàm ý trong lập luận Cựu Ước chống lại sự thờ hình tượng. Trong lịch sử thần học, giáo lý sáng tạo từ hư không đã cung cấp một giả định nền tảng quan trọng cho các cuộc thảo luận về sự hiện diện và hành động của Đức Chúa Trời trong lịch sử, đặc biệt là trong thân vị của Chúa Giê-xu Christ. Nếu không có một chân trời siêu hình học được định hình bởi creatio ex nihilo, thì việc đọc Kinh Thánh như một câu chuyện mạch lạc về Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên - Đấng đã khiến Chúa Giê-xu sống lại từ cõi chết - là điều rất khó khăn.
Nếu chúng ta ghi nhớ các nguồn giải nghĩa và áp lực đã thúc đẩy sự phát triển của giáo lý Nicene, chúng ta có thể nắm bắt được lý do lịch sử cho việc giải nghĩa thần học. Khi chúng ta dùng giáo lý để định hướng cho mình, để định khung các câu hỏi giải nghĩa, và để khai triển ý nghĩa của một đoạn Kinh Thánh - khi chúng ta tham gia vào công cuộc đa diện mà tôi gọi là giải nghĩa thần học (theological exegesis) - chúng ta đang sử dụng các nguồn lực trí tuệ đã được phát triển và tinh luyện nhằm mục đích suy nghĩ một cách Kinh Thánh về chính Kinh Thánh. Giả định về sự tương hợp giữa cách chúng ta đọc Kinh Thánh và cách chúng ta hiểu giáo lý Hội Thánh là điều nguyên thủy trong truyền thống Cơ Đốc. Chưa từng có thời điểm nào trong lịch sử Hội Thánh mà việc giải nghĩa và giáo lý không gắn bó với nhau trong một thực hành trí tuệ phức tạp nhưng thống nhất. Chưa từng - cho đến thời hiện đại.
Vì nhiều lý do phức tạp, các học giả Kinh Thánh đương đại cảm thấy bất an với việc giải nghĩa thần học. Dĩ nhiên, những học giả không có cam kết Cơ Đốc thì không chấp nhận ý tưởng rằng giáo lý Hội Thánh trình bày những chân lý quan trọng về Đức Chúa Trời, hay về bất cứ điều gì khác. Đối với họ, những lập luận tôi đã trình bày để biện minh cho việc giải nghĩa thần học có thể chỉ là những biểu hiện giả tạo của chủ nghĩa tôn giáo cực đoan. Tuy nhiên, ngay cả các học giả Kinh Thánh là Cơ Đốc nhân cũng vẫn cảm thấy không yên tâm với việc giải nghĩa thần học. Họ lo rằng việc đưa các mối quan tâm giáo lý vào thực hành giải nghĩa sẽ gây mất mát nhiều hơn là đem lại lợi ích. Và họ lo sợ điều gì sẽ bị mất đi? Sau khi lắng nghe và đọc các mối quan tâm của những người có đức tin, vốn cam kết với phương pháp nghiên cứu lịch sử - bình luận hiện đại, tôi nhận thấy có hai loại lo ngại. Loại thứ nhất mang tính thể chế và chính trị; loại thứ hai liên quan đến văn bản và thần học.
Trong cuốn The Bible after Babel: Historical Criticism in a Postmodern Age, John Collins định nghĩa lại cách tiếp cận hiện đại đối với nghiên cứu Kinh Thánh. Chủ nghĩa hoài nghi hậu hiện đại ngày nay đã làm suy giảm sự tin tưởng rằng các phương pháp lịch sử - bình luận có thể đưa ra những câu trả lời dứt khoát cho các câu hỏi về ý nghĩa ban đầu của các văn bản Kinh Thánh đối với người viết, người biên tập, và người đọc nguyên thủy. Tuy nhiên, như Collins ghi nhận, các quy tắc nghiên cứu lịch sử vẫn giữ tính chuẩn mực, vì chúng mang tính học thuật chứ không mang tính tín lý, dựa trên các chuẩn mực hiện đại của phân tích lịch sử, chứ không phải các nguyên tắc cổ điển của đức tin. Việc chuyển hướng khỏi giáo lý đã mở ra không gian cho sự thảo luận tự do và cởi mở. Collins nhận xét rằng bình luận lịch sử “đã tạo ra một diễn đàn nơi những người thuộc các niềm tin khác nhau có thể cùng làm việc và có những cuộc đối thoại ý nghĩa.” Một người Do Thái, một Cơ Đốc nhân, và một người vô thần có thể đồng thuận về những tiêu chí của một lập luận tốt để xác định nguồn gốc của tác giả J, chẳng hạn, hoặc bối cảnh sống (Sitz im Leben) của các Thi-thiên rủa sả. Sự đồng thuận này tạo ra một không gian thể chế trung lập cho việc nghiên cứu Kinh Thánh, cho phép đối thoại vượt qua các ranh giới tín ngưỡng.
