Khi nhóm nòng cốt, vốn về sau trở thành Scripture Project, nhóm họp lần đầu tiên vào cuối thập niên 1990, họ đã đạt đến một sự đồng thuận. Như Ellen Davis, đồng lãnh đạo, đã tường thuật: “Nhu cầu căn bản nhất,” nhóm đồng ý, là “học lại cách đọc và giảng dạy Kinh Thánh theo lối xưng nhận đức tin trong dòng chính của Cơ Đốc giáo Bắc Mỹ và Âu Châu.” Đó là một nhận định thuyết phục, và vẫn còn được nhiều người chia sẻ, những người quan tâm đến tương lai của Cơ Đốc giáo tại phương Tây. Trong một thời gian quá lâu, thần học—được hiểu là sự hiểu biết và kỹ năng trong việc phân tích, bảo vệ, và áp dụng các tín điều của Hội Thánh—đã không tương tác cách ý nghĩa với những cách giải nghĩa hiện đại về Kinh Thánh. Cách chúng ta đọc và giảng dạy Kinh Thánh không hề định hình cách chúng ta giảng dạy đức tin và điều hướng đời sống.
Học giả Cựu Ước Walter Moberly cho rằng nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại đã tạo nên một “tình huống kỳ lạ.” Ông ghi nhận: “Làm Cơ Đốc nhân nghĩa là, ít nhất một phần, chấp nhận và tiếp nhận một số tín điều thần học cùng những khuôn mẫu sống.” Đây là mặt của sự giảng dạy trong Hội Thánh mà chúng ta giả định là phù hợp với Kinh Thánh. “Thế nhưng, công việc đọc Kinh Thánh ‘theo cách bình luận’ thường xuyên được định nghĩa chính xác là loại bỏ những tín điều và khuôn mẫu sống này ra khỏi tiến trình giải nghĩa.” Nhiều thập niên trước, Van Harvey đã nhận xét:
“Bất cứ ai giảng dạy về nguồn gốc của Cơ Đốc giáo cho sinh viên đại học hay sinh viên thần học đều không thể không bị ấn tượng bởi khoảng cách to lớn giữa điều mà tín hữu bình thường tin là lịch sử thật về Chúa Giê-xu thành Nazareth và điều mà phần lớn học giả Tân Ước đã kết luận.”
Dù bạn đặt hy vọng vào sự ảnh hưởng được phục hồi của tín điều hay sự chỉnh sửa giáo huấn Hội Thánh dưới sự hướng dẫn của học thuật Kinh Thánh hiện đại, tình hình vẫn như nhau. Thay vì sự hòa hợp, chúng ta thấy sự bất hòa. Khó có thể tưởng tượng một khủng hoảng nào căn bản hơn.
“Giải nghĩa thần học” mô tả cách đọc mà chúng ta hy vọng có thể vượt qua sự xa cách giữa “ngôn ngữ Hội Thánh” vốn được định hình bởi thần học, và “ngôn ngữ Kinh Thánh” vốn được khuyến khích bởi việc đọc kỹ Lời Chúa. Nhưng khái niệm giải nghĩa thần học thường vẫn mờ mịt. Chúng ta quá thường nghĩ rằng giải nghĩa thần học là điều gì đó tách biệt khỏi phân tích dựa trên văn bản. Trong lời tựa của loạt sách Interpretation, một trong những bộ bình luận văn bản được tham khảo rộng rãi nhất trong nửa sau thế kỷ XX, các biên tập viên cho biết rằng giải nghĩa bao gồm hai tiến trình tinh thần khác nhau. Người giải nghĩa giỏi phải “đối diện với điều văn bản nói và phân biệt ý nghĩa của nó cho đức tin và đời sống.” Trong nhiệm vụ kép này, sự phân biệt có ảnh hưởng của Krister Stendahl giữa “điều nó có nghĩa cho họ” và “điều nó có nghĩa cho chúng ta” vẫn còn vang vọng.
Vấn đề là Hội Thánh không hề công nhận một sự phân biệt như vậy. Người Cơ Đốc đọc Kinh Thánh từ xưa đã nhận biết rằng có những đoạn văn cần được giải thích ngữ pháp rõ ràng. Các giáo phụ thời kỳ đầu đã thấy rằng trong một số trường hợp, sự giải nghĩa tốt đòi hỏi phải xét đến bối cảnh lịch sử. Đôi khi, tín điều được đem ra áp dụng cách minh bạch. Lúc khác, những kết luận luân lý được rút ra và những ứng dụng cho hiện tại được thực hiện. Đối với người đọc tiền hiện đại, sự đa dạng về trọng tâm và mối quan tâm này đều vận hành trong một công việc giải nghĩa duy nhất. Họ không tìm một “ý nghĩa thần học” tách biệt khỏi “ý nghĩa lịch sử” của văn bản. Thay vào đó, Hội Thánh phân biệt giữa giải nghĩa tốt và giải nghĩa sai. Chỉ có những ý thức hệ hiện đại về ý nghĩa và lịch sử mới duy trì sự phân biệt triệt để giữa giải nghĩa thần học và các phương pháp giải nghĩa khác.
Khi ghi nhớ chứng từ của truyền thống xưa, tôi muốn thử một lần nữa mô tả loại giải nghĩa mà những người mong muốn tái hợp sự giảng dạy xưng nhận đức tin với sự giải nghĩa tốt đang tìm kiếm. Dùng thuật ngữ từ chương trước, mục tiêu của tôi là phác họa “cách đọc tốt” trông như thế nào khi chúng ta tìm cách phân biệt sự hòa hợp giữa tín điều và Kinh Thánh. Và tôi muốn theo đuổi sự trình bày này về “giải nghĩa tốt” mà không dựa vào sự đối lập giữa cách đọc “thần học” một bên, và phương pháp bình luận lịch sử phát triển trong những thế kỷ gần đây bên kia.
Tôi sẽ bắt đầu bằng việc nhắc lại mối liên hệ giữa tín điều (ý tôi không chỉ là những giáo huấn chính thức mà còn cả thực hành phụng vụ của Hội Thánh, sự hình thành luân lý, và kỷ luật thuộc linh—điều mà Moberly gọi là “khuôn mẫu sống”) và Kinh Thánh. Sau đó, tôi sẽ chuyển sang một trong những nỗ lực riêng của tôi trong việc đọc “cách thần học.” Cuối cùng, tôi sẽ đưa ra những nhận xét có tính chương trình về nghiên cứu bình luận lịch sử hiện đại và mối liên hệ của nó với sự giải nghĩa tốt mà chúng ta phải tìm kiếm như những người đọc Kinh Thánh trung tín.
