Skip to main content

Chương 04: Các Tranh Luận Cải Chánh và Việc Giải Nghĩa Kinh Thánh

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Martin Luther đã giám sát việc xuất bản một ấn bản Tân Ước mà chính ông thực hiện bản dịch. Trong lời tựa, Luther giải thích cách ông đọc Tân Ước như một tổng thể. Ông nói rằng có một “quy điển trong quy điển,” một trung tâm “bày tỏ” Chúa Giê-xu và lẽ thật cứu rỗi của Ngài. Luther nêu ra sách Tin Lành Giăng và thư 1 Giăng, các thư của Phao-lô gửi cho tín hữu tại La Mã, Ga-la-ti, Ê-phê-sô, cùng với thư thứ nhất của Phi-e-rơ, là những văn bản trọng tâm làm chứng cho Tin Lành. Thư Gia-cơ không thuộc về trung tâm ấy. Thư này nằm ở ngoại vi, vì như Luther nói: “nó chẳng có gì thuộc về bản chất của Tin Lành.” Luther gọi đó là một “epistola straminea” (thư bằng rơm), và ông xếp Gia-cơ cùng với Hê-bơ-rơ, Giu-đe, và Khải Huyền vào cuối Tân Ước, trong nhóm “các sách bị tranh luận.”

Không thể phủ nhận rằng giáo lý Cải chánh về sự xưng công bình bởi đức tin đã quyết định sự đánh giá tiêu cực của Luther đối với Gia-cơ. Luther nổi tiếng khi thêm chữ “một mình” (allein durch den Glauben) vào bản dịch của ông trong Rô-ma 3:28: “Vả, chúng ta tưởng rằng người ta được xưng công bình bởi một mình đức tin, chớ chẳng bởi việc làm theo luật pháp.” Việc thêm chữ “một mình” vào lời Phao-lô về sự xưng công bình đã biến câu ấy thành một tuyên bố rõ ràng về quan điểm của Luther, khiến cho sự mâu thuẫn với Gia-cơ 2:24 càng thêm gay gắt: “Người ta nhờ việc làm mà được xưng công bình, chớ chẳng phải bởi đức tin mà thôi.”

Luther không phải là nhà giải nghĩa Cải chánh duy nhất bối rối trước sự khẳng định dường như về công chính bởi việc làm trong thư Gia-cơ. Trong thế kỷ sau khi Luther dịch Kinh Thánh, những cuộc tranh luận về cách giải nghĩa Gia-cơ đã bị chi phối mạnh mẽ bởi mối quan tâm về giáo lý xưng công bình. Vai trò hiển nhiên của những cam kết giáo lý trong các cuộc tranh luận về việc giải nghĩa Gia-cơ (và các thư Phao-lô) đã đặt ra một câu hỏi cho nhiều độc giả hiện đại: Trong thời kỳ tiền hiện đại, giáo lý có chi phối quá mức việc giải nghĩa không? Chẳng phải chúng ta mong Kinh Thánh tự phán dạy thay vì bị uốn nắn để phù hợp với những hệ thống giáo điều định sẵn sao?

Như tôi đã ghi nhận trước đây, mối quan tâm ấy xem ra hợp lý. Ai lại chẳng muốn Kinh Thánh tự phán dạy? Nhưng tôi tự hỏi liệu giả định của chúng ta về sự giải nghĩa “khách quan” có chính xác không. Có phải sự chú ý kỹ lưỡng đến giáo lý tất yếu làm cho Kinh Thánh bị san bằng, biến nó thành nguồn dẫn chứng cho các giáo điều? Bằng chứng cho thấy điều ngược lại. Như tôi hy vọng sẽ trình bày trong cuộc khảo sát ngắn này về cách đọc thư Gia-cơ trong thời kỳ Cải chánh, ảnh hưởng của giáo lý đã làm tăng chứ không làm giảm sự chú tâm giải nghĩa. Thay vì “làm câm lặng” văn bản, ý thức về tầm quan trọng sống còn của giáo lý đã khơi dậy tham vọng giải nghĩa. Cuộc tranh luận Cải chánh về sự xưng công bình là một trường hợp điển hình cho lời hứa của việc giải nghĩa thần học. Những cam kết giáo điều đã đặt áp lực lên các nhà giải nghĩa thế kỷ XVI, cả Tin Lành lẫn Công giáo. Họ bị thúc đẩy phải đào sâu vào văn bản Kinh Thánh, phát triển những chiến lược giải nghĩa tinh tế để duy trì niềm tin giáo lý của mình. Kết quả là sự đổi mới trong việc giải nghĩa, trong vài trường hợp đã đi trước những nhận định trọng tâm của phương pháp bình luận văn bản hiện đại.

