Origen là một trong những nhân vật vĩ đại nhất của thời kỳ cổ đại Cơ Đốc. Ông là người đọc Kinh Thánh mạnh mẽ nhất trong những thế kỷ đầu của Hội Thánh, kết hợp sự chú tâm mãnh liệt vào từng chi tiết của Lời Chúa với một tầm nhìn giải nghĩa rộng lớn đáng kinh ngạc. Đọc sự giải nghĩa của Origen giống như đứng dưới một thác nước: những phán đoán ngữ pháp, những giải thích địa lý, những mô hình biểu tượng, những ghi chú về bình luận văn bản, những công thức giáo lý, và những sơ đồ ẩn dụ tuôn trào xuống trên người đọc. Đồng thời, phương pháp của ông luôn hướng đến một sự đọc thống nhất toàn bộ Kinh Thánh. Trong câu mở đầu của tác phẩm trọng yếu On First Principles, Origen cho biết rằng công trình suy tư lớn lao của ông “không có nguồn nào khác ngoài chính lời và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu,” những lời và sự dạy dỗ vốn đã hiện diện “trong Môi-se và các đấng tiên tri.” Trong trước tác phi thường này, chi tiết Kinh Thánh được kết hợp với một tổng hợp giải nghĩa vươn đến những suy tư về thuộc linh và thuộc thể, thời gian và đời đời, mục đích của điều ác, sự cứu rỗi của ma quỷ, và sự hoàn tất của muôn vật.
Tác động của cách đọc ấy có thể khiến người ta choáng ngợp. Người đọc ngày nay hoặc là phấn khích trước tầm vóc và chiều sâu trong phương pháp của Origen, hoặc là lo ngại về sự chủ quan và vượt quá giới hạn. Tính cụ thể của văn bản Kinh Thánh dường như trái ngược với những trừu tượng trong hệ thống thần học lớn lao của ông, và dễ khiến người ta nghĩ rằng sự kết hợp hai điều ấy trong tâm trí Origen là gượng ép, và cách ông giải nghĩa Kinh Thánh là tùy tiện. Maurice Wiles, một độc giả nhạy bén của thế kỷ hai mươi, đã có quan điểm như vậy. “Thực chất,” Wiles kết luận, “Origen cố gắng nắm cả hai phía.” Ông muốn một tầm nhìn thần học thấm đẫm tính đặc thù của Kinh Thánh, nhưng đồng thời đủ phổ quát để bao quát những câu hỏi siêu hình lớn lao của thời đại ông.
Những độc giả đương thời như Wiles không đơn độc trong nhận định rằng Origen thất bại. Eusebius ghi lại lời đánh giá của Porphyry rằng Origen “trong đời sống thì cư xử như một Cơ Đốc nhân, nhưng trong quan điểm về vật chất và về thần linh thì giống như một người Hy Lạp, và pha trộn những giáo huấn Hy Lạp với những truyền thuyết ngoại lai.” Sự đánh giá tiêu cực này tương ứng với những nghi ngờ mà Wiles nuôi dưỡng. Và mặc dù Origen đã được phục hưng trong vài thập niên gần đây, sự đánh giá tiêu cực ấy vẫn còn giá trị cho đến ngày nay. Không ít giáo sư đại học và chủng viện để lại ấn tượng rằng Origen đã dùng chất liệu Kinh Thánh để xây dựng một công trình trí tuệ theo những nguyên tắc của Plato.
Tôi không thể đưa ra một sự biện hộ đầy đủ cho Origen trước lời cáo buộc rằng ông đã cắt dán Kinh Thánh để cổ vũ cho chủ nghĩa Platon bằng những câu chứng minh. Để làm điều đó, tôi sẽ phải đi xa vào sự phi lý của những nhận thức luận hiện đại mang tính nền tảng, vốn dựa trên những lý thuyết hẹp hòi về “sự tương ứng” của lẽ thật. Những lý thuyết ấy xem sự chắc chắn như tiêu chuẩn vàng của trí tuệ, cho rằng bằng chứng phải khớp trực tiếp với những tuyên bố về lẽ thật. Để phản bác những lý thuyết ấy và phá bỏ thần tượng của sự chắc chắn, tôi sẽ phải dựa vào sự chứng minh của Willard Quine rằng niềm tin của chúng ta tạo thành một mạng lưới phức tạp và không thể giản lược thành những tương ứng một-một. Tôi cũng sẽ cần phát triển cách giải thích của Imre Lakatos về giáo lý khoa học để cho thấy giáo lý Cơ Đốc có gốc rễ trong công trình nghiên cứu lớn của việc giải nghĩa Kinh Thánh thời các giáo phụ, mà Origen đã góp phần thúc đẩy rất nhiều.
Thay vì lý thuyết hóa về thực hành giải nghĩa của Origen theo những thuật ngữ hiện đại và phán xét từ xa, tôi đề nghị chúng ta bước vào trong đó. Bằng cách này, chúng ta có thể đánh giá đúng hơn thiên tài của ông. Và có lẽ chúng ta sẽ nhận ra rằng những giả định của chúng ta về điều gì được xem là sự giải nghĩa tốt sẽ bị thách thức. Khi đưa nghệ thuật giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh của Origen vào trọng tâm, chúng ta có thể cân nhắc khả năng rằng Porphyry đã đánh giá thấp năng lực của những “truyền thuyết ngoại lai” trong Kinh Thánh để biến đổi tư tưởng Hy Lạp, thay vì ngược lại. Và nếu chúng ta chịu suy xét khả năng này—rằng văn bản Kinh Thánh có thể hấp thụ thế giới, chứ không phải thế giới hấp thụ văn bản—thì chúng ta có thể tìm thấy những ý tưởng mới mẻ về cách phát triển những phương thức giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh thích hợp cho thế kỷ hai mươi mốt.
=====
Trong chương cuối của sách Tin Lành theo Luca, Chúa Giê-xu đã sống lại được mô tả đang đi cùng hai người trên đường đến Em-ma-út. Họ bối rối vì những sự kiện liên quan đến sự bắt bớ, xét xử, và đóng đinh của Chúa Giê-xu. Họ gặp Ngài, nhưng “mắt họ bị ngăn không cho nhìn biết Ngài” (Luca 24:16). Chúa Giê-xu dạy dỗ họ: “Bắt đầu từ Môi-se và các đấng tiên tri, Ngài giải nghĩa cho họ những điều chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh” (câu 27). Sự giải nghĩa này chưa đủ, hoặc ít nhất chỉ có hiệu quả một phần. Hai người vẫn còn mù lòa trong lòng, chưa nhận biết được Chúa Giê-xu. Nhưng họ nài xin người khách lạ, vốn dường như hiểu biết Kinh Thánh rất rõ, ở lại với họ.
Chỉ khi Chúa sống lại bẻ bánh cùng hai môn đồ, mắt họ mới được mở ra (Luca 24:30–31). Họ lập tức hiểu vì sao lòng mình đã nóng cháy khi Chúa Giê-xu giải nghĩa Kinh Thánh cho họ trên đường. Ngài đã chỉ cho họ thấy rằng “cả Kinh Thánh” đã báo trước rằng “Đấng Christ phải chịu thương khó, và ngày thứ ba từ kẻ chết sống lại; rồi sự ăn năn và sự tha tội phải nhân danh Ngài mà giảng ra cho mọi dân” (câu 46–47). Với sự hiểu biết này, được xác chứng trong việc bẻ bánh, các môn đồ đã sẵn sàng để được “mặc lấy quyền phép từ trên cao” (câu 49).
Trong sự hiểu biết Kinh Thánh và cách giải nghĩa, các giáo phụ đã hành động dựa trên những giả định được thể hiện trong câu chuyện này của sách Luca. Vậy chúng ta phải đọc thế nào để lòng mình cũng nóng cháy, khao khát một sự thông công sâu nhiệm hơn với Chúa sống lại?
Irenaeus ở Lyons đã đưa ra một số phạm trù then chốt cho truyền thống Cơ Đốc thời kỳ đầu, kể cả cho Origen. Ông giả định rằng Cựu Ước, dù đa dạng về văn phong và nội dung, vẫn là một văn bản duy nhất với một điểm hay thông điệp thống nhất. Dùng thuật ngữ của truyền thống tu từ cổ, Irenaeus gọi thông điệp thống nhất của Kinh Thánh là “giả thuyết” (hypothesis).