Những gì tiếp theo đây lặp lại các chủ đề đã được phát triển trong chương trước. Theo tôi, điều này là cần thiết. Như tôi đã đề cập, chúng ta bị thấm nhuần quá sâu với giấc mơ tìm ra “phương pháp” đúng đến nỗi khó chấp nhận logic đơn giản của giải nghĩa thần học, vốn tạo ra kỳ vọng và đặt ra đòi hỏi cho người đọc nhưng không đưa ra một khuôn mẫu cố định hay tiêu chuẩn hình thức cho sự giải nghĩa tốt.
SAU CUỘC CẢI CHÁNH
Sau cuộc Cải chánh, việc giải nghĩa Kinh Thánh trở thành một cuộc tranh luận gay gắt, và mối liên hệ giữa tín điều và chính Kinh Thánh trở thành vấn đề gây tranh cãi thần học. Tuy nhiên, như tôi đã phác họa trong chương trước, một sự đồng thuận đã nâng đỡ các cuộc tranh luận giữa người Tin Lành và người Công giáo. Ai cũng mặc nhiên cho rằng tín điều phải hòa hợp với Kinh Thánh. Trong phần lớn thời kỳ hậu Cải chánh, Giáo hội Công giáo nhấn mạnh vào sự tương ứng gần như hoàn toàn giữa giáo huấn La Mã và Kinh Thánh được giải nghĩa đúng đắn, chỉ cho phép khả năng rằng sự giải nghĩa Kinh Thánh, cũng như tín điều, có thể phát triển hướng đến sự giải bày ngày càng đầy đủ hơn những lẽ thật đã được công nhận. Truyền thống Tin Lành, với sự quan tâm đến việc cải cách liên tục Hội Thánh, khiến cho mối liên hệ giữa tín điều và Kinh Thánh ít chặt chẽ hơn, nhưng logic nền tảng thì tương tự. Điều Kinh Thánh nói và điều Hội Thánh giảng dạy có thể chưa hoàn toàn hòa hợp ở hiện tại, nhưng chúng phải hòa hợp, và mục tiêu của cả sự giải nghĩa lẫn thần học là làm cho sự tương ứng này được tối đa.
Đây không phải là một cuốn sách về thần học đại kết, nên tôi không thể bàn đến sự khác biệt giữa quan điểm Công giáo, Lutheran, và Cải chánh về mối liên hệ giữa tín điều và sự giải nghĩa Kinh Thánh—sự khác biệt vốn xoay quanh cách các truyền thống định nghĩa thẩm quyền giảng dạy của Hội Thánh. Nhưng tôi hy vọng rằng đến lúc này, độc giả sẽ thừa nhận rằng cả Tin Lành lẫn Công giáo đều đồng ý về sự hòa hợp giữa tín điều và Kinh Thánh. Làm sao có thể khác được? Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời. Hội Thánh là thân thể của Đấng Christ. Nếu chúng ta xác nhận hai lẽ thật này, chúng ta sẽ khẳng định rằng điều Hội Thánh giảng dạy phải căn bản hòa hợp với điều Kinh Thánh nói (và nếu chưa, thì phải như vậy!). Do đó, như tôi đã lập luận trong chương đầu tiên, dù chúng ta có tranh luận gay gắt về thẩm quyền Hội Thánh, các văn kiện tín điều, lý thuyết vô ngộ, và những cách giải nghĩa cụ thể, thì giả định về sự hòa hợp này tự nó không phải là điều gây tranh cãi.
Với mối liên hệ mật thiết giữa tín điều Hội Thánh và nội dung Kinh Thánh trong tâm trí, chúng ta có thể trở lại với cuộc khủng hoảng hiện tại của đức tin được hình thành bởi Hội Thánh nhưng lại tách rời khỏi sự giải nghĩa Kinh Thánh, và suy nghĩ rõ ràng hơn. Vấn đề không phải là có một điều gọi là “thần học” chưa đủ tương tác với một điều khác gọi là “nghiên cứu Kinh Thánh.” Chúng ta không thiếu nghiên cứu liên ngành. Thay vào đó, chúng ta đang đối diện với một cuộc khủng hoảng trong chính các Hội Thánh. Chúng ta khẳng định rằng tín điều Ba Ngôi là một tín điều nền tảng—và chúng ta được bảo rằng điều đó không có trong Kinh Thánh. Chúng ta tin rằng Chúa Giê-xu Christ là Đấng Mê-si, Đấng làm trọn luật pháp và các đấng tiên tri—và chúng ta được dạy rằng đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Tân Ước là phạm luật gán ghép sai thời đại. Tôi có thể tiếp tục với nhiều ví dụ khác, nhưng tất cả chúng ta đều biết sự vấp phạm: điều các Hội Thánh giảng dạy và điều nhiều học giả Kinh Thánh bảo rằng Kinh Thánh có nghĩa thường dường như trái ngược nhau. Trước vấn đề căn bản và làm suy yếu này, chúng ta hãy chấp nhận một định nghĩa tối thiểu (nhưng quan trọng) về giải nghĩa thần học. Đó là bất cứ cách đọc nào đi theo hướng ngược lại. Giải nghĩa là “thần học” trong chừng mực nó cho thấy cách giáo huấn Hội Thánh hòa hợp với điều Kinh Thánh nói.
Ở điểm này, chắc hẳn một số độc giả cảm thấy bối rối. Phải chăng mục đích của sự giải nghĩa là để chứng minh tín điều, như thể tín điều mới là phương tiện lớn lao của lẽ thật Đức Chúa Trời chứ không phải chính Kinh Thánh? Thách thức này là chính đáng. Trong cả truyền thống Tin Lành lẫn Công giáo, đã có khuynh hướng xem tín điều như là “nội dung” được tinh luyện, hợp lý, và hoàn toàn sáng tỏ của Kinh Thánh.
Trong một giáo khoa thần học giáo điều cuối thế kỷ XIX, A Manual of Catholic Theology, các tác giả mô tả tín điều là “hoàn toàn đầy đủ về mặt vật chất,” “hoàn toàn hoàn hảo về mặt hình thức,” và có khả năng áp dụng phổ quát. Sách giáo khoa này tiếp tục đối chiếu những phẩm chất sáng láng ấy với sự thiếu “sắp xếp có hệ thống” của Kinh Thánh, điều khiến Kinh Thánh thường mờ tối và “dễ bị nhiều sự giải nghĩa sai lạc.” Tính lịch sử của Kinh Thánh có nghĩa là những lẽ thật lớn lao của nó được “bày tỏ trong ngôn ngữ bóng bảy của phương Đông.” Kết quả là, Kinh Thánh “không thích hợp cho việc sử dụng chung của dân chúng.” Nếu chúng ta chỉ cần học Baltimore Catechism, thì chúng ta sẽ được hình thành cách đầy đủ và chắc chắn trong lẽ thật của Đức Chúa Trời!