Như tôi đã tìm cách trình bày xuyên suốt những suy tư này, việc giải nghĩa tiền hiện đại không xem giáo lý như một tiền đề trong các luận chứng giải nghĩa, cũng không đi đến kết luận dựa trên những cách giải nghĩa khác. Thay vào đó, giáo lý thiết lập những ưu tiên giải nghĩa, cung cấp điều có thể gọi là một “chân trời của lẽ thật” để tập trung việc giải nghĩa thay vì áp đặt kết quả. Những cam kết giáo điều không làm cho việc đọc Kinh Thánh trở nên dễ dàng cho người tin. Chúng buộc chúng ta phải suy xét kỹ lưỡng từng chi tiết trong Kinh Thánh.

Như tôi đã quan sát trong chương trước, Irenaeus khẳng định rằng toàn bộ Kinh Thánh có một giả thuyết. Kinh Thánh phán về Chúa Giê-xu chịu đóng đinh và sống lại qua nhiều điều mà nó bày tỏ. Để giải thích cách giả thuyết ấy vận hành, Irenaeus đưa ra hình ảnh minh họa về một bức tranh ghép. Nó khởi đầu như một tập hợp nhiều mảnh nhỏ với đủ màu sắc. Nếu chỉ rải chúng ra trước mắt, chúng ta sẽ không biết cách sắp xếp cho đúng. Điều này cũng đúng với sự đa dạng lớn lao của Kinh Thánh. Nhưng Đấng Tạo Hóa vĩ đại của bức tranh ghép Kinh Thánh đã ban cho độc giả một bản phác họa của hình ảnh mà các mảnh ghép ấy được tạo ra để biểu hiện. Bức tranh ghép ấy nhằm mô tả một “vị vua đẹp đẽ,” Irenaeus nói. Nhiệm vụ của việc giải nghĩa là phải sàng lọc từng mảnh, suy xét vị trí của chúng trong tổng thể. Việc ghép toàn bộ bức tranh này từng mảnh, từng câu, từng sách đòi hỏi sự sáng tạo trí tuệ to lớn, và đó là lý do tại sao, trái với giả định hiện đại, những cam kết giáo điều phác họa các lẽ thật lớn lao của đức tin chúng ta—những giáo lý dạy về sự cứu rỗi được ban cho bởi vị vua đẹp đẽ ấy—làm sinh động chứ không làm tẻ nhạt việc đọc Kinh Thánh.

CÁCH LUTHER TIẾP CẬN THƯ GIA-CƠ

Chúng ta hãy bắt đầu với cách Luther tiếp cận Gia-cơ. Vấn đề hiện ra rõ ràng. Gia-cơ dường như nói rằng Áp-ra-ham được xưng công bình bởi việc làm của mình. Nhưng trong thư gửi tín hữu tại La Mã, Phao-lô lại nói điều ngược lại. Gia-cơ mô tả luật pháp như quyền năng của sự tự do, trong khi Phao-lô mô tả luật pháp như tội lỗi, sự nô lệ, và sự chết. Tại đây, chúng ta phải cảm thông với Luther. Ông đối diện một khó khăn nghiêm trọng khi cố gắng ráp nối bức tranh ghép của Kinh Thánh. Gia-cơ dường như nằm ở ngoại vi, chỉ là một mảnh ghép nền, nhiều lắm cũng chỉ làm nền, chứ không trực tiếp mô tả vị vua đẹp đẽ, mà những nét chính yếu được trình bày bởi các văn bản trọng tâm của Tân Ước, vốn được Luther đọc như dạy rằng sự xưng công bình là bởi đức tin mà thôi—giáo lý tóm tắt Tin Lành về ân điển cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu Christ.