Ở một mức độ, ông xem giả thuyết này như một đặc tính văn chương: Kinh Thánh tự nó gắn kết, và những người đọc nhạy bén với các dấu hiệu và manh mối trong văn bản sẽ hướng đến một sự đọc thống nhất. Nhưng quan trọng hơn, Irenaeus cho rằng giả thuyết của Kinh Thánh phản ánh thực tế rằng cả thế giới được cai quản bởi một kế hoạch thần thượng duy nhất, tức là “sự kiểm soát” (economy). Sự kiểm soát này được cấu thành bởi một chuỗi nhiều tầng lớp của các thực tại được dựng nên, các biến cố lịch sử, và những sự sắp đặt cùng luật lệ của Đức Chúa Trời. Tóm lại, Irenaeus nhìn toàn bộ tiến trình thế giới như một hệ thống đầy ý nghĩa được định hình bởi ý định cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Và, theo Ê-phê-sô 1:10, Irenaeus lập luận rằng những khía cạnh phức tạp của sự kiểm soát thần thượng, kể cả hệ thống rộng lớn của các dấu hiệu tạo nên Cựu Ước, đều được quy tụ lại trong Chúa Giê-xu Christ. “Quy tụ” (anakephalaiōsis trong tiếng Hy Lạp) là một thuật ngữ chuẩn khác trong truyền thống tu từ cổ. Trong tiếng Anh hiện đại, chúng ta nói về việc kết thúc một bài diễn thuyết bằng một “recap,” tức là phần kết luận trong đó người nói nhấn mạnh chủ đề bằng cách lặp lại những luận điểm chính trong một hình thức tóm tắt ngắn gọn, sinh động. Theo Irenaeus (và ông đại diện cho toàn bộ truyền thống Cơ Đốc), Đấng Christ là nền tảng và điểm kết thúc của sự kiểm soát thần thượng. Ngài là sự tổng kết cuối cùng của lời phán của Đức Chúa Trời (“Đức Chúa Trời phán rằng…”) vốn đem đến thực tại.
Theo Irenaeus (và toàn bộ truyền thống giáo phụ), Đức Chúa Trời soi dẫn sự biên soạn Kinh Thánh phù hợp với kế hoạch cứu rỗi của Ngài. Cách Kinh Thánh được mã hóa như vậy vẫn còn là điều khó hiểu. Hội Thánh thời kỳ đầu chưa có sự đồng thuận cố định về giáo lý soi dẫn. Có những quan điểm khác nhau về cách Kinh Thánh diễn đạt giả thuyết bao quát vốn được quy tụ trong Đấng Christ. Nhưng có một sự đồng thuận rằng sự đa dạng không thể phủ nhận của Kinh Thánh—nói nhiều điều theo nhiều cách khác nhau—vẫn mô tả một sự kiểm soát thần thượng duy nhất. Irenaeus viết:
“Vậy nếu ai chăm chỉ đọc Kinh Thánh, thì sẽ thấy trong đó có sự tường thuật về Đấng Christ, và sự báo trước về sự kêu gọi mới [của dân ngoại]. Vì Đấng Christ là của báu giấu trong ruộng, tức là trong thế gian này (vì ‘ruộng là thế gian’ [Ma-thi-ơ 13:38]); nhưng của báu giấu trong Kinh Thánh là Đấng Christ, vì Ngài đã được chỉ ra bởi các hình bóng và thí dụ. Bởi đó, nhân tánh của Ngài không thể được hiểu, trước khi sự thành tựu của những điều đã được dự ngôn xảy đến, tức là sự giáng lâm của Đấng Christ.”
Sự hiệp nhất của Kinh Thánh phát sinh từ sự duy nhất căn bản hơn của mục đích Đức Chúa Trời trong và cho muôn vật, một sự kiểm soát hướng đến sự thành tựu trong Đấng Christ. Vậy, mục tiêu của sự giải nghĩa là đưa Đấng Christ, của báu giấu trong ruộng Kinh Thánh, ra ánh sáng. Làm như vậy sẽ khiến người đọc khao khát sống trọn vẹn hơn trong lẽ thật của Ngài.
Theo sự đồng thuận rộng lớn của truyền thống giáo phụ, Origen đã tìm cách đọc Kinh Thánh theo cách làm sáng tỏ về Đấng Christ. Khi chú giải sách Giô-suê, Origen tập hợp nhiều bằng chứng văn bản để cho thấy rằng Giô-suê, người kế vị Môi-se, là hình bóng của Chúa Giê-xu (tên gọi của hai nhân vật này trong tiếng Hy Lạp là giống nhau). “Vậy thì tất cả những điều này dẫn chúng ta đến đâu?” Origen hỏi. Câu trả lời của ông là một định nghĩa rõ ràng về sự giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh: “Rõ ràng là đến chỗ này, rằng sách ấy không chỉ cho chúng ta thấy những việc làm của con trai Nun, nhưng nó bày tỏ cho chúng ta những sự mầu nhiệm của Chúa Giê-xu là Chúa tôi.” Không phải Origen nghĩ rằng sách Giô-suê không nói về Giô-suê. Giả định về một sự kiểm soát thần thượng được hoàn tất trong Đấng Christ cho phép ông vừa khẳng định những tham chiếu trực tiếp đến Giô-suê, vừa định hướng nhân vật lịch sử này và ghi chép về các việc làm của ông đến mục đích lớn lao hơn là sự thành tựu trong Đấng Christ. Đó là giả định của Origen, cũng như của truyền thống mà ông thừa hưởng, rằng sách Giô-suê đầy dẫy những manh mối văn bản, nếu được theo đúng cách, sẽ đưa Chúa Giê-xu ra rõ ràng hơn, hướng tâm trí chúng ta đến lẽ thật của Ngài.
Tìm thấy của báu là Đấng Christ giấu trong ruộng Kinh Thánh không phải lúc nào cũng là một công việc đơn giản. Không phải mọi nhân vật Kinh Thánh đều có tên thuận tiện như Giô-suê. Hơn nữa, sự giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh là một công trình quy mô lớn, và hiếm khi một cách giải nghĩa cụ thể có thể bày tỏ trọn vẹn giả thuyết của Kinh Thánh. Ít có cách giải nghĩa nào có thể kết thúc bằng những kết luận minh nhiên mang tính Christ học. Cần có những bước tiếp cận sơ khởi. Ruộng Kinh Thánh phải được vạch ra và sắp đặt, và của báu phải được liệt kê và phân loại. Chính trong việc thực hiện những khía cạnh chi tiết này của sự giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh mà Origen nổi bật. Dựa trên lời chứng trong II Ti-mô-thê 3:16 (“Cả Kinh Thánh đều bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, cho sự bẻ trách, cho sự sửa trị, cho sự dạy người trong sự công bình”), Origen đã nổi tiếng trong thời của ông vì khả năng đưa những đoạn Kinh Thánh dường như khó hiểu hoặc không liên quan vào trong sự phục vụ cho mục tiêu bao quát là nhận biết Đấng Christ trong Kinh Thánh.
Một ví dụ điển hình có thể thấy trong bài giảng thứ năm của ông về sách Xuất Ê-díp-tô Ký. Đoạn Kinh Thánh làm nền tảng cho bài giảng này là sự mô tả về cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên khỏi xứ Ê-díp-tô (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:37 trở đi). Sự giải nghĩa của Origen minh họa cho sự kết hợp phi thường giữa sự chú tâm mãnh liệt vào chi tiết văn bản với một tổng hợp thần học sâu sắc.
Origen bắt đầu bằng cách nhắc nhở người nghe về sự giải nghĩa sách Xuất Ê-díp-tô Ký của Sứ đồ Phao-lô trong I Cô-rinh-tô 10. Cách đọc của Phao-lô liên quan đến việc sắp đặt ẩn dụ các biến cố theo những tín điều và thực hành cốt lõi của Cơ Đốc giáo. Sự vượt qua Biển Đỏ là phép báp-têm; ma-na từ trời tương ứng với bánh Tiệc Thánh; nước từ hòn đá mà Môi-se đã đập bằng cây gậy gợi ý đến rượu Tiệc Thánh; và hòn đá chỉ về chính Đấng Christ. Origen nhắc lại sự sắp đặt này của những yếu tố chính trong cuộc xuất hành vào những lẽ mầu nhiệm trung tâm của đức tin, củng cố cách đọc của Phao-lô bằng cách viện dẫn Giăng 3:5 (“Nếu một người chẳng sanh bởi nước và Thánh Linh, thì không được vào nước Đức Chúa Trời”) và Giăng 6:51 (“Ta là bánh hằng sống từ trên trời xuống”). Nhưng những lời này chỉ là khởi đầu. Origen ghi nhận rằng Phao-lô “đã dạy Hội Thánh mà ông nhóm lại từ dân ngoại cách phải giải nghĩa các sách Luật pháp.”