Tôi gọi nhận thức này là “chủ nghĩa thay thế tín điều,” mà tôi định nghĩa là sự thay thế chức năng của Kinh Thánh bằng tín điều như là nguồn sống của đức tin chúng ta. Không có gì riêng biệt thuộc về La Mã trong sự thay thế Kinh Thánh bằng tín điều này. Trong công trình có ảnh hưởng của mình về thần học hệ thống Tin Lành, Friedrich Schleiermacher nhận xét rằng Công giáo và Tin Lành cùng chia sẻ một Kinh Thánh. Vì lý do này, Kinh Thánh không thể là thẩm quyền cho người Tin Lành (hay Công giáo), bởi nó không thể cung cấp sự giảng dạy có thẩm quyền để chứng minh tại sao Tin Lành là đúng trong khi Công giáo là sai. Điều này dẫn Schleiermacher đến chỗ nâng tín điều Hội Thánh lên trên Kinh Thánh. “Các văn kiện tín điều của Hội Thánh Tin Lành, xét chung, được đặt vào vị trí ưu tiên trước chính Kinh Thánh Tân Ước.” Sự mỉa mai thật rõ ràng. Tín điều sola scriptura trở nên quan trọng hơn điều được chép trong Kinh Thánh!
Sự thay thế Kinh Thánh bằng tín điều này cần phải bị chống lại. Dù tín điều chắc chắn dạy những lẽ thật về Đức Chúa Trời, chúng không bày tỏ chính Ngài. Bị ảnh hưởng bởi những phê phán mạnh mẽ đối với các hình thức đào tạo Cơ Đốc sai lạc vốn được khuyến khích bởi quan điểm cho rằng tín điều cao hơn Kinh Thánh, Công đồng Vatican II đã lên tiếng khẩn thiết và hùng hồn về nhu cầu đổi mới đức tin được thấm nhuần sâu xa bởi Kinh Thánh. Không phải là Hội Thánh rút lẽ thật ra từ Kinh Thánh, mã hóa chúng thành tín điều, rồi bỏ qua. Như Vatican II dạy, Hội Thánh không bao giờ ngừng nhận “bánh sự sống từ bàn của Lời Đức Chúa Trời và từ thân thể của Đấng Christ,” và “vì vậy, giống như chính tôn giáo Cơ Đốc, mọi sự giảng dạy của Hội Thánh phải được nuôi dưỡng và điều chỉnh bởi Kinh Thánh.” Dù tín điều có thể đúng cách hình thức đến đâu, thì nhiệm vụ khẩn thiết là đem Lời Kinh Thánh áp dụng vào đời sống Hội Thánh vẫn luôn tiếp diễn. “Sức mạnh và quyền năng trong Lời Đức Chúa Trời là quá lớn,” công đồng dạy, “đến nỗi nó đứng như sự nâng đỡ và năng lực của Hội Thánh, sức mạnh của đức tin cho con cái Hội Thánh, thức ăn của linh hồn, nguồn trong sạch và đời đời của sự sống thuộc linh.”
Dù được định hình bởi các bản tín điều Tin Lành hay tín điều Công giáo, sự giảng dạy của Hội Thánh phải được thấm nhuần sức sống sứ đồ của Kinh Thánh. Điều này được thực hiện qua sự giải nghĩa thần học, vốn tìm cách phân biệt cách giáo huấn Hội Thánh hòa hợp với điều Kinh Thánh nói. Trong việc tìm kiếm sự hòa hợp này, giải nghĩa thần học đổi mới ngôn ngữ của đức tin. Nó làm cho đời sống Hội Thánh được thấm lại bằng điều Kinh Thánh nói. Chúng ta có thể diễn đạt bằng một công thức: càng dễ dàng một cách đọc Kinh Thánh đi vào và làm sống lại đời sống cùng thực hành của Hội Thánh, thì sự giải nghĩa Kinh Thánh của chúng ta càng “thần học” hơn.
Với những suy ngẫm ngắn gọn này, tôi đã nhắc lại sự trình bày về giải nghĩa thần học được phát triển trong chương trước, dù bằng những thuật ngữ hơi khác. Điều này có thể khiến một số người không hài lòng. Cách tiếp cận của tôi có thể giống như những lời nói suông—giải nghĩa là “thần học” nếu nó đem tín điều và Kinh Thánh vào sự hòa hợp. Chúng ta đã quá quen với việc suy nghĩ theo phương pháp và kỹ thuật hơn là theo mục tiêu và cứu cánh, đến nỗi định nghĩa này về giải nghĩa thần học dường như là một ảo tưởng logic hơn là một khả năng thực sự cho người đọc Kinh Thánh. Sự phân biệt cũ kỹ giữa điều Kinh Thánh đã có nghĩa và điều nó có nghĩa, giữa việc đọc văn bản “cách phê bình và có trách nhiệm” và việc đọc “cách ngây thơ và sùng kính,” vẫn giữ một sức mạnh lớn. Chúng ta lo ngại rằng nếu không có một vai trò riêng biệt và vượt trội cho việc đọc bình luận lịch sử, thì sự giải nghĩa của chúng ta sẽ thiếu uy tín và kỷ luật.
Thay vì đáp ứng cách lý thuyết, tôi muốn trở lại với những nhận xét của tôi về creatio ex nihilo trong chương trước (được phát triển rộng hơn trong chương 5). Tôi xin lỗi vì phải nhắc lại tài liệu này. Nhưng tôi thấy nó rất hữu ích để minh họa “giải nghĩa thần học” hơn là đi lạc vào những giải thích lý thuyết. Nếu chúng ta làm việc với tín điều và Kinh Thánh cùng nhau, chúng ta sẽ thấy rằng chúng soi sáng lẫn nhau, và sự đối lập thiên lệch giữa “giải nghĩa khách quan” và “đọc sùng kính” sẽ mất đi sức mạnh của nó.