Việc Gia-cơ nằm trong quy điển Tân Ước khiến Luther không thể đơn giản loại bỏ văn bản khó chịu này. Nhưng ông nóng lòng ngăn chặn bất cứ sự quay lại nào với công chính bởi việc làm, và đó là lý do ông thêm chữ “một mình” vào lời xác nhận của Phao-lô trong Rô-ma về sự xưng công bình bởi đức tin. Nhưng điều đó chưa đủ. Luther phải giải nghĩa Gia-cơ sao cho sự khẳng định khó chịu về “việc làm” được đưa vào sự hòa hợp với điều mà ông xem là sự dạy dỗ chuẩn mực của Tân Ước: sự xưng công bình bởi đức tin mà thôi.

Trong lời tựa cho thư Gia-cơ, luận điểm của Luther đi theo hai hướng. Trước hết, ông đặt nghi vấn về địa vị sứ đồ của Gia-cơ. Ông nhận xét rằng thư này không phải là một văn bản được tổ chức chặt chẽ. Trái lại (và ở đây ông nghe giống như một nhà phê bình lịch sử hiện đại), hình thức cuối cùng của Gia-cơ dường như là một tập hợp lỏng lẻo các lời dạy của sứ đồ được một tác giả hậu-sứ đồ gìn giữ lại. Nhận định này mở đường cho Luther khẳng định rằng thư Rô-ma của Phao-lô được viết trong thời kỳ sứ đồ, trong khi thư Gia-cơ là một tác phẩm muộn hơn, hữu ích và có tính khuyên dạy cho người tin, có lẽ vậy, nhưng có thẩm quyền kém hơn nhiều.

Lập luận thứ hai của Luther cũng báo trước những nhận định hiện đại về các văn bản Kinh Thánh. Ông suy đoán rằng thư Gia-cơ được soạn trong bối cảnh hậu-Phao-lô. Sitz im Leben (thuật ngữ kỹ thuật của phê bình lịch sử, nghĩa là bối cảnh xã hội trực tiếp của việc hình thành và tiếp nhận văn bản) là một cộng đồng trong đó những cách đọc phản luật pháp của giáo lý xưng công bình bởi đức tin đã được chấp nhận. Chống lại sự hiểu sai Phao-lô này (những thư của ông được viết sớm hơn, như Luther cố gắng chứng minh trong lập luận thứ nhất), tác giả của Gia-cơ (người mà Luther cho rằng là người biên tập một tập hợp các lời dạy sứ đồ được truyền lại) đã đưa ra một sự sửa chữa đáng tiếc, phóng đại và phiến diện đối với ý niệm rằng “đức tin mà thôi” có nghĩa là người ta không cần quan tâm đến đạo đức.

Mục đích của tôi không phải là đánh giá sức thuyết phục trong phân tích của Luther. Tôi chỉ muốn chỉ ra rằng tâm trí ông được khích lệ để suy xét về sự phát triển của quy điển và bối cảnh lịch sử bởi áp lực từ niềm tin của ông về giáo lý chân thật. Thay vì “áp đặt” giáo lý xưng công bình bởi đức tin lên thư Gia-cơ, sự xác tín của Luther rằng sự xưng công bình bởi đức tin mà thôi nắm bắt sự dạy dỗ cốt yếu của Kinh Thánh—“vị vua đẹp đẽ” trong hình thức giáo lý—đã buộc ông phải đối diện với văn bản theo những cách tinh tế và sáng tạo, làm sắc bén tầm nhìn lịch sử của ông. Những hình thức cơ bản của phân tích bình luận văn bản lịch sử đã được gợi mở khi Luther tìm cách duy trì giáo lý sola fide đối nghịch với sự công chính bởi việc làm dường như được dạy trong thư Gia-cơ.