Origen mở rộng cách tiếp cận này để “chúng ta, bởi sự hiểu biết Luật pháp cách theo ý nghĩa thuộc linh, có thể cho thấy rằng Luật pháp đã được ban ra cách công chính để dạy dỗ Hội Thánh.” Với thực hành giải nghĩa của Phao-lô trong tâm trí, ông khuyên: “Chúng ta hãy vun trồng… những hạt giống của sự hiểu biết theo ý nghĩa thuộc linh nhận được từ sứ đồ Phao-lô được phước.”
Phần lớn các câu Kinh Thánh tạo nên câu chuyện về cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên khỏi Ê-díp-tô liên quan đến việc làm bánh không men, những điều răn của Đức Chúa Trời để ghi nhớ lễ Vượt Qua, và sự vượt qua Biển Đỏ. Những chất liệu này đầy dẫy ý nghĩa thần học. Nhưng đó không phải là trọng tâm của Origen. Thay vào đó, như thể ông muốn tìm hạt giống nhỏ nhất, Origen chú ý đến địa lý thực tế của cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên.
Kinh Thánh chép rằng dân Y-sơ-ra-ên “đi từ Ram-se và đến Su-cốt. Rồi họ đi từ Su-cốt và đến Ê-tham” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:37; 13:20). Nếu có ai sắp rời khỏi Ê-díp-tô, nếu có ai muốn từ bỏ những việc làm tối tăm của thế gian này và bóng tối của sự sai lầm, thì trước hết người ấy phải rời khỏi “Ram-se.” Ram-se có nghĩa là “sự náo động của sâu bướm.” Vậy hãy rời khỏi Ram-se, nếu ngươi muốn đến nơi mà Chúa sẽ làm Đấng dẫn dắt ngươi và đi trước ngươi “trong trụ mây” (Xuất Ê-díp-tô Ký 13:21), và “hòn đá” sẽ theo ngươi (I Cô-rinh-tô 10:3–4), vốn ban cho ngươi “thức ăn theo ý nghĩa thuộc linh” và “nước uống theo ý nghĩa thuộc linh” không kém. Ngươi cũng chớ chứa của báu “nơi mà sâu bọ làm hư, và kẻ trộm đào ngạch vào mà lấy” (Ma-thi-ơ 6:20). Đây là điều Chúa phán rõ ràng trong các sách Tin Lành: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy bán hết gia tài mình, phân phát cho kẻ nghèo khó, thì ngươi sẽ có của báu ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta” (Ma-thi-ơ 19:21). Vậy, đây chính là sự rời khỏi “Ram-se” và theo Đấng Christ.
Sự suy gẫm của Origen về ý nghĩa của “Ram-se” khá ngắn gọn. Khi bài giảng tiếp tục, Origen theo dõi hành trình đi tới, thực hiện những suy tư giải nghĩa tương tự về các địa danh khác được nhắc đến trong tường thuật Xuất Ê-díp-tô Ký. Nhưng tôi muốn dừng lại ở đây, vì bức tranh súc tích này về sự giải nghĩa của Origen đã cho chúng ta đủ chất liệu để bước vào trong lô-gíc của cách ông đọc Kinh Thánh.
Cường độ mà Origen khai triển một chuỗi liên kết Kinh Thánh chỉ từ cái tên “Ram-se” có thể khiến chúng ta kết luận rằng ông đã theo ý nghĩa thuộc linh hóa văn bản đến mức những lời trong Xuất Ê-díp-tô Ký (trong trường hợp này là một từ duy nhất) không còn có thẩm quyền đối với sự giải nghĩa của ông. Một trong những sử gia chống Origen có ảnh hưởng nhất của thế kỷ trước, R. P. C. Hanson, cho rằng ẩn dụ (và theo thuật ngữ này Hanson bao gồm hầu hết mọi hình thức giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh) là “một kỹ thuật để giải phóng người giải nghĩa khỏi sự ràng buộc với văn bản.” Hanson xem cách tiếp cận của Origen là một ví dụ nghiêm trọng về sự giải nghĩa không bị ràng buộc. Kết quả là sự giải nghĩa “tùy tiện,” “chủ quan,” và “chống lịch sử.” Ít ai phê phán mạnh mẽ như Hanson, nhưng phần lớn độc giả hiện đại đều giả định rằng những lời bình giải như thế chỉ là dịp để Origen trích dẫn lại vài câu yêu thích của ông từ Tân Ước.
Tôi không muốn phủ nhận cảm giác lo ngại khi đối diện với sự giải nghĩa của Origen. Nhưng tôi bác bỏ sự phán xét rằng Origen đang “áp đặt” ý nghĩa lên văn bản. Hãy xem cách sự giải nghĩa của ông vận hành. Origen đi từ “sâu bọ” trong ý nghĩa của tên địa danh Hê-bơ-rơ “Ram-se” đến “sâu bọ” trong một câu trong Bài giảng trên núi. Sự liên kết này không chỉ là ngữ nghĩa. Origen nhắc đến “những việc làm tối tăm của thế gian,” và dù ông không nói rõ, hình ảnh về sâu bọ với sự bay loạn xạ, mù quáng và vô ích gợi lên sự nắm bắt vô ích và mù quáng của loài người bị mắc kẹt trong cạm bẫy của dục vọng thế gian. “Sâu bọ” dẫn đến “sâu bọ,” và một khi sự chuyển hướng ấy được thực hiện, Origen nhanh chóng nắm lấy từ “của báu,” và với manh mối ngôn từ ấy, ông liên kết lời cảnh báo trong Ma-thi-ơ 6:20 với lời khuyên tích cực của Đấng Christ là hãy bố thí cho kẻ nghèo và “hãy đến mà theo ta” (Ma-thi-ơ 19:21).
Những bước giải nghĩa này không hề tùy tiện. Một chuỗi hình ảnh và những tiếng vọng ngôn từ giữ cho sự giải nghĩa được gắn kết. Origen vận hành với giả định mà Irenaeus đã nhấn mạnh: Kinh Thánh làm chứng cho một chuỗi các biến cố, nhân vật, địa danh, và trong trường hợp này, cả những từ Hê-bơ-rơ và Hy Lạp, vốn là một phần của sự kiểm soát thần thượng. Tất cả những yếu tố riêng lẻ đều đóng vai trò trong một bố cục thống nhất duy nhất. Chúng là những mảnh ghép của một bức tranh lớn đang chờ được sắp đặt đúng cách để tiếng gọi của sự môn đồ hóa có thể được nghe lại. Origen không đặt các yếu tố văn bản vào trong cái mà độc giả hiện đại có thể gọi là “bối cảnh lịch sử.” Thay vào đó, hình ảnh, từ ngữ, và câu Kinh Thánh được đặt trong sự kiểm soát thần thượng. Origen đi từ tên địa danh “Ram-se” đến hình ảnh sâu bọ ăn mòn trong Ma-thi-ơ 6:20, đến lời khuyên của Chúa Giê-xu về việc bố thí cho người nghèo trong Ma-thi-ơ 19:21, đến điều có thể xem như sự tổng kết của cả Tân Ước: “Hãy đến mà theo ta.” Và ông làm điều đó với sự tin chắc rằng những liên kết ngôn từ này không phải là ngẫu nhiên. Đức Chúa Trời trong sự quan phòng của Ngài đã đặt những manh mối này trong văn bản.
Những manh mối trong ruộng Kinh Thánh dẫn đến của báu giấu bên trong: Chúa đã chịu đóng đinh và sống lại. Chúng ta có thể không chia sẻ niềm tin này với Irenaeus và Origen (và với truyền thống Cơ Đốc cho đến thời hiện đại). Nhưng chúng ta nên có sự liêm chính trí tuệ đủ để nhận ra rằng khái niệm về một sự kiểm soát thần thượng đã định hình sự giải nghĩa. Hãy xem một sự so sánh với nghiên cứu khoa học. Các nhà sinh học tiến hóa nghiên cứu chi tiết về hình thái và chức năng của động vật. Dữ liệu không bao giờ tự nó biểu hiện một đường tiến hóa trơn tru, hiển nhiên. Các nhà sinh học phải tạo ra những liên kết trong phân tích sự phát triển của các loài, và những liên kết này đòi hỏi những “bước nhảy” từ điểm dữ liệu này sang điểm dữ liệu khác. Điều khiến chúng ta tin rằng những bước nhảy ấy không tùy tiện là vì chúng phù hợp và củng cố giả thuyết tiến hóa. Nếu sự phân tích trung thành với dữ liệu, và nếu sự phân tích giúp mở rộng phạm vi giải nghĩa của lý thuyết tiến hóa, thì chúng ta có khuynh hướng chấp nhận lý luận của các nhà sinh học như là có kỷ luật và khách quan, chứ không phải tùy tiện và chủ quan.