SÁNG THẾ KÝ VÀ VẤN ĐỀ CREATIO EX NIHILO
Hãy xét những câu đầu tiên của sách Sáng thế ký. Tại đây chúng ta gặp chất liệu Kinh Thánh vừa mơ hồ vừa đầy thách thức. Tiếng Hê-bơ-rơ cho phép nhiều cách hiểu khác nhau. Chúng ta có nên đọc câu đầu tiên là “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên,” truyền đạt ý tưởng rằng chúng ta đang ở điểm khởi đầu tuyệt đối? Hay chúng ta nên đọc câu mở đầu này theo cách khiêm tốn hơn? Các học giả hiện đại đề nghị một bản dịch mới: “Ban đầu, khi Đức Chúa Trời dựng nên.” Điều này gợi ý một khái niệm giới hạn hơn về sự sáng tạo. Và chúng ta phải hiểu thế nào về câu kế tiếp với sự nhắc đến đất chưa hình dạng, sự tối tăm, và mặt nước? Có phải Đức Chúa Trời đã dựng nên trời và đất từ một chất liệu nguyên thủy có sẵn?
Trong tác phẩm Unfinished Literal Commentary on Genesis, Augustine nêu ra những câu hỏi này và đưa ra nhiều gợi ý giải nghĩa. Ông quan sát hợp lý rằng Kinh Thánh không cung cấp mọi chi tiết. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng trong khoảnh khắc đầu tiên Đức Chúa Trời dựng nên tất cả các yếu tố được nhắc đến trong Sáng thế ký 1:2—đất vô hình, sự tối tăm, nước, và v.v. Rõ ràng đối với chúng ta rằng sự trung thành với tín điều Hội Thánh đang hướng dẫn Augustine tại điểm này. Ông thừa nhận như vậy, nói rằng: “Dù ý kiến nào trong các ý kiến này là đúng, chúng ta phải tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và Dựng nên muôn vật.” Để nhớ lại sự trình bày về giải nghĩa thần học trong chương trước, Augustine đọc theo cách bảo đảm rằng tín điều hòa hợp với Kinh Thánh. Creatio ex nihilo, tức sự sáng tạo từ hư không, là tín điều chuẩn mực, và Augustine đem cách đọc của mình vào sự phù hợp với tín điều đó.
Là những người nam và nữ hiện đại, chúng ta thường được thúc giục để lùi lại và nói: “Đúng vậy, dĩ nhiên Augustine chấp nhận thẩm quyền của tín điều, và hãy xem điều gì đã xảy ra. Ông đã thờ ơ với điều Kinh Thánh thật sự nói.” Ý nghĩa đơn giản của câu thứ hai trong Sáng thế ký gợi ý rằng có một điều gì đó mà Đức Chúa Trời đã hành động trên đó trong sự sáng tạo. Phương pháp phân tích bình luận lịch sử hiện đại thêm sức nặng cho ý nghĩa đơn giản này, chỉ ra nhiều huyền thoại chiến đấu về sự sáng tạo trong văn học cổ có thể đã ảnh hưởng đến thế giới quan của người Y-sơ-ra-ên xưa. Hơn nữa, các học giả đã chỉ ra rằng chính Cựu Ước thường mô tả nguồn gốc thế giới theo cách tương tự. Ngoài 2 Maccabees 7:28, những lời tuyên bố về chủ quyền và quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời trong toàn bộ Kinh Thánh không xác định sự sáng tạo từ hư không. Và như vậy, dường như sự nhường nhịn của Augustine đối với tín điều creatio ex nihilo trình bày một trường hợp điển hình về những ý tưởng thần học định sẵn làm lệch văn bản. Một hệ thống tín điều cứng nhắc đang bị áp đặt lên Kinh Thánh, khiến cho tiếng nói của Kinh Thánh bị im lặng. Chúng ta khẳng định: một chuyện là chấp nhận trách nhiệm cho việc cho thấy sự hòa hợp giữa Kinh Thánh và tín điều; nhưng chúng ta phải chắc chắn rằng không đánh mất chính văn bản trong tiến trình đó!
Những mối quan tâm này đã dẫn đến sự hình thành một tín điều trong nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại: tín điều phải bị loại khỏi sự giải nghĩa. Như Benjamin Jowett đã viết trong thế kỷ XIX, vai trò của người giải nghĩa là phục hồi “những lời đơn sơ” của Kinh Thánh. Điều này đòi hỏi người đọc phải “gạt bỏ những tàn dư của tín điều, hệ thống, tranh luận” vốn khiến chúng ta dễ đọc sai. Bằng cách trở lại với văn bản trong sự tinh khiết của nó, Jowett hứa rằng chúng ta sẽ thông công với tâm trí của các tác giả nguyên thủy. Những Kinh Thánh từng bị tín điều che phủ sẽ sống lại.
Thật không may, kết quả của việc áp dụng tín điều hiện đại này lại khác. Trong chừng mực các Hội Thánh vẫn tiếp tục đọc bản Nicene Creed, bất cứ cách đọc nào về phần mở đầu của Sáng thế ký mà không kết luận rằng văn bản này phù hợp với tín điều creatio ex nihilo đều loại bỏ những câu này khỏi sự sùng kính thực tiễn của tín hữu và làm suy yếu vai trò của Kinh Thánh trong đời sống Hội Thánh. Làm sao có thể vừa khẳng định tín điều rằng Đức Chúa Trời dựng nên từ hư không, vừa đồng ý rằng Kinh Thánh dạy khác đi mà không gạt Kinh Thánh sang một bên?
Chúng ta thường cố dán một miếng băng cá nhân lên vết thương bằng cách chấp nhận một quan điểm mơ hồ và cảm tính về tín điều, cho phép chúng ta tránh đối diện với sự mâu thuẫn. Dù chiến lược của chúng ta là gì, kết quả vẫn như nhau. Tín điều trở nên ít mang tính Kinh Thánh hơn, và sự hiểu biết Kinh Thánh của chúng ta trở nên ít mang tính tín điều hơn. Điều này xảy ra bất cứ khi nào một người giải nghĩa Kinh Thánh kết luận rằng Kinh Thánh nói điều gì đó khác với điều Hội Thánh giảng dạy. Thay vì sống lại, tiếng nói của Kinh Thánh bị bóp nghẹt, thậm chí bị im lặng, trong đời sống Hội Thánh. Đây là lý do tại sao các học giả Kinh Thánh tham gia Scripture Project đã khao khát phục hồi những cách đọc “xưng nhận đức tin.” Họ cảm nhận rằng việc phân biệt sự hòa hợp giữa tín điều và Kinh Thánh là điều thiết yếu nếu chúng ta muốn phục hồi sự hiểu biết Kinh Thánh trong vòng tín hữu.