Một người thuộc thế hệ thứ hai của phong trào Luther, Martin Chemnitz, đã đưa ra những bằng chứng thêm và chi tiết hơn rằng sự chú ý đến bối cảnh lịch sử và sự phát triển lúc ấy được thúc đẩy bởi giáo lý. (Tôi cho rằng việc phê bình lịch sử vẫn luôn được thúc đẩy bởi thần học trong suốt thời kỳ hiện đại, nhưng đó là đề tài cho một quyển sách khác.) Trong tác phẩm thần học đồ sộ của ông, Loci Theologici, Chemnitz bàn về giáo lý xưng công bình. Trước khi đi vào phân tích thần học, ông đưa ra một suy tư dài về lịch sử cứu rỗi. Là một người có đời sống được định hình bởi cuộc xung đột ngày càng gay gắt giữa Tin Lành và Công giáo La Mã về định nghĩa của sự cứu rỗi, Chemnitz nhìn toàn bộ lịch sử nhân loại, từ A-đam và Ê-va cho đến thời của ông, như được định hình bởi những bất đồng về giáo lý xưng công bình. Abel, ông lập luận, đã báo trước quan điểm Cải chánh, xem tội lỗi mình được cất đi bởi đức tin nơi lời hứa về Đấng Christ; trong khi Cain báo trước quan điểm Công giáo “rằng, bằng những của lễ và các việc làm khác của mình, ông có thể cất bỏ và xóa đi tội lỗi.”

Chemnitz lần theo lịch sử của sự xưng công bình bởi đức tin trong cuộc chiến với công chính bởi việc làm xuyên suốt Cựu Ước, và ông dùng cùng một mô hình phân kỳ để giải thích cấu trúc của Tân Ước, kể cả sự nhấn mạnh đến việc làm mà chúng ta thấy trong Gia-cơ. Theo Chemnitz, sự đến của Chúa Giê-xu làm sáng tỏ rằng sự xưng công bình đến bởi đức tin mà thôi, chứ không bởi việc làm theo luật pháp.

Tại điểm này, khi giáo lý chân thật đã được định nghĩa rõ ràng và đầy thẩm quyền, ma quỷ phải thay đổi chiến lược. Không thể đánh bại đức tin bằng cách rao giảng việc làm, Chemnitz viết, “ma quỷ đã đưa triết lý Epicurean [thuật ngữ mà Chemnitz dùng để mô tả sự chối bỏ luật pháp đạo đức theo kiểu phản luật pháp] vào trong Hội Thánh.” Chiến lược mới của ma quỷ giải thích sự nhấn mạnh đến việc làm trong thư Gia-cơ. Chemnitz viết,

“Từ đó, chúng ta thấy có sự khác biệt trong các thư của các sứ đồ, rằng những thư sớm hơn thì tranh chiến chống lại tinh thần tin vào sự công chính của Luật pháp, trong khi những thư muộn hơn thì khuyến khích bông trái của sự ăn năn và bác bỏ những quan niệm Epicurean về đời sống phóng túng.”

Chemnitz đi theo khuôn mẫu phân tích của Luther. Các thư Phao-lô được đặt lên hàng đầu. Chúng dạy điều mà Chúa Giê-xu đã dạy. Thư Gia-cơ xuất hiện một hoặc hai thế hệ sau, nhằm chống lại những cách đọc phản luật pháp, được ma quỷ xui giục, về sự dạy dỗ của Phao-lô về sự xưng công bình bởi đức tin mà thôi. (Chủ nghĩa phản luật pháp không phải là hiếm trong thời của Luther và Chemnitz.) Vì vậy, Gia-cơ phải được đọc như một văn bản phụ, mang tính sửa chữa, hơn là một chứng nhân chính yếu cho Tin Lành. Lời tường thuật của Phao-lô về sự sắp đặt đúng đắn giữa luật pháp và Tin Lành là có thẩm quyền và mang tính vĩnh cửu. Sự dạy dỗ của Gia-cơ là thứ yếu và bị điều kiện bởi lịch sử.