Điều tương tự cũng đúng với Origen. Không thể phản đối rằng ông tập trung vào các địa danh mà bỏ qua câu chuyện Xuất Ê-díp-tô, cũng như không thể phàn nàn rằng một nhà sinh học chỉ đang xem xét hành vi giao phối của loài ếch thay vì giải phẫu của chúng. Một sự giải nghĩa là tốt nếu nó hỗ trợ và góp phần vào sự hiểu biết của chúng ta về giả thuyết đã được giả định—và giả thuyết của chúng ta là vững chắc trong chừng mực nó giúp chúng ta sắp đặt dữ liệu theo những cách thuyết phục và soi sáng.
Trong sự suy gẫm về việc rời khỏi Ram-se, Origen đang thêm sự hỗ trợ cho công trình lớn của truyền thống giáo phụ nhằm phát triển một cách đọc toàn diện Kinh Thánh dưới giả thuyết rằng mọi sự đều được quy tụ và tổng kết trong Đấng Christ. Origen lấy một chi tiết Kinh Thánh tưởng chừng như không liên quan (“Ram-se”) và giải nghĩa nó hướng đến mệnh lệnh rộng lớn của Cơ Đốc giáo: “Hãy đến mà theo ta.” Ý nghĩa Hê-bơ-rơ của “Ram-se” khởi động một chuỗi lời bình luận kết thúc bằng lời mời cứu rỗi của Đấng Christ. Ông nhận ra tiềm năng Christ học trong một chi tiết của Kinh Thánh và bày tỏ nó trong sự giải nghĩa của mình.
Nhưng còn hơn thế nữa. Một độc giả tinh tế của đoạn giải nghĩa ngắn này có thể thấy rằng Origen đang đối diện với một vấn đề ngầm ẩn trong sự giải nghĩa Xuất Ê-díp-tô của Sứ đồ Phao-lô trong I Cô-rinh-tô. Sự giải nghĩa của Phao-lô liên kết hòn đá với Đấng Christ, và ông ghi nhận rằng hòn đá (Đấng Christ) theo sau dân Y-sơ-ra-ên (những người đã chịu báp-têm). Với Origen, lời của Phao-lô phải là chân thật, vì chúng mang thẩm quyền sứ đồ. Nhưng chúng dường như mâu thuẫn với lời khuyên Kinh Thánh rằng phải theo Đấng Christ. Vậy thì thế nào: Đấng Christ theo sau chúng ta, hay Ngài đi trước để chúng ta theo? Ngài là Alpha, hay Ngài là Omega?
Origen không nêu rõ, càng không giải quyết, câu hỏi thần học này trong phần nhỏ của sự giải nghĩa mà chúng ta đang phân tích. Thay vào đó, ông bổ sung cho sơ đồ của Phao-lô trong I Cô-rinh-tô 10. Cách mà Origen kết thúc chuỗi liên kết ngôn từ bằng lời khuyên “Hãy đến mà theo ta” củng cố nhận định của ông rằng Chúa dẫn dắt “trong trụ mây” đồng thời Ngài cũng theo sau như “hòn đá” để chúng ta luôn có thể trở lại nhận sự nuôi dưỡng mới mẻ của “thức ăn theo ý nghĩa thuộc linh” và “nước uống theo ý nghĩa thuộc linh.” Những từ ngữ thúc đẩy sự giải nghĩa (“Ram-se,” “sâu bọ,” “của báu,” “Hãy đến mà theo ta”) đều chảy theo cùng một hướng với giả thuyết của Kinh Thánh như một tổng thể. Đấng Christ vừa là nền tảng vững chắc (không chỉ trong đời sống nghi lễ của Hội Thánh mà còn là Lời của sự sáng tạo), vừa là đích đến cuối cùng (không chỉ như khuôn mẫu của tình yêu hy sinh, mà còn là Con Đức Chúa Trời đời đời). Vậy, cũng như một nhà sinh học công bố một bài nghiên cứu về hành vi giao phối của một loài ếch ít được biết đến ở Tây Texas, qua đó thêm một viên gạch vào tòa nhà lý thuyết tiến hóa, thì sự giải nghĩa của Origen về Ram-se cũng góp phần vào công trình lớn của sự giải nghĩa Kinh Thánh trong truyền thống Cơ Đốc.
Có thể có người phản đối rằng nan đề thần học về Đấng Christ là Alpha và Omega không được tìm thấy trong phần giải nghĩa này của Origen, ít nhất là không hiển nhiên. Và người ấy cũng có thể nhận xét rằng tôi đã làm với Origen điều mà Origen đã làm với nghĩa đen của Xuất Ê-díp-tô—đẩy nó vượt quá điều nó thực sự nói. Sự phản đối này đưa chúng ta trở lại điểm khởi đầu và làm sáng tỏ điều cốt yếu trong sự giải nghĩa. Trong thực hành của Origen và truyền thống giáo phụ rộng lớn, sự giải nghĩa là sự chuẩn bị. Chức năng chính của sự giải nghĩa là khiến chúng ta bước đi đúng hướng. Nó không thể đưa chúng ta đến đích như một tam đoạn luận đưa chúng ta đến kết luận. Mục tiêu của sự giải nghĩa là khiến người đọc sẵn sàng để “thấy” Đấng Christ. Như chương cuối của sách Luca cho thấy rõ, sự chuẩn bị và sự nhìn thấy là hai điều khác biệt.
=====
Vai trò chuẩn bị và dẫn dắt của sự giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh giải thích vì sao chúng ta cảm thấy nó mơ hồ, mở rộng, và chưa kết luận. Cách đọc mà Origen nổi tiếng được xem là chính đáng là vì nó hướng đến giả thuyết lớn của Kinh Thánh, chuẩn bị cho chúng ta một bước xa hơn, vượt khỏi sự trình bày có trật tự của lời bình luận để đi đến sự ôm lấy lẽ thật của Đấng Christ bằng đức tin. Theo khía cạnh này, Origen là một nhà giải nghĩa có kỷ luật phi thường. Ông không đưa ra những kết luận giải nghĩa như cách đọc hiện đại của Kinh Thánh. Ông không nói cho độc giả biết “ý nghĩa thần học” của các đoạn Kinh Thánh—chẳng hạn như việc giải cứu dân Y-sơ-ra-ên bày tỏ chiều sâu tình yêu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại, hoặc một sự tổng quát nào khác. Thay vào đó, Origen ghép các mảnh ghép của Kinh Thánh theo cách khiến cho người đọc (hoặc người nghe, như trong thời của ông) được thúc đẩy để bước thêm một bước nữa. Ông khiến chúng ta hướng đến sự suy gẫm về sơ đồ lớn hơn của những biến cố, nhân vật, và từ ngữ liên kết lại trong Đấng Christ.
Origen mô tả sự giải nghĩa như một công trình xây dựng đem đến cho chúng ta những viễn cảnh đầy hứa hẹn, chứ không phải như một luận chứng dẫn đến kết luận dứt khoát. Sự giải nghĩa Kinh Thánh tốt xây dựng một “ngôi nhà của lý trí,” và nó được dựng nên bằng sự công bố và chữ viết theo cách mà “Đức Chúa Trời có thể thêm sự cộng tác tự do của Ngài vào công trình cao quý ấy.” Những từ như “Ram-se” gợi ra những từ khác như “sâu bọ” và “của báu,” vốn lại gợi đến những kỷ luật theo ý nghĩa thuộc linh của việc lìa bỏ những sự thuộc về thế gian và hiến dâng đời sống để theo Đấng Christ. Đây là những viên gạch và xà ngang trong việc xây dựng ngôi nhà của sự giải nghĩa. Và ngôi nhà này không phải là đích đến của sự giải nghĩa Kinh Thánh. Nó là một công trình các dấu hiệu được dựng lên bởi người giải nghĩa để độc giả được định hướng đúng và do đó “có thể tiếp nhận những nguyên tắc của lẽ thật.” Ngôi nhà của sự giải nghĩa cung cấp những khung cửa sổ để chúng ta nhìn ra khi tìm cách suy gẫm về Đức Chúa Trời, vốn là mục đích đúng đắn của mọi hoạt động trí tuệ, đặc biệt là sự giải nghĩa Kinh Thánh. Như phần kết của sách Luca cho thấy, sự giải nghĩa Kinh Thánh không đem đến những lẽ thật trong những gói mệnh đề gọn gàng; nó chuẩn bị độc giả để được mặc lấy quyền phép từ trên cao.