Chúng ta không cần phải chọn giữa sự trung thành với tín điều và sự chú ý đến tính đặc thù của văn bản Kinh Thánh. Bởi vì tín điều cổ điển không phải là điều tự phát. Những tín điều như creatio ex nihilo hướng dẫn một cách đọc tổng thể về Kinh Thánh, vốn đem Kinh Thánh đến sự sống thay vì bóp nghẹt tiếng nói của nó. Vì lý do này, không có gì là “tự mãn” khi chấp nhận thẩm quyền của tín điều trong công việc giải nghĩa. Trái lại, khó khăn trong việc đem Kinh Thánh và tín điều vào một mối liên hệ thỏa đáng về mặt trí tuệ và thuộc linh làm cho sự giải nghĩa trở nên khẩn thiết, đầy năng lực, và sáng tạo.
Creatio ex nihilo không phải là một tín điều trôi nổi tự do. Nó phát sinh từ một tập hợp phức tạp những phán đoán giải nghĩa vận hành xuyên suốt toàn bộ văn bản Kinh Thánh. Như tôi đã ghi nhận trong chương 1, chiến dịch của Cựu Ước chống lại sự thờ hình tượng có một cấu trúc lặp lại. Hình tượng không phải là yếu đuối, vô hiệu, hay thiếu sót; chúng là rỗng tuếch và vô sinh khí. Tân Ước tiếp tục giữ cùng quan điểm rằng hình tượng là vô sinh khí và bất lực.
Trong nhiều trường hợp trong Kinh Thánh, những lời cảnh báo chống lại nguy hiểm của hình tượng vô sinh khí được đặt trên nền tảng của những khẳng định lớn hơn về chủ quyền sáng tạo của Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời dựng nên từ hư không, nên không có gì (nihil) ngoài một Đức Chúa Trời chân thật và tất cả những gì Ngài đã dựng nên. Do đó, sự thờ hình tượng không phải là một sai lầm đơn giản hay một sự tính toán sai. Nó không phải là sự trung thành sai chỗ với một quyền lực bán thần hay nguyên thủy không thể sánh với quyền năng và vinh hiển của Đức Chúa Trời Toàn Năng. Sự thờ hình tượng là sự trung thành với hư không, một sự tận hiến cho vô sinh khí, đó là lý do tại sao Cựu Ước thường mô tả sự thờ hình tượng như là tội lỗi tồi tệ nhất. Sự thờ hình tượng khuyến khích và phản ánh một sự ham muốn hư không, một sự chọn lựa sự chết mà Môi-se đã nhiều lần cảnh báo trong Phục truyền luật lệ ký. Sứ đồ Phao-lô mô tả tội lỗi bắt đầu bằng sự quay lưng nguyên thủy khỏi Đức Chúa Trời hằng sống—Đấng có vinh hiển sáng tạo được “thấy rõ bởi những vật Ngài đã dựng nên” (Rô-ma 1:20)—và hướng về “hình tượng” (1:20–23). Gia phả của tội lỗi này lặp lại những phán đoán của Cựu Ước. Không có chỗ nào để đứng giữa Đức Chúa Trời và sự sáng tạo—và cố gắng làm như vậy chỉ dẫn đến một sự trung thành phi lý, tự hủy hoại với hư không. Do đó, không ngạc nhiên khi các chủ đề về sự thờ hình tượng và sự trung thành đã chuẩn bị cho sự khẳng định rõ ràng về creatio ex nihilo trong 2 Maccabees 7:28.
Sự xung đột rõ ràng giữa hai khẳng định Kinh Thánh về Đức Chúa Trời cung cấp một lý do khác để đọc Sáng thế ký 1 dưới sự kiểm soát của tín điều creatio ex nihilo. Một mặt, nhiều đoạn mô tả Đức Chúa Trời là hoàn toàn khác biệt. Ngài là Đức Chúa Trời siêu việt, không thể bị đóng khung trong thế giới hữu hạn. Mặt khác, Đức Chúa Trời là một nhân vật trong câu chuyện Kinh Thánh. Ngài truyền lệnh và phán dạy. Vậy thì phải thế nào? Đức Chúa Trời ở ngoài hay ở trong? Đức Chúa Trời hoàn toàn khác biệt hay Ngài hành động trong tiến trình của lịch sử cứu rỗi? Sự chọn lựa đối nghịch giữa tính phổ quát và tính đặc thù càng trở nên kịch tính hơn trong thần học Cơ Đốc cổ điển. Sự siêu việt của Đức Chúa Trời dường như hoàn toàn mâu thuẫn với sự nhập thể: là sự điên rồ đối với người Hy Lạp.
Trong chương trước, tôi đã chỉ ra sự giản lược bản thể học (ontological parsimony) của creatio ex nihilo. Điều này giúp chúng ta giải quyết mâu thuẫn bề ngoài giữa sự siêu việt và sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tín điều sáng tạo từ hư không dạy rằng không có gì tồn tại trước sự sáng tạo, nghĩa là không có gì để Đức Chúa Trời không phải là. Sự giản lược này được thấy rõ trong lời tuyên bố nổi tiếng về danh của Đức Chúa Trời (Xuất Ê-díp-tô ký 3:14): Đức Chúa Trời là chính Ngài bởi vì Ngài là chính Ngài. Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời bởi vì Ngài không phải là một điều gì khác.
Bởi vì creatio ex nihilo diễn đạt sự siêu việt của Đức Chúa Trời theo nghĩa độc nhất, chứ không phải bằng cách viện dẫn sự tối thượng hay sự ưu tiên của Ngài trên chất liệu nguyên thủy, nên sự siêu việt của Đức Chúa Trời nhất quán với sự gần gũi và hiện diện của Ngài trong thực tại hữu hạn. Đức Chúa Trời không bỏ lại điều gì phía sau trong sự hiện diện của Ngài trong lịch sử; Ngài không phản bội hay mâu thuẫn với điều gì “thiêng liêng” khi Ngài đến gần.
Người đọc Kinh Thánh không cần phải chọn giữa Đức Chúa Trời phổ quát và Đức Chúa Trời hành động trong không gian và thời gian. Người đọc cũng không cần phải phân chia thần tính và nhân tính trong ngôi vị hiệp nhất của Chúa Giê-xu Christ. Trái lại, một cách đọc Sáng thế ký 1:2 mà mâu thuẫn với creatio ex nihilo và sự giản lược bản thể học ngụ ý của nó sẽ làm suy yếu khả năng của người đọc Kinh Thánh trong việc giải nghĩa Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên như là Đức Chúa Trời phổ quát. Tệ hơn nữa, nó khiến cho chứng từ của Tân Ước về Đức Chúa Trời nhập thể trở nên vô nghĩa.