Collins đã đúng. Phạm vi đối thoại về Kinh Thánh được mở ra nhờ các phương pháp bình luận hiện đại đã đem lại giá trị lớn. Phương pháp này không chỉ xây dựng một nền văn hóa hợp tác và học hỏi lẫn nhau giữa các học giả đến từ nhiều nền tảng khác nhau; nó còn mang lại những hiểu biết mới mẻ cho các cuộc tranh luận thần học lâu đời. Sự đồng thuận mới về Phao-lô được hình thành trong vài thập niên gần đây đã đóng vai trò quyết định trong việc vượt qua những chia rẽ giáo phái giữa truyền thống Lutheran và Công giáo La Mã - một bước đột phá đại kết (ecumenical) được thể hiện rõ trong Joint Declaration on the Doctrine of Justification, được công bố vào cuối thập niên 1990. Tôi có thể hình dung một sự đồng thuận khác, cũng quan trọng không kém, sẽ xuất hiện xoay quanh các ý tưởng Kinh Thánh về giao ước và chủ nghĩa thay thế Cơ Đốc (Christian supersessionism), khi các học giả Do Thái tham gia vào nghiên cứu Tân Ước.
Các học giả Kinh Thánh đương đại nên kiên trì trong công cuộc nghiên cứu của mình, cũng như các học giả Cơ Đốc nên tiếp tục công việc trong các lĩnh vực như tâm lý học, vật lý học, và những ngành khác góp phần vào sự hiểu biết bản thân của người Cơ Đốc. Đức tin mời gọi chúng ta tham gia vào một loạt các dự án và cuộc đối thoại trí tuệ đầy phong phú. Không có lý do gì để nghiên cứu lịch sử hiện đại và các phương pháp khác lại không tiếp tục đóng vai trò trong cách Hội Thánh đọc Kinh Thánh.
Tuy nhiên, Collins đưa ra một giả định không có cơ sở rằng nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại vốn dĩ đối nghịch với việc giải nghĩa thần học, trong khi thực tế, chỉ có tuyên bố của phương pháp lịch sử - bình luận về quyền giải nghĩa tối hậu mới mâu thuẫn với cách tiếp cận thần học. Các bài nhận xét về một số tập đầu tiên trong bộ Brazos Theological Commentary on the Bible minh họa cho giả định sai lầm này. Trong nhiều trường hợp, các nhà bình luận được đào tạo theo hướng học thuật hiện đại đã phản đối những gì họ cho là các mô hình tượng trưng giả tạo (spurious typologies) và những sự xâm nhập không chính đáng của các khẳng định về Chúa Giê-xu, cũng như xu hướng chung chuyển từ văn bản Kinh Thánh sang phân tích thần học. Thay vì tham gia vào các phương pháp phân tích này để đánh giá tính thuyết phục của chúng, các học giả Kinh Thánh thường chọn cách kiểm soát học thuật, vô thức đưa ra suy luận sai rằng vì phương pháp lịch sử - bình luận không dẫn đến việc nói điều x về sách Giô-na hay sách Tin Lành Ma-thi-ơ, thì điều x ấy không nên được nói ra.
Những lập luận tôi đã trình bày để biện minh cho việc giải nghĩa thần học trực tiếp thách thức thẩm quyền giải nghĩa tối cao mà nhiều người dành cho phương pháp bình luận văn bản hiện đại. Đây là một thách thức không thể né tránh. Trừ khi người ta bác bỏ gần như toàn bộ các hình thức giáo hội học cổ điển - dù là Tin Lành, Công giáo, hay Chính thống giáo - thì bất kỳ nỗ lực nào của một người Cơ Đốc nhằm giải thích cách đầy đủ và sau cùng điều Kinh Thánh nói đều phải tính đến sự dạy dỗ của Hội Thánh. Hơn nữa, vì truyền thống Nicene đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ việc giải nghĩa Kinh Thánh qua nhiều thế kỷ phát triển, bất kỳ ai tìm kiếm một chân trời giải nghĩa được định hình bởi Kinh Thánh đều phải đối diện với giáo lý cổ điển. Trong trường hợp này, cũng như những trường hợp khác, thần học vẫn là nữ hoàng của các ngành khoa học. Việc nghiên cứu lịch sử Kinh Thánh có vai trò chính đáng và có lẽ là cần thiết trong bối cảnh hiện đại của chúng ta. Nhưng nó không thể là đủ đối với độc giả Cơ Đốc, vì các phương pháp của nó vận hành ở một khoảng cách có chủ ý đối với điều mà những người có đức tin - dù ngầm định (Tin Lành) hay minh nhiên (Công giáo) - coi là kim chỉ nam đáng tin cậy nhất cho chân lý của Kinh Thánh: giáo lý Hội Thánh.