Ngày nay hiếm khi thấy một tác giả hiện đại bàn về sự phát triển lịch sử của quy điển Tân Ước theo cách như một âm mưu của ma quỷ, mặc dù khái niệm gia trưởng vốn được nhiều nhà giải nghĩa nữ quyền yêu thích cũng không khác biệt quá xa. Nhưng có một điều chắc chắn: Chemnitz bày tỏ một ý thức lịch sử. Thay vì “áp đặt” giáo lý xưng công bình, ông phát triển một lý thuyết về sự phát triển của quy điển Tân Ước phù hợp với chân trời lẽ thật của ông. Giáo lý xưng công bình đã định nghĩa rõ ràng chân trời này, và nó đóng vai trò trung tâm trong việc khích lệ lý thuyết phát triển của ông. Chemnitz tin chắc rằng đó là một giáo lý thiết yếu.

Do đó, khi đối diện với thực tế văn bản của thư Gia-cơ, ông cần giải thích cách mà sự dạy dỗ dường như mâu thuẫn ấy phù hợp với bức tranh lớn hơn về sự công bố trong Tân Ước về “đức tin mà thôi.” Kết quả là những suy đoán lịch sử mô tả tác giả của các văn bản Tân Ước trong ánh sáng của những bối cảnh cộng đồng khác nhau. Phao-lô đang giải quyết câu hỏi thần học trung tâm về cách chúng ta được cứu, trong khi Gia-cơ thì bảo vệ chống lại những sự xuyên tạc Epicurean (phản luật pháp) làm hư hoại sự dạy dỗ của Phao-lô. Lợi ích trí tuệ là hiển nhiên. Việc xác lập tính ưu tiên lịch sử của Phao-lô và Sitz im Leben cho Gia-cơ cho phép có một cách đọc thống nhất về mặt giáo lý cho toàn bộ Tân Ước, một cách đọc duy trì quan điểm Tin Lành về sự xưng công bình bởi đức tin mà thôi.

Không phải mọi nhà giải nghĩa thời Cải chánh đều dùng sự suy đoán lịch sử để giải quyết mâu thuẫn bề ngoài giữa Phao-lô và Gia-cơ. Trong chú giải thư Gia-cơ, Calvin áp dụng một phương pháp học thuật để đọc Gia-cơ theo cách phù hợp với lời xác nhận của Phao-lô về sự xưng công bình bởi đức tin. Phân tích của Calvin xoay quanh sự phân biệt giữa hai ý nghĩa khác nhau của “đức tin.”

Một mặt, đức tin có thể chỉ về điều mà Calvin mô tả là “sự hiểu biết trống rỗng và lạnh lẽo về Đức Chúa Trời.” Đây có thể là sự tin, nhưng không phải là đức tin cứu rỗi. Đức tin trong ý nghĩa đầy đủ hơn là sự tin cậy đưa chúng ta vào sự hiệp thông với Chúa Giê-xu Christ. Theo cách tính toán của Calvin, tác giả Gia-cơ đối diện với những kẻ thù cho rằng chỉ cần sự hiểu biết cách trí thức về Chúa Giê-xu là đủ. Để chống lại họ, ông dùng biện pháp tu từ nhượng bộ. “Được rồi,” nếu tôi có thể diễn giải phân tích của Calvin, “ngươi nói ngươi có đức tin, nhưng nếu đó là đức tin thật, nó sẽ bày tỏ Thánh Linh của Đấng Christ.”

Với cách giải thích này, Calvin có thể giữ nguyên ý nghĩa bề mặt của Gia-cơ đồng thời hòa hợp với cách giải nghĩa Phao-lô theo Cải chánh. Khi Gia-cơ nói rằng Áp-ra-ham được xưng công bình bởi việc làm, ông không mâu thuẫn với Phao-lô, người nói rằng Áp-ra-ham được xưng công bình bởi đức tin, chứ không bởi việc làm. Hai tác giả dùng chữ “đức tin” theo nghĩa khác nhau. Phao-lô dạy lẽ thật căn bản rằng bởi đức tin (được hiểu là sự tin cậy biến đổi đời sống) chúng ta được xưng công bình, “còn Gia-cơ thì có một điều khác trong tâm trí, để chỉ ra rằng kẻ nào xưng mình có đức tin [được hiểu chỉ là nhận thức trí thức], thì phải chứng minh thực chất của đức tin ấy bằng việc làm.”