Tại đây chúng ta thấy vai trò sinh ích của tín điều trong sự giải nghĩa. Creatio ex nihilo hướng dẫn chúng ta đến một cách đọc những từ ngữ và cụm từ mơ hồ trong Sáng thế ký 1:2, cho phép chúng ta duy trì những cách đọc rất đơn giản của vô số câu Kinh Thánh khác. Vậy thì, làm sao sự bác bỏ tín điều này—vốn được cho là để bảo tồn sự nguyên vẹn của văn bản Kinh Thánh—có thể thành công theo chính tiêu chuẩn của nó? Nếu chúng ta gạt bỏ creatio ex nihilo, chúng ta không thể khẳng định ý nghĩa đơn giản của nhiều câu Kinh Thánh nói về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tín điều cổ điển đã được phát triển chính xác để tránh vấn đề này.
Cuối cùng, một cách đọc chương đầu tiên của Sáng thế ký được điều chỉnh bởi tín điều sáng tạo từ hư không sẽ củng cố chủ nghĩa tối đa về Christ (christological maximalism) vốn đặc trưng cho sự giải nghĩa Kinh Thánh cổ điển của Cơ Đốc giáo. Irenaeus đã đặt nền tảng cho sự bác bỏ các tường thuật Ngộ đạo về Chúa Giê-xu trên một sự phản bác phức tạp đối với tín điều sáng tạo của Ngộ đạo. Giáo huấn Ngộ đạo giả định rằng thế giới này là giai đoạn cuối cùng của một tiến trình tiến hóa vũ trụ, được đặc trưng bởi nhiều tầng lớp thực tại thuộc linh hay siêu nhiên phát xuất từ một Đức Chúa Trời siêu việt và đời đời. Với một sơ đồ hữu thể học phong phú trong tay, các thầy Ngộ đạo có thể tránh điều mà họ cho là sự phi lý siêu hình khi nói rằng Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời nhập thể. Họ có thể gán cho Chúa Giê-xu một vai trò cứu chuộc trung gian. Ngài ở trên chúng ta về ý nghĩa hữu thể học, kéo chúng ta lên nấc cao hơn trong “Chuỗi Hiện hữu Vĩ đại.”
Những lập luận của Irenaeus chống lại Ngộ đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của tín điều sáng tạo từ hư không. Sự loại trừ nghiêm ngặt của tín điều này đối với bất cứ chất liệu có sẵn nào ngoài chính Đức Chúa Trời có nghĩa là hoặc Chúa Giê-xu chỉ đơn thuần là một người, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể. Không có lựa chọn hữu thể học nào khác. Đây không chỉ là một vấn đề hẹp về Christ học. Nó liên quan đến cấu trúc rộng lớn hơn của sola gratia vốn hiện diện trong nhiều phần của Kinh Thánh. Phân tích của Sứ đồ Phao-lô về sự xưng công bình của Áp-ra-ham, và qua đó là dự án lớn hơn về phước lành của Đức Chúa Trời, nhấn mạnh sự thiếu vắng những thực tại trung gian giữa Đức Chúa Trời và thực tại hữu hạn. Áp-ra-ham có thể nương dựa vào điều gì khác ngoài Đức Chúa Trời, “Đấng làm cho kẻ chết sống lại, và gọi những sự không có như có” (Rô-ma 4:17)? Mọi quyền lực khác đều “như chết rồi” (Rô-ma 4:19), và do đó “chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời” (I Cô-rinh-tô 1:29). Sự giản lược hữu thể học mà creatio ex nihilo bao hàm loại bỏ mọi nửa vời, và như Phao-lô lý luận, chúng ta buộc phải nương dựa chỉ vào Đức Chúa Trời như là quyền năng cứu rỗi. Những lập luận của Phao-lô cho một sự cứu rỗi theo sola gratia—những lập luận trọng tâm của Tin Lành—phụ thuộc vào một cách đọc phần mở đầu của Sáng thế ký vốn hòa hợp với tín điều sáng tạo từ hư không.
Mục tiêu của tôi ở đây không phải là cung cấp một sự trình bày toàn diện về cách đọc Sáng thế ký. Tôi sẽ có nhiều điều để nói hơn về điều đó trong chương 5. Thay vào đó, tôi đã cố gắng minh họa một điểm đơn giản về giải nghĩa thần học. Việc chúng ta rèn luyện để thấy sự hòa hợp giữa Kinh Thánh và tín điều không làm im lặng Kinh Thánh. Tín điều Cơ Đốc là một dự án nghiên cứu kéo dài gần hai ngàn năm về sự mạch lạc nội tại của Kinh Thánh. Những giáo huấn của Hội Thánh không được phát triển như những suy đoán siêu hình. Chúng được hình thành để đem toàn bộ Kinh Thánh sống động trong tâm trí chúng ta. Do đó, nếu chúng ta đọc Kinh Thánh cách thần học—nghĩa là, nếu chúng ta đọc theo cách cho thấy sự hòa hợp giữa tín điều và Kinh Thánh—chúng ta sẽ thấy những phán đoán giải nghĩa của mình được đào sâu và mở rộng xuyên suốt văn bản Kinh Thánh, trái ngược với sự “im lặng” của Kinh Thánh mà những người lo lắng bảo vệ thẩm quyền của phương pháp đã cảnh báo.
GIÁ TRỊ VÀ GIỚI HẠN CỦA PHƯƠNG PHÁP BÌNH LUẬN LỊCH SỬ
Không có điều gì tôi đã nói về bản chất của sự giải nghĩa thần học mâu thuẫn với xác tín rằng nghiên cứu Kinh Thánh theo phương pháp bình luận lịch sử hiện đại vẫn là một cách đọc tinh vi và hữu ích. Việc áp dụng các kỹ thuật phân tích văn bản hiện đại có thể giúp chúng ta đi vào sự đa dạng và phức tạp của văn bản Kinh Thánh. Tôi nhớ đã đọc một nghiên cứu của Gerd Theissen về bối cảnh xã hội của các thư tín Phao-lô nhiều thập niên trước. Khi có một cảm nhận sống động về bối cảnh xã hội, tôi được giải thoát khỏi giả định vô thức và trì trệ rằng Phao-lô (và toàn bộ Kinh Thánh) đã phán ra những lẽ thật vượt thời gian vào khoảng trống vĩnh cửu. Nghe Phao-lô nói với những con người thật trong một cộng đồng thực tế không khiến ông trở nên xa cách hay nhỏ bé; trái lại, nó làm cho tiếng nói của Phao-lô trở nên sống động và hiện tại.