Mối lo ngại thứ hai liên quan đến tính đặc thù của Kinh Thánh. Việc nghiên cứu lịch sử hiện đại thường khuyến khích sự chú ý kỹ lưỡng đến chi tiết văn bản. Nó tự nhiên chống lại cách mà chân trời siêu hình học của truyền thống Nicene có thể khích lệ người đọc thần học phát triển các hướng phân tích thiên về các câu hỏi khái niệm hơn là các câu hỏi văn bản. Chẳng hạn, cách tôi đọc những câu đầu tiên của sách Sáng-thế Ký chuyển rất nhanh từ điều văn bản nói sang việc phân tích những gì hàm chứa trong giáo lý sáng tạo từ hư không. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu các học giả Kinh Thánh đương đại nhận thấy sự chuyển hướng này với sự e ngại. Mối lo ngại càng gia tăng khi tiếp cận Cựu Ước theo hướng Đấng Christ học. Các học giả Kinh Thánh lo rằng cách tiếp cận này nhảy từ Cựu Ước sang Tân Ước rồi quay lại mà không lưu tâm đến những khác biệt lớn về bối cảnh văn hóa và lịch sử. Ngay cả quyết định sử dụng hình thức cuối cùng của văn bản theo quy điển cũng có thể gây khó chịu, vì nó dường như bỏ qua thực tại đa tầng của truyền thống và biên tập vốn đã hình thành nên Kinh Thánh như chúng ta có ngày nay.
Những mối lo ngại về việc đánh mất tính đặc thù của văn bản và chiều sâu lịch sử là hoàn toàn có giá trị thần học. Kinh Thánh không phán với chúng ta bằng những giáo lý ngắn gọn. Nó không phải là một sách giáo lý được trình bày dưới hình thức tường thuật, thi ca, hay luật pháp. Trái lại, Kinh Thánh là một khu rừng rậm rạp của lịch sử và văn hóa. Nó đối diện với chúng ta bằng vô số sắc thái ngôn ngữ và cách biểu đạt. Các học giả Kinh Thánh hoàn toàn đúng khi xem việc đào tạo của họ là một sự đắm mình lâu dài trong thế giới đa diện và phong phú của Kinh Thánh. Theo lập luận của các học giả hiện đại, chúng ta đã thất bại trong việc đọc cách đầy đủ và sâu sắc nếu không bước vào vùng hoang dã gần như không có lối mòn nhưng đầy vẻ đẹp của Kinh Thánh.
Ở điểm này, tôi hoàn toàn đồng cảm, nhưng cần đưa ra một vài nhận xét mang tính cảnh báo. Trước hết, không phải lúc nào nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại cũng tránh khỏi sự trừu tượng và luôn gắn bó mật thiết với văn bản Kinh Thánh. Những nỗ lực nhằm tái dựng bối cảnh nguyên thủy của sách Xuất Ê-díp-tô Ký hoặc sách Phúc Âm Giăng thường là những công trình suy đoán phức tạp, dựa vào hàng loạt giả định xã hội học, tâm lý học, và lịch sử. Bình luận biên tập (redaction criticism) có thể bị sử dụng để phân rã các sách trong Kinh Thánh. Người ta thường thấy các học giả hiện đại dùng kỹ thuật này để gạt bỏ hơn là giải nghĩa các đoạn văn. Trên thực tế, thể loại chú giải lịch sử - bình luận hiện đại dễ dàng trở thành một khuôn mẫu hóa thạch. Nhiều bản chú giải như vậy chỉ giống như bản tóm lược các công trình học thuật gần đây, thay vì là sự tương tác mới mẻ với văn bản Kinh Thánh.
Dù những khuynh hướng ấy gây khó chịu cho những ai trân quý tính đặc thù của Kinh Thánh, vẫn còn một nguy cơ lớn hơn. Học thuật Kinh Thánh hiện đại không thể duy trì được nền tảng lý luận cho việc tập trung sâu vào văn bản theo quy điển. Như sự phát triển hiện nay của các chương trình cao học cho thấy, đối tượng nghiên cứu tự nhiên của những người gắn bó với phương pháp hiện đại không phải là Cựu Ước và Tân Ước, mà là văn hóa và tôn giáo của vùng Cận Đông cổ đại và thế giới Hy Lạp-La Mã. Tôi không phản đối sự phát triển này. Theo tôi, đó là hướng đi đúng nếu ai đó muốn theo đuổi cách tiếp cận thuần túy lịch sử đối với các văn bản cổ, và tôi tin rằng nó sẽ mang lại những hiểu biết mới đầy hứng thú. Nhưng chúng ta cần tránh ảo tưởng. Xu hướng này sẽ không thúc đẩy sự đắm mình sâu sắc vào Kinh Thánh mà nhiều người đã tưởng lầm là đặc điểm vốn có của truyền thống bình luận-lịch sử hiện đại.