Đối với những ai muốn học từ Origen, sự thử nghiệm của sự giải nghĩa không nằm ở sự gần gũi với nghĩa đen của Kinh Thánh, cũng như tính thuyết phục của lý thuyết tiến hóa không phụ thuộc vào việc mô tả hình thái cụ thể của loài ếch. Origen chắc chắn muốn đưa nghĩa đen của Kinh Thánh vào trọng tâm, cũng như các nhà khoa học muốn có dữ liệu chính xác. Ông đã học tiếng Hê-bơ-rơ và tham khảo các học giả Do Thái để được thông tin về những ý kiến học thuật tốt nhất liên quan đến ý nghĩa của những từ như “Ram-se.” Ông đã biên soạn công cụ bình luận văn bản toàn diện nhất của thời cổ, Hexapla, được gọi như vậy vì nó là một bản thảo sắp xếp bản Hê-bơ-rơ của Cựu Ước cùng với năm bản dịch Hy Lạp trong các cột song song. Việc nắm chắc dữ liệu rõ ràng là quan trọng đối với Origen. Nhưng mục tiêu của sự giải nghĩa là sự diễn giải, chứ không phải sự mô tả.
Origen viết: “Nội dung của Kinh Thánh là những hình thức bên ngoài của một số sự mầu nhiệm và là hình ảnh của những điều thuộc về Đức Chúa Trời.” Thước đo thật sự của sự giải nghĩa, cũng như của bất kỳ sự diễn giải trí tuệ nào, là liệu cách đọc của chúng ta có đưa chúng ta đến chỗ thấy điều gì giữ cho mọi phần khác nhau được gắn kết lại hay không. Cũng như hóa thạch là những dấu hiệu hữu hình của sự kiểm soát tiến hóa qua sự chọn lọc tự nhiên, thì các dấu hiệu của Kinh Thánh cũng bày tỏ ý định định hình của Đức Chúa Trời, tức là sự kiểm soát cứu chuộc trong Đấng Christ. Nhà sinh học muốn chúng ta thấy tiến trình chọn lọc tự nhiên đang vận hành trong sự tiến hóa của loài côn trùng nhỏ bé nhất. Origen muốn chúng ta thấy tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời đang vận hành ngay cả trong những chi tiết nhỏ nhất của Kinh Thánh.
Origen cho rằng mục đích thiết yếu của sự giải nghĩa Kinh Thánh (và ở điểm này ông không khác với phần còn lại của truyền thống Cơ Đốc thời kỳ đầu) là dẫn dắt người đọc qua văn bản Kinh Thánh để đạt đến sự hiểu biết về sự hiệp nhất lớn lao mà nó mô tả, và từ sự hiểu biết ấy hướng đến sự suy gẫm về Đức Chúa Trời. Vì lý do này, cách tiếp cận của ông đối với sự giải nghĩa (và một lần nữa, điều này phù hợp với truyền thống giáo phụ rộng lớn) sẽ luôn khiến chúng ta cảm thấy như “không kiểm soát được.”
Phần lớn các nhà giải nghĩa Kinh Thánh hiện đại không chấp nhận giả thuyết rằng mọi sự đều được hoàn tất trong Đấng Christ, và nếu có chấp nhận, họ nghĩ rằng phải tách biệt đức tin của mình khỏi công việc giải nghĩa. Kết quả là, các truyền thống giải nghĩa hiện đại xây dựng những ngôi nhà của sự giải nghĩa giúp chúng ta thấy lẽ thật của những sự kiểm soát thuộc thế gian: sự kiểm soát của tôn giáo Y-sơ-ra-ên cổ; sự kiểm soát của “những gì thực sự đã xảy ra”; sự kiểm soát của những khái niệm thần học trôi nổi trong tâm trí của những tác giả hoặc biên tập giả định; hoặc, nếu có khuynh hướng hậu hiện đại, sự kiểm soát của quyền lực, dục vọng, và sự thống trị. Bằng những cách này, chúng ta đóng chặt các văn bản Kinh Thánh vào những giả định của mình về cách thế giới “thực sự vận hành.”
Thật ra, chính chúng ta—chứ không phải Origen—là những người tránh xa văn bản như văn bản. Tham vọng của chúng ta là gắn Kinh Thánh vào một điều gì đó ổn định và dễ quản lý hơn thế giới của các dấu hiệu vốn luôn chỉ về Đấng sáng tạo thần thượng, Tác giả không chỉ của Kinh Thánh mà còn của số phận chúng ta. Bởi vì chúng ta giả định rằng nguyên nhân và kết quả lịch sử mới là yếu tố quyết định cuối cùng, nên phương pháp của chúng ta có xu hướng đi xuống thay vì ngước mắt lên nhìn quyền năng thiên thượng đang cai quản muôn vật. Chúng ta “hiện thân” cho Kinh Thánh thay vì theo nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh của nó. “Hiện thân” là ý nghĩa siêu hình của lý tưởng giải nghĩa hiện đại, tức là đặt các văn bản Kinh Thánh vào trong bối cảnh lịch sử và xã hội của chúng. Hoặc chúng ta lý thuyết hóa Kinh Thánh, dịch nó sang ngôn ngữ của thần học hệ thống. Hoặc chúng ta giải nghĩa theo một khái niệm chủ đạo như chế độ gia trưởng, một hướng đi xuống khác vốn xem dục vọng quyền lực và sự thống trị là sự kiểm soát thật sự của thế giới.
Origen đi theo một hướng khác. Ông theo ý nghĩa thuộc linh hóa, không phải bằng cách buôn bán những ý tưởng mơ hồ hay hướng sự chú ý đến những lời sáo rỗng thuộc linh, nhưng đúng hơn, theo nghĩa rất chính xác là xây dựng một cách đọc các từ ngữ—nghĩa đen, trật tự của chúng, và tiềm năng biểu tượng của chúng—nhằm chuẩn bị cho chúng ta sự suy gẫm về những lẽ mầu nhiệm của đức tin Cơ Đốc. Origen tự hỏi:
“Ai, khi đọc những sự mặc khải được ban cho Giăng, lại không kinh ngạc trước sự sâu kín khó hiểu của những lẽ mầu nhiệm không thể nói ra được chứa đựng trong đó, vốn hiển nhiên ngay cả cho người không hiểu điều đã được viết? Còn về các thư tín của các sứ đồ, ai là người có khả năng giải nghĩa văn chương lại nghĩ rằng chúng rõ ràng và dễ hiểu, khi ngay trong đó có hàng ngàn đoạn văn cung cấp, như thể qua một khung cửa sổ, một khe hẹp dẫn đến vô số những tư tưởng sâu xa nhất?”
Mục tiêu của Origen không phải là dùng ngòi bút của mình (hay đúng hơn, ngòi bút của những người thư ký ghi chép lại các bài giảng và bài giảng dạy của ông) để đi qua khe hẹp ấy. Đây là điều mỗi chúng ta phải làm với chính tư tưởng và lời cầu nguyện của mình. Origen nhắm đến sự giải nghĩa tốt, vốn dựng nên khung cửa sổ và đưa chúng ta đến bệ cửa. Nó khơi dậy lòng khao khát của chúng ta để nhìn ra thực tại thần thượng, chuẩn bị chúng ta đáp lại lời mời của Đấng Christ: “Hãy đến mà theo ta.”
=====
Origen là một bậc thầy trong sự giải nghĩa Kinh Thánh, nhưng ông là một bậc thầy trong khuôn khổ của sự đồng thuận chung. Nơi ông đổi mới là trong thần học suy tư. Một số đổi mới của ông đã trở nên gây tranh cãi và sau đó khiến tên tuổi Origen bị vấy bẩn với cáo buộc tà giáo. Nhưng mối quan tâm của tôi không nằm ở những suy gẫm của Origen về sự cứu rỗi của ma quỷ, vốn bị các thế hệ sau cho là sai lầm. Thay vào đó, tôi muốn tập trung vào cách ông trình bày về Kinh Thánh và sự giải nghĩa được phác thảo trong quyển 4 của On First Principles. Trong phần này, Origen soi sáng một cách mới mẻ và thú vị về vai trò của nghĩa đen của Kinh Thánh trong kế hoạch thần thượng. Ông đem ý nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh cho công việc giải nghĩa, cho thấy nỗ lực cần thiết để xây dựng một ngôi nhà giải nghĩa bền vững chính là một kỷ luật khổ hạnh thích hợp, một con đường thập tự giải nghĩa cho những người đọc trung tín. Nhưng trước khi đi vào quyển 4, tôi cần giải thích cách Origen trình bày về phước hạnh của sự hiện thân. Vì nghĩa đen của Kinh Thánh—sự hiện thân của nó trong các dấu hiệu ngôn ngữ—đóng vai trò như một khía cạnh quan trọng của phước hạnh này.