Tuy nhiên, dù tôi đã nhận được nhiều ích lợi từ nghiên cứu bình luận lịch sử Kinh Thánh, tôi bác bỏ những nỗ lực nhằm “xây cầu nối” giữa thần học và nghiên cứu Kinh Thánh. Thần học không căn bản tách biệt khỏi sự giải nghĩa Kinh Thánh. Như tôi hy vọng sự bàn luận ngắn gọn của tôi về Sáng thế ký và sự sáng tạo từ hư không đã minh họa, tín điều có nguồn gốc và mục đích giải nghĩa. Vì lý do này, tín điều có thể đóng vai trò sinh ích trong sự giải nghĩa, chứ không phải là một vai trò khô cằn hay phá hoại, như nhiều nhà phê bình hiện đại đã giả định.
Những cách đọc hiện đại có giá trị. Nghiên cứu lịch sử về các huyền thoại sáng tạo cổ và phê bình biên tập có thể giúp chúng ta thấy rằng chương đầu tiên của Sáng thế ký là một phần của dòng tư tưởng mang tính tế lễ, luật pháp, và hướng về đền thờ xuyên suốt Ngũ Kinh. Những cách đọc bình luận lịch sử hiện đại khác cũng có thể làm phong phú và sâu sắc thêm sự đọc của chúng ta—cũng như các cách đọc văn chương, nhân học, và xã hội học. Bài đọc tuyệt vời của Frank Kermode về sách Tin Lành Mác, The Genesis of Secrecy, đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tôi khi tôi còn là sinh viên vào đầu thập niên 1980. Không có lý do gì để bác bỏ những kỹ thuật phân tích này chỉ vì chúng vận hành mà không dựa vào những giả định Cơ Đốc về Kinh Thánh và tín điều. Chúng thường phóng đại và làm sáng tỏ tầm nhìn của chúng ta với tư cách là người đọc.
Nhưng điểm mấu chốt là: không một phương pháp nào trong số này có thể cho chúng ta biết cuối cùng Kinh Thánh nói gì. Sự so sánh với phương pháp khoa học giúp làm rõ tại sao điều này là đúng. Các nhà khoa học dùng kỹ thuật thực nghiệm để xác định và làm sáng tỏ dữ liệu. Họ có thể tách hợp chất thành các yếu tố cấu thành. Họ có thể định tuổi bằng carbon cho hóa thạch, đặt chúng vào một dòng thời gian chính xác. Nhưng việc áp dụng lặp đi lặp lại những kỹ thuật này sẽ không tạo ra một lý thuyết khoa học. Kính hiển vi điện tử tinh chỉnh cảm nhận của chúng ta về dữ liệu là gì; độ chính xác được cải thiện của nó không giải nghĩa dữ liệu đó. Điều tương tự cũng đúng với các kỹ thuật bình luận lịch sử. Thật sai lầm khi tưởng tượng rằng những phương pháp trí tuệ giúp chúng ta đưa Kinh Thánh vào tầm nhìn như một văn bản đa dạng và lịch sử cũng có thể đồng thời là công cụ tổng hợp cho sự giải nghĩa.
Những nỗ lực hiện đại mang tính giả kim nhằm biến phân tích dữ liệu tinh vi thành một sự giải nghĩa rộng lớn thường là xa vời. Chúng có thể trở thành “ẩn dụ” theo nghĩa xấu, vốn bị nhiều người trong truyền thống Cơ Đốc bác bỏ. Đọc Marcus Borg là bước vào những lý thuyết huyền bí về ý thức tôn giáo, nơi Paul Tillich được kết hợp với Norman O. Brown trong thời kỳ thứ bảy của cái tôi được giải phóng khi nó phá vỡ những ràng buộc của giới hạn xã hội. Ngay cả Gerhard von Rad, người có đầu óc điềm tĩnh, cũng có thể nghe như đang triệu hồi khái niệm khi ông tuyên bố về các chủ đề thần học trong chú giải của mình về Sáng thế ký, thay vì lý luận. Những kết quả không thỏa đáng này là tất yếu.
Trong chừng mực nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại tự ý bác bỏ các tín điều Cơ Đốc cổ điển và tiếp nhận những tín điều hiện đại về tôn giáo và ý thức con người (hoặc những tín điều hậu hiện đại phổ biến về xã hội, quyền lực, và sự khác biệt), rồi dùng những tín điều này làm nguyên tắc tổ chức cho sự giải nghĩa, chúng ta sẽ nhận được những cách giải nghĩa khiến Kinh Thánh hòa hợp với xã hội học hoặc các lý thuyết xã hội học (hoặc lý thuyết hậu hiện đại). Hoặc chúng ta sẽ nhận được những cử chỉ thần học mơ hồ, thường không gắn liền với kết cấu của Kinh Thánh.
Tôi không muốn kết thúc bằng cách chỉ ra những cái rác trong mắt của các học giả Kinh Thánh hiện đại. Có một cái xà trong chính mắt thần học của tôi. Trong Thế chiến thứ hai, Henri de Lubac đã viết một loạt bài giảng và tiểu luận. Ông muốn hiểu tại sao văn hóa Cơ Đốc của châu Âu đã thất bại trong việc ngăn chặn thảm họa của cuộc chiến toàn châu lục, tại sao “toàn bộ công trình của nền văn minh châu Âu dường như đang sụp đổ.” De Lubac không ảo tưởng gì về chủ nghĩa ngoại giáo man rợ của các ý thức hệ châu Âu hiện đại. Vào thời điểm này ông đang viết một cuốn sách được xuất bản năm 1945, The Drama of Atheistic Humanism. Nhưng trong những tiểu luận này ông không tập trung vào kẻ thù bên ngoài. Ông quan tâm đến sự mục nát bên trong. Như ông nhận xét: “Ở gốc rễ của mọi sự, phải nói rằng có một sự thất bại trong vòng Cơ Đốc nhân.”