Tôi muốn nhấn mạnh một lần nữa rằng giáo lý không làm tắt nghẽn việc giải nghĩa. Nó đặt áp lực lên người đọc và đưa ra một đòi hỏi nghiêm ngặt: “Hãy phân định điều này!” Calvin không suy đoán về bối cảnh lịch sử của thư Gia-cơ. Thay vào đó, ông thêm sắc thái cho giáo lý. Chúng ta tưởng rằng mình biết ý nghĩa khi nói rằng được xưng công bình bởi đức tin mà thôi. Nhưng Calvin lưu ý rằng đức tin có thể chỉ là “sự hiểu biết trống rỗng và lạnh lẽo,” rất khác với loại hiểu biết mang tính hiệp thông và đặt nền trên sự tin cậy. Do đó, cách tiếp cận của Calvin đi ngược lại lời sáo rỗng cho rằng giáo lý Hội Thánh sẽ dẫn đến việc “áp đặt” một cách đọc hiểu Kinh thánh cố định nào đó. Văn bản thư Gia-cơ đã gây áp lực buộc ông phải làm sáng tỏ một khái niệm thần học trọng yếu—đức tin. Khi làm như vậy, Calvin đã đào sâu sự hiểu biết của chúng ta về giáo lý.

SAU THỜI KỲ CẢI CHÁNH: CÔNG GIÁO VÀ GIÁO LÝ VỀ ĐỨC TIN CÙNG VIỆC LÀM

Sau Cải chánh, truyền thống Công giáo đã phát triển sự dạy dỗ riêng về đức tin và việc làm, với những hệ quả rõ ràng cho cách chúng ta đọc những đoạn Kinh Thánh vốn đã làm Luther, Chemnitz, và Calvin trăn trở. Khóa họp thứ 6 của Công đồng Trent bàn về giáo lý xưng công bình. Khi đọc toàn bộ khóa họp này, người ta khó tránh khỏi ấn tượng rằng Trent đã đảo ngược thứ tự ưu tiên mà các nhà Cải chánh đã thiết lập. Thư Gia-cơ trở thành trung tâm điều hướng cho cách giải nghĩa Tân Ước của Trent, trong khi các thư Phao-lô chỉ đóng vai trò bổ sung và hỗ trợ.

Hãy xét cách Trent trích dẫn Phao-lô. Trong chương 7 của khóa họp thứ 6, các giám mục tại Trent định nghĩa sự xưng công bình là sự hiệp thông trong Chúa Giê-xu Christ. (Điều này tương ứng với định nghĩa của Calvin về đức tin thật dẫn đến sự xưng công bình.) Sự cứu rỗi của chúng ta trong Chúa Giê-xu được thực hiện nhờ ân điển ban cho các nhân đức đức tin, sự trông cậy, và tình yêu thương. “Vì lý do đó,” Trent kết luận theo tinh thần Gia-cơ 2:26, “người ta nói rất đúng rằng đức tin không có việc làm thì chết và vô ích.” Ngay sau đó, Phao-lô (Ga-la-ti 5:6) được đưa vào như một tiếng nói hỗ trợ: “Trong Đức Chúa Giê-xu Christ, phép cắt bì hay không cắt bì đều vô ích, chỉ có đức tin làm việc bởi tình yêu thương mới có giá trị.” Đây là cách Trent thường dùng Phao-lô. Trong những tuyên bố của công đồng về sự xưng công bình, mệnh đề chính là một diễn giải của Gia-cơ, còn mệnh đề phụ thì đến từ Phao-lô.

Đây là một ví dụ điển hình:

“Chính những người công bình phải cảm thấy càng có bổn phận bước đi trong đường công chính [cách diễn đạt giống Gia-cơ 2:24], vì đã được thoát khỏi tội lỗi, nhưng trở nên tôi tớ của Đức Chúa Trời [Rô-ma 6:22], thì họ có thể, sống cách tiết độ, công bình, và tin kính [Tít 2:12], tiến bước trong Chúa Giê-xu Christ, là Đấng mà nhờ Ngài họ đã được vào trong ân điển này [Rô-ma 5:2].”