Origen sử dụng một vốn từ và mô hình tư tưởng xuất phát từ triết học Plato. Chính ảnh hưởng này đã dẫn đến sự hiểu lầm của Porphyry (được nhiều học giả hiện đại chia sẻ) rằng Origen giữ quan điểm Plato về bản chất và số phận của sự hiện thân của chúng ta. Nhưng điều đó không đúng. Origen đưa ra một cách giải thích về thân thể dựa trên Kinh Thánh, khác biệt rõ rệt với quan điểm Plato vốn xem thân thể như một trở ngại cho đời sống thuộc linh, một gánh nặng chết chóc đè nặng tia sáng thần thượng bên trong. Ngược lại, Origen xem xét những lợi ích của sự hiện hữu trong thân thể. Ông nhận định rằng thân thể có tính mềm dẻo và có khả năng biến đổi. Sự dễ thay đổi của thân thể đem đến cho Đức Chúa Trời một con đường ảnh hưởng có thể hướng dẫn và định hình đời sống chúng ta mà không ép buộc hay kiểm soát ý chí của chúng ta. Trong một đoạn quan trọng, Origen viết:
“Bản chất của thân thể có thể thay đổi trong thực chất, để Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa muôn vật, trong bất kỳ công trình thiết kế, xây dựng hay phục hồi nào mà Ngài muốn thực hiện, đều có sẵn chất liệu này để phục vụ cho mọi mục đích, và Ngài có thể biến đổi và chuyển nó thành bất kỳ hình dạng hay loài nào Ngài muốn, tùy theo công trạng của sự vật.”
Tóm lại, sự hiện thân là một phước hạnh—một kết luận hoàn toàn không theo Plato. Thân xác chúng ta khiến chúng ta chịu sự chi phối của sự kiểm soát thần thượng được định hướng đến sự cứu chuộc trong Đấng Christ.
Nói về sự hiện thân như một phước hạnh có vẻ nghịch lý, vì rất thường chúng ta kinh nghiệm sự kiểm soát của xác thịt mình như là đau đớn và khổ sở. Chúng ta khát và đói. Chúng ta bị bệnh. Chúng ta già đi và trở nên yếu đuối. Chúng ta chết. Điểm then chốt đối với Origen là Đức Chúa Trời đã sắp đặt và định hình thế giới được dựng nên để sự đau khổ trong thân thể khuyến khích chúng ta hướng sự chú ý về phía thần thượng. Vậy nên, trong On First Principles, tiến trình thế giới được xem như một sự giáo dục của thân thể. Thật vậy, nó được kinh nghiệm một cách chủ quan là “rất nghiêm khắc và chắc chắn đầy đau đớn cho những ai từ chối vâng theo lời của Đức Chúa Trời.” Nhưng thực ra, sự kiểm soát của thực tại được dựng nên được sắp đặt cách khách quan để “dạy dỗ và huấn luyện, nhờ đó qua xác thịt, loài người được các quyền lực thiên thượng giúp đỡ, đang được dạy dỗ và huấn luyện.”
Sự huấn luyện này lôi cuốn chúng ta như những hữu thể hữu hạn, có thân thể, chịu khổ đau—một từ trong tiếng Hy Lạp mà Origen dùng cũng có nghĩa là chịu sự thay đổi. Origen viết: “Chúng ta phải nhận biết rằng thế giới đã được dựng nên với kích thước và đặc tính như vậy để có thể chứa tất cả những linh hồn được định để trải qua sự kỷ luật trong đó.” Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa muôn vật, đã sắp đặt trật tự sáng tạo để chúng ta trải qua một liệu pháp khổ hạnh của sự đau khổ. Đó chính là ân điển của sự hữu hạn trong thân thể của chúng ta.
Trong sự trình bày này (chiếm các quyển 1–3 của On First Principles), Origen phát triển một sự giải nghĩa siêu hình về quan niệm tuần tự hay theo thời gian của Irenaeus về sự kiểm soát thần thượng cai quản các biến cố. Nhìn từ góc độ vũ trụ học hơn là lịch sử cứu rỗi, Đức Chúa Trời đã thiết lập một sự kiểm soát của sự hiện hữu trong thân thể vốn tạo áp lực trên chúng ta, một áp lực mà chúng ta kinh nghiệm như là sự đau khổ. Áp lực này thúc đẩy chúng ta hướng lên, về phía thuộc linh. Thực tế rằng chúng ta chịu bệnh tật và đối diện với sự chết, chẳng hạn, không nhất thiết khiến chúng ta xa rời lẽ thật thuộc linh. Trái lại, như chúng ta thường nhận thấy nơi chính mình và nơi người khác, những nỗi đau của sự hữu hạn thúc giục chúng ta hướng đến mục đích thật sự, tức là sự suy gẫm về những điều cao hơn sự hiện hữu tạm bợ của chúng ta.
Điều tương tự cũng đúng với nghĩa đen của Kinh Thánh. Sự kiểm soát khổ hạnh của Kinh Thánh đi theo sự kiểm soát khổ hạnh của sự sáng tạo. Đức Chúa Trời đã sắp đặt các lời trong Kinh Thánh theo cách mà nghĩa đen gây áp lực cho người đọc hướng đến nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh. Mã ngữ nghĩa của Kinh Thánh không chỉ dạy lẽ thật về sự kiểm soát thần thượng; tính chất nghĩa đen của Kinh Thánh còn hiện thân cho con đường thập tự. Chịu đựng nghĩa đen của Kinh Thánh sẽ đưa người đọc đến với Đấng Christ—nếu người đọc chịu theo các lời ấy đến nơi chúng dẫn dắt.
Trong lời tựa của Giải Kinh sách Nhã ca, Origen giải thích sự giáo dục của nghĩa đen. Ông theo các giáo phụ nói chung khi chỉ ra rằng chúng ta cần trải qua kỷ luật khổ hạnh để thanh tẩy dục vọng hầu tránh sự kích thích xác thịt. Những người đọc chưa kiểm soát được dục vọng tình dục rất dễ sa vào những hình ảnh gợi tình của thi ca tình yêu trong Nhã ca. Tuy nhiên, Origen đi xa hơn một bước. Ông nhận diện một lô-gíc kỷ luật ngay trong văn bản. Trong trường hợp Nhã ca, ông tập trung vào thứ tự của ba sách được gán cho Sa-lô-môn: Châm ngôn, Truyền đạo, và Nhã ca.
Sách thứ nhất, ông cho biết, liên quan đến “đạo đức, đặt ra những quy tắc cho đời sống chung, như là thích hợp, bằng những châm ngôn ngắn gọn và súc tích.” Theo cách phân loại của Origen, Châm ngôn là một sách thuộc về thân thể, trong đó nghĩa đen hướng dẫn người đọc đi đúng đường đến sự công bình. Sách thứ hai, Truyền đạo, dạy dỗ về “những sự tự nhiên,” và “bằng cách phân biệt chúng là hư không và vô ích với những gì hữu ích và cần thiết, [Sa-lô-môn] cảnh báo rằng phải từ bỏ sự hư không và theo đuổi điều hữu ích và đúng đắn.” Sách thứ hai của Sa-lô-môn vì thế được Origen xem là mang tính triết học. Nó được viết ở mức độ của linh hồn, đem đến sự hướng dẫn đến con đường đúng đắn, không phải trong từng câu theo nghĩa đen, nhưng trong sự trình bày tổng thể của sách về sự hư không của những điều thuộc thời gian.
Theo Origen, hai sách này được sắp đặt cách quan phòng trước Nhã ca trong quy điển Kinh Thánh, vì người đọc phải đi qua những giai đoạn phát triển thuộc linh này để có thể đọc đúng cách sách thứ ba và cuối cùng của Sa-lô-môn. Bằng cách này, chính thứ tự của các sách trong Kinh Thánh cung cấp một sự giáo dục về giải nghĩa, đưa người đọc qua một tiến trình khiến họ có khả năng giải nghĩa đúng đắn nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh của bài thơ tình nổi tiếng trong Kinh Thánh.