Theo de Lubac, sự thất bại trong thời của ông—và sự thất bại của chúng ta hôm nay—có nhiều nguồn gốc. Nhưng quan trọng nhất là và vẫn là sự mất mát mối liên hệ thuộc linh với chất liệu căn bản của lẽ thật Cơ Đốc, tức Kinh Thánh. Ông viết rằng Cơ Đốc nhân không có ảnh hưởng trong thời đại hiện tại bởi vì “sự từ bỏ việc biết và sử dụng Kinh Thánh.” Điều này đặc biệt đúng với Cựu Ước. “Nhiều nhà thần học,” ông nhận xét, “từ bỏ việc đạt được sự hiểu biết sâu sắc hơn về nó, xem nó như một lãnh vực mờ tối, dành riêng cho sự khảo sát của một vài chuyên gia hiếm hoi.” Sự xa cách này khỏi Cựu Ước vẫn còn quá đúng trong thời của chúng ta. Chúng ta—tôi không loại trừ chính mình—không thấy cũng không tìm kiếm một mối liên hệ sống động giữa tín điều và Kinh Thánh. Và nếu có, nỗ lực của chúng ta thật yếu ớt.
Bất cứ nhà thần học Công giáo nào nghiêm túc về việc phục hồi Kinh Thánh như linh hồn của thần học đều phải đối diện với sự thay thế Kinh Thánh bằng tín điều mà tôi đã ghi nhận trong truyền thống giáo khoa vốn thống trị việc đào tạo chủng viện vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Di sản này hoàn toàn chưa được vượt qua, bất chấp những lời khuyên của Vatican II về việc phục hồi Kinh Thánh. Karl Rahner là nhà thần học Công giáo có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX. Trong giáo khoa của ông, Foundations of Christian Faith, ông cảnh báo chống lại “chủ nghĩa Kinh Thánh thuần túy.” Theo Rahner, truyền thống cũ của thần học được thấm nhuần Kinh Thánh là “cơ bản đã lỗi thời.” Ông cho rằng nghiên cứu bình luận lịch sử hiện đại có thẩm quyền duy nhất để xác định nội dung của Kinh Thánh, và thần học giáo điều có uy tín trí tuệ “chỉ có thể sử dụng những dữ liệu Kinh Thánh nào đủ chắc chắn từ một nhà giải nghĩa trung thực.” Trong công trình của Rahner, hóa ra rất ít “dữ liệu Kinh Thánh” hữu ích. Trong phần lớn các trước tác của ông, toàn bộ năng lực nhận thức được dành cho việc liên hệ triết học “siêu nghiệm” hậu-Kant với tín điều Hội Thánh, chứ không phải liên hệ tín điều với Kinh Thánh.
Sự ưu tiên cho việc liên hệ với triết học hơn là sự hòa hợp với Kinh Thánh không chỉ là một thói xấu của Công giáo. Thần học Tin Lành hiện đại đã quá lâu vận hành như một chủ nghĩa khoa học thần học lệch lạc. “Thật quá dễ,” John Webster viết, “để ưa thích những đường nét tương đối rõ ràng của tín điều hơn là chất liệu Kinh Thánh ít dễ quản lý hơn, vốn chưa được lý thuyết hóa.” Thật hấp dẫn để ở mãi trong các khái niệm về sự lựa chọn, sự nhập thể, và perichoresis (sự hiệp nhất trọn vẹn nhưng không hòa lẫn), như thể chúng chứa đựng một lẽ thật trọng yếu, siêu sáng láng trong chính chúng. Cách tiếp cận này thất bại trong việc thấy rằng mục đích của tín điều và thần học là tối đa hóa sự thâm nhập của tâm trí vào thế giới của Kinh Thánh. Gần như tất cả các nhà thần học, cả Công giáo lẫn Tin Lành, đều phạm tội bỏ quên Kinh Thánh mà de Lubac đã than thở. Đây là một thói xấu thuộc linh mà chúng ta phải đối diện.
Những tín điều lớn của Hội Thánh là các phán đoán giải nghĩa được ban cho hình thức thẩm quyền chung. Chúng chỉ là những lẽ thật sống động trong chừng mực chúng ta bước vào chúng qua sự thực hành liên tục của việc giải nghĩa Kinh Thánh. Thần học có thể đi lạc vào siêu hình học và lý thuyết luân lý, vào nhân học và nhiều chủ đề khác. Thần học là nữ hoàng của các khoa học, và bà có mọi sự dưới quyền mình. Nhưng vai trò căn bản của nữ hoàng là phân biệt lẽ thật của Đức Chúa Trời bằng cách giải nghĩa Lời Ngài đã bày tỏ. Sự đa dạng lớn lao của các chủ đề dưới nhãn thần học là vì mục đích duy trì và mở rộng khả năng giải nghĩa Kinh Thánh. Chúng ta phải kiên quyết bác bỏ ý niệm “xây cầu nối” giữa một điều gọi là thần học và một công việc được cho là rất khác gọi là nghiên cứu Kinh Thánh. Chúng vốn không bao giờ nên bị tách rời ngay từ đầu.
Nhưng có một cây cầu mà chúng ta cần xây! Điều Hội Thánh giảng dạy và điều Kinh Thánh nói không hiển nhiên hòa hợp với nhau. Sự phù hợp này không bao giờ được hoàn tất, như lịch sử của những tranh luận thần học và giải nghĩa đã chứng minh. Nhưng ở điểm này chúng ta phải rõ ràng. Giả định rằng tín điều phải hòa hợp với Kinh Thánh không hề ngăn chặn câu hỏi hay làm suy yếu sự suy nghĩ rõ ràng, cũng như xác tín khoa học rằng lý thuyết phải liên hệ với dữ liệu không hề kết thúc sự khảo sát hay làm yếu đi lý trí. Biết được mục tiêu của sự tìm hiểu sẽ làm cho nó thêm sinh động và sắc bén, chứ không làm nó yếu ớt hay mờ nhạt. Giả định về sự hòa hợp buộc chúng ta phải thấy và giải thích cách giáo huấn Hội Thánh hòa hợp với Kinh Thánh. Và khi chúng ta đáp ứng với đòi hỏi này, chúng ta nhận được một cảm nhận sống động về cách Kinh Thánh đem sự sống cho Hội Thánh.
Không có sự tự mãn hay bất cứ loại “chiến thắng thần học” nào trong giả định về sự hòa hợp. Trái lại, tin rằng điều Hội Thánh giảng dạy hòa hợp với điều Kinh Thánh nói sẽ đưa chúng ta ra khỏi chủ nghĩa tín điều tự mãn trong thần học và chủ nghĩa lịch sử khô cằn trong nghiên cứu Kinh Thánh mà chúng ta đã dung túng quá lâu. Cây cầu cần được xây là từ nơi chúng ta đang ở hiện nay, từ sự tỉnh thức hiện tại của chúng ta về sự thiếu sót của nhiều thực hành thần học và giải nghĩa hiện đại, đến dự án giải nghĩa đầy sinh khí trí tuệ vốn phục hồi mối liên hệ sống động giữa tín điều và Kinh Thánh.