Ở những chỗ khác, Trent trích dẫn những đoạn Phao-lô nhấn mạnh sự tăng trưởng trong đức tin (1 Cô-rinh-tô 9:24 trở đi) và sự phán xét của Đức Chúa Trời theo việc làm của chúng ta (Rô-ma 2:6), cũng như nhiều đoạn Phao-lô lên án các hành vi vô đạo đức và khuyên độc giả tìm kiếm sự trọn lành. Tóm lại: Trent về sự xưng công bình cho rằng các thư Phao-lô củng cố ý niệm rằng đức tin không có việc làm thì chết.

Trong khi Trent đọc Phao-lô như phụ thuộc vào Gia-cơ, công đồng không đưa ra một giải nghĩa chi tiết; họ chỉ theo đuổi chiến lược trích dẫn. Để có một cách giải thích Công giáo về sự ưu tiên của Gia-cơ hơn Phao-lô, chúng ta cần đến R. P. Cornelius à Lapide, một tu sĩ Dòng Tên, người Flemish có ảnh hưởng lớn, người đã viết chú giải hầu như trên toàn bộ các sách Kinh Thánh trong những thập niên sau Công đồng Trent.

Lapide chú ý đến bối cảnh lịch sử của sự dạy dỗ Phao-lô chống lại công chính bởi việc làm. Ông ghi nhận rằng Phao-lô quan tâm đến phép cắt bì và các khía cạnh khác của luật nghi lễ Do Thái. Theo cách đọc của Lapide:

“Dầu người Do Thái nhận thấy rằng họ được xưng công bình bởi phép cắt bì và các nghi lễ do luật pháp Môi-se quy định, Phao-lô bác bỏ điều đó, và dạy rằng tất cả những điều ấy là không đủ và vô ích cho sự xưng công bình và sự cứu rỗi nếu không có đức tin và ân điển của Chúa Giê-xu Christ.”

Lapide đã đảo ngược lập trường Tin Lành được đại diện bởi Luther, Chemnitz, và Calvin. Họ đọc Gia-cơ như đang giải quyết một vấn đề hạn chế—cái “tiểu cốt truyện Epicurean của ma quỷ,” để nhớ lại Chemnitz—trong khi Phao-lô dạy những lẽ thật vĩnh cửu về sự cứu rỗi. Lapide thì đảo ngược công thức ấy. Ông đọc sự bàn luận của Phao-lô về việc làm như đang giải quyết vấn đề lịch sử cụ thể của những tín hữu Do Thái hóa, vốn rất nhiều trong thế kỷ thứ nhất, trong khi Gia-cơ thì trình bày những lẽ thật vĩnh cửu về luật mới của Chúa Giê-xu, một sự dạy dỗ vốn là phần không thể thiếu của Tin Lành.

Thật thú vị khi cách đọc Phao-lô của Lapide, dù được thúc đẩy bởi những giả định giáo lý của Trent chứ không phải bởi phương pháp bình luận văn bản lịch sử, lại đưa đến những kết quả phần lớn tương ứng với sự đồng thuận học thuật về Phao-lô đã hình thành kể từ những phê bình đột phá của Krister Stendhal đối với các cách giải nghĩa Tin Lành truyền thống. Nhưng đó không phải là trọng điểm. Điều chúng ta quan tâm là lời cáo buộc rằng giáo lý làm hư hỏng sự giải nghĩa “khách quan.” Điều này không đúng với Lapide. Giả định rằng Công đồng Trent dạy giáo lý chân thật chắc chắn đã thúc đẩy những suy đoán của ông về Sitz im Leben cho các thư Phao-lô. Ông đang lý thuyết hóa về bối cảnh lịch sử, chứ không phải “chứng minh” giáo lý của Trent bằng sự giải nghĩa của mình.