Giải kinh thần học (theological exegesis) không tiếp cận Kinh Thánh bằng những cách hiểu định trước, lướt nhẹ trên bề mặt văn bản. Trái lại, điều ngược lại mới là đúng. Bởi vì giải kinh thần học giả định rằng Hội Thánh và Kinh Thánh đồng thuận với nhau, nên hệ quả là khích lệ thay vì làm gián đoạn sự quan tâm đến sắc thái, chi tiết, và tính đặc thù của văn bản. Với giả định về sự tương hợp, các phán đoán về cách đọc Kinh Thánh tất yếu sẽ ảnh hưởng đến cách chúng ta giải nghĩa giáo lý. Và ngược lại, những nỗ lực không ngừng của chúng ta trong việc hiểu truyền thống Nicene cần làm phong phú thêm cho những cách giải nghĩa Kinh Thánh vốn luôn chưa trọn vẹn. Theo tôi, hệ quả tổng thể sẽ không phải là sự áp dụng giáo lý một cách cứng nhắc vào việc giải nghĩa, cũng không phải là sự bỏ qua có hệ thống đối với tính đa dạng hữu cơ của Kinh Thánh. Lập luận tôi đưa ra cho việc giải nghĩa thần học là một sự thách thức đối với sự tự mãn, chứ không phải là sự khuyến khích nó - như tôi hy vọng các nội dung giải nghĩa trong tập sách này sẽ chứng minh cách thuyết phục. Người Cơ Đốc trung tín phải giả định sự tương hợp, điều đó là chắc chắn. Nhưng giả định không có nghĩa là đã thấy và đã giải thích. Sự tương hợp thường cần được nhận biết qua nỗ lực đáng kể. Người ta phải đi sâu hơn vào cả giáo lý lẫn Kinh Thánh để tìm ra con đường dẫn đến chân lý của Đấng Christ mà cả hai đều làm chứng.
Sau cùng, mục tiêu của việc giải nghĩa luôn là làm chứng cho chân lý mà văn bản bày tỏ. Chỉ những người mang tư tưởng hệ mới viết chú giải nhằm thúc đẩy các nhãn mác và phương pháp. Giống như Origen và Bernard of Clairvaux, Luther và Karl Barth, Rudolf Bultmann và Gerhard von Rad - và các nghiên cứu sinh đang viết các cách giải nghĩa hậu thực dân về sách Giô-suê và Các Quan Xét - những người giải nghĩa Kinh Thánh đều muốn khai mở chân lý trong Kinh Thánh, chân lý được gợi ý, được biểu thị, và được rút ra từ Kinh Thánh. Dù bạn chọn ẩn dụ hay giới từ nào, cùng với các giả định nhận thức luận hàm ẩn trong đó, thì người giải nghĩa có thể phản đối truyền thống Cơ Đốc hoặc có thể ủng hộ nó, nhưng họ luôn hướng đến việc nhìn thấy điều Kinh Thánh bày tỏ - dù được hiểu trong các phạm trù phát triển lịch sử, tương quan quyền lực, hay sự cứu rỗi trong Chúa Giê-xu.
Việc nhiều người cùng khao khát “nhìn thấy” chân lý trong Kinh Thánh, cũng như sự đa dạng, thậm chí mâu thuẫn, trong các cách giải nghĩa của vô số người tiếp cận Kinh Thánh theo những cách khác nhau, không nên khiến chúng ta ngạc nhiên. Chân lý là điều chúng ta tìm kiếm khi vận dụng tâm trí. Và điều đang chiếm lĩnh tâm trí sẽ định hình điều chúng ta thấy. Là người Cơ Đốc, chúng ta tin rằng chân lý được tìm thấy trong Kinh Thánh chính là chân lý mà chúng ta bước vào qua lễ Báp-têm, là chân lý mà chúng ta tuyên xưng trong các bài tín điều, là chân lý mà chúng ta nhận lãnh qua bánh và chén trong Tiệc Thánh. Vì vậy, giải kinh thần học không phải là một phương pháp. Nó đơn giản là một cách tiếp cận không bỏ qua chân lý được giảng từ tòa giảng và được truyền đạt trong các bài tín điều, khi chúng ta bắt đầu công việc khó khăn là cố gắng nhận biết chân lý mà Kinh Thánh bày tỏ.