Hướng đi của sự giáo huấn này là hướng về thuộc linh. Nhưng như Origen đã làm rõ trong phần bàn luận về sự hiện hữu của thân thể trong On First Principles, sự thăng tiến của chúng ta không phải được thực hiện bất chấp hay chống lại bản chất của thân thể. Đức Chúa Trời gây dựng sự tăng trưởng thuộc linh ngay trong và qua sự đau khổ của thân thể. Origen cũng nhấn mạnh cùng một điểm trong phần ông bàn về sự giáo huấn của Kinh Thánh trong quyển 4 của On First Principles. Các nẻo đường của Kinh Thánh không phải lúc nào cũng vui vẻ đi lên từ cấp độ này đến cấp độ khác, như cách ông giải thích về mối liên hệ giữa Châm ngôn, Truyền đạo, và Nhã ca có thể gợi ý. Ý nghĩa và trật tự của các từ trong Kinh Thánh thường đầy những câu đố và khó khăn. Chúng ta phải hiểu thế nào về những địa danh lạ như “Ram-se”? Việc xây dựng ngôi nhà giải nghĩa thật gian nan và khiến chúng ta bị dằn vặt bởi sự bất định. Liệu cách đọc của chúng ta có chính xác không? Liệu cách giải nghĩa của chúng ta có trung thực với Lời của Đức Chúa Trời không? Nhưng Đấng là Tác giả của sự sắp đặt trong Kinh Thánh đã khiến cho chúng ta không phải chịu khổ cách vô ích. Những gánh nặng của sự giải nghĩa buộc chúng ta phải đi con đường hẹp, và đó là phước hạnh, vì đường rộng đưa đến sự hư mất (Ma-thi-ơ 7:13-14).
“Trí khôn thiêng thượng,” Origen nhận xét, “đã sắp đặt một số chướng ngại và sự gián đoạn của nghĩa lịch sử… bằng cách chen vào giữa nhiều điều không thể và bất hợp lý, để chính sự gián đoạn của câu chuyện như thể dựng lên một rào cản cho người đọc và khiến người ấy từ chối đi tiếp theo con đường của nghĩa thông thường.” Ông tiếp tục tập hợp một danh sách lớn các đoạn Kinh Thánh minh họa nỗi đau do nghĩa đen gây ra. Một số rõ ràng là “thần thoại” hoặc nhân hình hóa (chẳng hạn đoạn trong Sáng thế ký nói về Đức Chúa Trời đi dạo trong địa đàng – Sáng-thế Ký 3:8). Một số bị giới hạn bởi văn hóa (mệnh lệnh của Chúa Giê-xu cho môn đồ Ngài không được mang giày – Ma-thi-ơ 10:10). Và một số thì gây ghê tởm về mặt đạo đức (một câu trong Septuagint dường như đòi hỏi các bé trai chưa chịu phép cắt bì phải bị diệt). Origen chỉ ra sự khó khăn khi đọc những chỉ dẫn tỉ mỉ trong Cựu Ước về việc xây dựng và trang trí đền tạm như có ý nghĩa cho đức tin Cơ Đốc. Việc khai triển một cách đọc Cơ Đốc về những chi tiết này là “một công việc rất khó, không nói là không thể.” Ông có thể đã nêu thêm nhiều ví dụ nữa. Những chướng ngại của Kinh Thánh thật là nhiều.
Origen không đưa ra một quan điểm về thẩm quyền Kinh Thánh như thể Kinh Thánh là một tập hợp những mệnh đề để dùng làm tiền đề trong các tam đoạn luận giáo lý, hoặc như những lá bài thắng trong các tranh luận thần học. Ông đồng ý với các nhà phê bình lịch sử hiện đại rằng những nghĩa riêng biệt của Kinh Thánh thường khó nắm bắt, khó hiểu, và mơ hồ. Nếu người giải nghĩa tin rằng Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời (như Origen rõ ràng tin, và như mọi Cơ Đốc nhân phải tin), thì đôi khi, thậm chí thường xuyên, kết quả sẽ là một sự nhăn mặt đau đớn của khổ sở. Như thể Origen đã dự đoán kinh nghiệm của những sinh viên mộ đạo, khi ghi danh vào một khóa học về Kinh Thánh, lại đối diện với một giáo sư dành nhiều thời gian để chỉ ra Kinh Thánh không khớp với đức tin họ đã thừa hưởng như thế nào.
Kinh nghiệm mất phương hướng này có thể khơi dậy một câu hỏi giống như của Gióp: Tại sao Đức Chúa Trời lại sắp đặt lời chứng của Ngài theo cách mà càng học hỏi về Kinh Thánh, tôi càng khó hiểu nó? Theo Origen, câu trả lời là cách giải nghĩa thuộc linh. Biết các ngôn ngữ, có khả năng ghi nhớ văn bản, có trí tuệ mạnh mẽ, thậm chí nắm giữ quy tắc của đức tin, vẫn chưa đủ.
Chúng ta giải nghĩa cách thật sự khi sự đọc Kinh Thánh đưa chúng ta đến chỗ thấy sự mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Nhưng mắt xác thịt của chúng ta không thể thấy sự thánh khiết rực rỡ của Đức Chúa Trời. Để vượt qua tính xác thịt của chúng ta, nghĩa đen của Kinh Thánh hạ nhục chúng ta. Kinh Thánh ngăn trở nỗ lực giải nghĩa của chúng ta để rằng “bằng cách loại bỏ chúng ta và ngăn cản chúng ta khỏi [sự đọc nghĩa đen], nó đưa chúng ta trở lại khởi đầu của một con đường khác, và nhờ đó có thể dẫn chúng ta, qua lối đi hẹp, đến một con đường cao hơn và rộng mở sự bao la của sự khôn ngoan thần thượng.”
Đọc Kinh Thánh là khó khăn vì Đức Chúa Trời muốn chúng ta khao khát lẽ thật với lòng mong mỏi. Ngài muốn chúng ta trở nên những người “đã hiến mình cho sự học tập như thế với sự tinh sạch và tiết độ cao nhất, và qua những đêm thức canh.” Chúng ta phải chịu khổ trong những sa mạc khô hạn của sự không hiểu để rằng, được kỷ luật bởi sự khó khăn của Kinh Thánh, tầm nhìn của chúng ta sẽ được thánh hóa và chúng ta sẽ được chuẩn bị để bước lên bằng con đường hẹp.
Những suy gẫm của Origen về bản chất của Kinh Thánh và sự giải nghĩa của nó cần được dùng để soi sáng cho công trình rất cần thiết ngày nay về sự giải nghĩa thần học. Chúng ta phải từ bỏ mong muốn có những “giải pháp” cho ô chữ khổng lồ của Kinh Thánh. Origen viết: “Đức Thánh Linh đã trộn lẫn không ít điều khiến cho tường thuật lịch sử bị gián đoạn và đứt đoạn,” như thể ông đã dự đoán những phán xét hiện đại về sự thiếu chính xác lịch sử của Kinh Thánh. Nhưng ông không theo nỗ lực hiện đại nhằm thuần hóa sự giải nghĩa bằng cách neo nó vào những bối cảnh ổn định ngoài Kinh Thánh, dù là lịch sử, hiện tượng học, khái niệm, hay hậu hiện đại. Thay vào đó, ông tiếp nhận những sự gián đoạn, những điều bất hợp lý, những điều phi đạo đức, và những mâu thuẫn của Kinh Thánh như là những ân tứ thần thượng, buộc chúng ta phải căng mình và vươn tới sự hiểu biết. Đây là lý do tại sao cách đọc theo ý nghĩa thuộc linh của ông có thể dường như quá gượng ép.
Liệu có thể khác được không? Ai lại tưởng rằng việc nhìn thấy Đấng Christ chịu đóng đinh như là Chúa sống lại sẽ không đòi hỏi sự căng mình, vươn tới, và gắng sức? Các môn đồ trên đường Em-ma-út đã như vậy. Đức Chúa Trời đã gieo sự khó khăn vào ruộng Kinh Thánh “nhằm mục đích xoay chuyển và kêu gọi sự chú ý của người đọc, bởi sự bất khả của nghĩa đen, đến sự khảo sát ý nghĩa bên trong.” Đức Chúa Trời đã định những khó khăn của sự giải nghĩa không phải để chúng ta giải quyết những “đoạn văn nan giải” như thể một vụ án mạng hay một bài toán, nhưng để những đoạn khó ấy tập trung tâm trí và đời sống chúng ta vào một giải pháp không thể đạt được hay sở hữu như là kết luận của một luận chứng—đó là nhìn thấy mặt Đấng Christ. Origen đã dự đoán trong thần học về Kinh Thánh và những khó khăn của nó điều mà Augustine sau này đã diễn đạt trong thần học về ân điển. Những chướng ngại của sự giải nghĩa—sự đa dạng của Kinh Thánh, những mâu thuẫn và mơ hồ của nó, những tầng lớp lịch sử và những dị bản văn bản—đều là ân điển được ban cho. Chúng ta được dẫn qua những “khe hẹp” của Kinh Thánh để rằng chúng ta có thể “được tràn ngập bởi sự sáng chói của ánh sáng vô lượng.”
=====
Cảm nhận của tôi là nhiều độc giả Cơ Đốc hiện đại khi đọc Origen (và cả quyển sách này) thường thấy ông hấp dẫn. Như tôi đã ghi nhận, ông đã trải qua một sự phục hưng nào đó. Sự giải nghĩa Kinh Thánh của ông sáng tạo và linh động. Con mắt tinh tường của ông đối với chi tiết rất sắc bén. Và sự căng thẳng hướng về phía trước trong thực hành giải nghĩa của ông mang một phẩm chất phiêu lưu, anh hùng. Nhưng sự hứng khởi chúng ta cảm thấy khi đọc Origen lại khó chuyển thành một sự đồng thuận cho tương lai của sự giải nghĩa Kinh Thánh trong Cơ Đốc giáo. Việc đọc từ địa danh mờ mịt “Ram-se” đến lời mời lớn trong Tân Ước “Hãy đến mà theo ta” dường như là điều không thể bắt chước. Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng: Tại sao truyền thống giải nghĩa theo ý nghĩa thuộc linh mà Origen đại diện cách xuất sắc lại vẫn xa vời và khó noi theo?
Chúng ta thường được dạy rằng có một hố sâu ngăn cách chúng ta với các giáo phụ. Chúng ta biết về lịch sử! Nhưng càng suy nghĩ, tôi càng ít thỏa mãn với lời giải thích này. Các giáo phụ giả định rằng Môi-se đã viết Ngũ Kinh. Chúng ta có lý do chính đáng để xem giả định này là sai. Chúng ta có những chuyên khảo liệt kê các điểm song song giữa Ngũ Kinh và các tôn giáo Cận Đông cổ khác. Có những luận thuyết suy đoán về bối cảnh cộng đồng nguyên thủy của sách Xuất Ê-díp-tô Ký. Các thư viện đầy dẫy những nghiên cứu bàn về Kinh Thánh trong bối cảnh lịch sử của nó, những nghiên cứu mà các giáo phụ không có.
Truyền thống hiện đại về nghiên cứu lịch sử Kinh Thánh chắc chắn tạo ra sự khác biệt trong một số lĩnh vực của sự giải nghĩa. Nhưng khi tôi quay lại lời bình của Origen về Xuất Ê-díp-tô Ký 12:37 và xem xét lô-gíc trong sự giải nghĩa của ông, tôi không thấy ý thức lịch sử hiện đại của chúng ta tạo ra khác biệt gì. Một mong muốn chính xác nào đó có thể khiến tôi nói “nơi mà hình thức cuối cùng của Xuất Ê-díp-tô Ký chép rằng dân Y-sơ-ra-ên đã đi ra” thay vì “nơi mà dân Y-sơ-ra-ên đã đi ra.” Điều này sẽ cho thấy rằng tôi không giả định sách Xuất Ê-díp-tô Ký là một tường thuật trực tiếp, tận mắt về những gì đã xảy ra.
Tuy nhiên, một khi đã cho thấy điều đó, tại sao tâm trí tôi lại không theo dòng suy nghĩ của Origen? Tôi có thể đọc các bài nghiên cứu học thuật giải thích cách mà redaction criticism giúp chúng ta hiểu mối quan hệ giữa tường thuật về cuộc xuất hành của dân Y-sơ-ra-ên và những chỉ dẫn về việc giữ lễ Vượt Qua. Với các mảnh văn bản được tách ra và phân tích, tôi có thể có những suy nghĩ mới và tinh tế về ý nghĩa của chương 12 trong Xuất Ê-díp-tô Ký. Nhưng tại sao những suy nghĩ mới này lại không góp phần, thay vì mâu thuẫn, với mô hình phân tích văn bản của Origen? Điều gì trong lịch sử đã ngăn cản một bước giải nghĩa từ “Ram-se” đến “sâu bọ” rồi đến lời phán của Chúa Giê-xu: “Hãy đến mà theo ta”?
Giả định then chốt nâng đỡ những bước giải nghĩa táo bạo của Origen là niềm tin vào sự kiểm soát thần thượng. Nó đặt trên sự xác tín rằng Đức Chúa Trời có quyền năng sắp đặt sự đa dạng lớn lao của Kinh Thánh—bao gồm cả sự phức tạp trong việc hình thành Kinh Thánh—phù hợp với giả thuyết tổng quát của Ngài. Nếu một người tin rằng Đức Chúa Trời cách quan phòng đã sắp đặt muôn vật hướng đến sự thành tựu trong Đấng Christ (như Origen đã tin, và chúng ta cũng nên tin), thì người ấy có cơ sở để nhận biết trật tự quan phòng này trong mọi khía cạnh của thực tại—bao gồm cả những địa danh được ghi chép trong Kinh Thánh, bất kể chúng ta hiểu thế nào về tiến trình khiến những địa danh ấy trở thành phần của quy điển trong hình thức cuối cùng của Kinh Thánh. Tôi không thấy lý do gì khiến cho những hiểu biết thu được từ nghiên cứu lịch sử hiện đại lại không thể được hiểu trong sự kiểm soát thần thượng. Điều không thể dung hòa là sự kiểm soát hiện đại của tính nội tại lịch sử. Sự kiểm soát này khăng khăng rằng mọi biến cố nhân loại đều được gây ra và cấu trúc bởi những yếu tố thuộc thế giới này, loại trừ sự kiểm soát thần thượng.
Chúng ta không chỉ được dạy những kỹ thuật trí tuệ của nghiên cứu phê bình lịch sử, một số trong đó có thể sinh ra kết quả tốt. Chúng ta còn bị xã hội hóa vào sự kiểm soát hiện đại của tính nội tại lịch sử, vốn mâu thuẫn với đức tin của chúng ta. Chính sự xã hội hóa bất hạnh này khiến chúng ta xem bước đi từ “Ram-se” đến “Hãy đến mà theo ta” là tùy tiện. Bị thấm nhuần bởi giả định hiện đại rằng nhân quả lịch sử mới là điều làm cho sự việc “thật sự có thật,” chúng ta kết luận rằng không có lý do gì để nghĩ rằng những mảnh văn bản này được liên kết “trong thực tại.” Không có mối liên hệ lịch sử.
Origen lại nghĩ khác. Ông cho rằng Đức Chúa Trời mới là Đấng cấu trúc thực tại, chứ không phải “luật lệ của lịch sử.” Sự kiểm soát thần thượng bao gồm cả những lời của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời sắp đặt các dấu hiệu của Kinh Thánh với mục đích rèn luyện những ai khao khát thấy mặt Ngài. Origen đi từ “Ram-se” đến “Hãy đến mà theo ta” vì ông thấy một sự liên kết theo ý nghĩa thuộc linh, vốn—trong thực tại của Đức Chúa Trời—còn “thật” hơn bất kỳ mối liên hệ lịch sử nào mà chúng ta có thể nhận ra. Nếu chúng ta nghi ngờ điều Origen thấy, thì rất có thể là vì chúng ta không chắc rằng Đức Chúa Trời hiện hữu. Và ngay cả khi chúng ta thừa nhận rằng Đức Chúa Trời hiện hữu, chúng ta lại không tin rằng Ngài giám sát muôn vật theo kế hoạch cứu chuộc của Ngài.
Origen viết:
“Nếu ai suy gẫm [Kinh Thánh] với tất cả sự chú ý và lòng tôn kính mà nó xứng đáng, thì chắc chắn rằng ngay trong hành động đọc và chuyên tâm học hỏi, tâm trí và tình cảm của người ấy sẽ được chạm đến bởi hơi thở thiên thượng, và người ấy sẽ nhận biết rằng những lời mình đang đọc không phải là lời của loài người, nhưng là ngôn ngữ của Đức Chúa Trời.”
Điều ngăn cách chúng ta với Origen không phải là sự thiếu “ý thức lịch sử” như người ta thường cho rằng. Nếu chúng ta giả định Kinh Thánh là ngôn ngữ của Đức Chúa Trời, tôi tin chắc rằng chúng ta vẫn có thể giữ lại nhiều hiểu biết từ nghiên cứu phê bình lịch sử hiện đại. Vì tin vào sự quan phòng của Đức Chúa Trời cũng có nghĩa là tin vào quyền năng của Ngài để sắp đặt lời chứng kỳ lạ, đa dạng, phức tạp, có nhiều tầng lớp lịch sử, thậm chí dường như mâu thuẫn của Kinh Thánh theo cách mà, khi nhìn tổng thể, nó làm chứng cho một kế hoạch mạch lạc—hơn thế nữa, một kế hoạch đẹp đẽ và thánh khiết. Thật sự tin vào sự quan phòng của Đức Chúa Trời thay vì “luật lệ của lịch sử”—đây có thể là một hố sâu khó vượt qua. Nhưng ngoài chủ nghĩa hiện đại cục bộ, vốn đang thống trị nền văn hóa học thuật ngày càng mệt mỏi và suy đồi của chúng ta, tôi không thấy lý do gì khiến chúng ta không thể làm như vậy.