LUTHER, CHEMNITZ, CALVIN, VÀ LAPIDE DƯỚI ÁNH SÁNG GIÁO LÝ

Các ví dụ trên tuy nhỏ, nhưng Luther, Chemnitz, Calvin, và Lapide đã soi sáng điều thực sự xảy ra khi những cam kết giáo lý cung cấp chân trời lẽ thật cho việc giải nghĩa. Việc nhìn nhận sự sáng tạo giải nghĩa đáng kinh ngạc được khơi dậy bởi những tranh luận Cải chánh về sự xưng công bình là một sự sửa chữa hữu ích cho những giả định thiếu hiểu biết của chúng ta về những hệ quả tiêu cực được cho là xảy ra khi đem giáo lý vào trong nhà của việc giải nghĩa. Những độc giả thời Cải chánh này không chứng minh giả định giáo lý của họ bằng cách trích dẫn những câu Kinh Thánh riêng lẻ. Việc “chứng minh bằng câu Kinh Thánh” là một thực hành hiện đại, được khuyến khích bởi những ý thức hệ duy lý và khoa học đã nở rộ trong các thế kỷ gần đây. Khi nói đến giáo lý xưng công bình, việc chứng minh bằng câu Kinh Thánh không có ý nghĩa. Một quy điển bao gồm cả Gia-cơ và Phao-lô biến giáo lý thành một vấn đề cần được giải quyết. Giải pháp có thể được theo đuổi bằng văn bản với sự tham chiếu đến bối cảnh lịch sử (như trong Luther, Chemnitz, và Lapide), hoặc có thể được theo đuổi bằng giáo lý với sự phân tích kỹ lưỡng các khái niệm trọng yếu (như trong sự phân biệt của Calvin giữa hai ý nghĩa của đức tin).

Những độc giả này đã thấm đẫm sự giải nghĩa Phao-lô và Gia-cơ bằng những quan sát lịch sử, những phân biệt học thuật, và những nhận xét về bối cảnh nguyên thủy của Kinh Thánh. Họ làm như vậy không phải vì tò mò mơ hồ, nhưng vì một cảm thức khẩn cấp. Làm sao có thể duy trì giáo lý chân thật khi đối diện với những lời chứng dường như trái ngược trong Kinh Thánh? Ở mức độ lớn, sự thấm đẫm việc giải nghĩa bằng những quan sát về lịch sử, đạo đức, siêu hình, tâm lý, và mọi ngành học khác chính là thần học Cơ Đốc.

Nói cách khác: thần học Cơ Đốc vận hành với một phạm vi rộng lớn các thực hành trí tuệ, cung cấp những nhận định lịch sử, những phân biệt khái niệm, và những sắc thái văn bản cho độc giả trung tín của Kinh Thánh, và làm như vậy để họ có thể duy trì những cách đọc được điều hướng bởi giáo lý. Không có những ưu tiên giáo lý, việc giải nghĩa dễ dàng trở nên một chiều và phẳng lặng, thường rơi vào những khuôn mẫu cố định và những thói quen mệt mỏi của quy ước học thuật đơn thuần. Đây là một lý do tại sao những nhà bình luận văn bản lịch sử cũ lại thú vị đến thế—họ gắn bó với sự dạy dỗ của Hội Thánh—trong khi sự phê bình học thuật hiện đại thường có vẻ kém sinh động và sáng tạo. Những ngoại lệ là các nhà giải nghĩa nữ quyền và những người theo các ý thức hệ khác. Họ gắn bó với những giáo lý thế tục. Sự gắn bó này thúc đẩy họ đưa ra những cách đọc táo bạo, đem sự tối nghĩa và đa dạng của Kinh Thánh vào một hình thức mạch lạc dưới sự điều hướng của giả thuyết bao quát của họ về tầm quan trọng trung tâm của gia trưởng, chủ nghĩa thực dân, đế quốc, hoặc một quyền lực căn bản nào đó mà họ xem là chủ tể tối cao của các sự việc nhân loại.

Dù là thế tục hay tôn giáo, chính thống hay dị giáo, giáo lý cung cấp bản phác họa để sắp đặt bức tranh ghép của Kinh Thánh; nó thiết lập một chân trời lẽ thật cho việc giải nghĩa. Trong nhiều thế kỷ, Tin Lành và Công giáo đã bị chia rẽ bởi giáo lý xưng công bình. Dù có những tuyên bố hiệp nhất, nhiều người vẫn nghĩ rằng các truyền thống này còn chia rẽ. Nhưng như những nhân vật lớn mà chúng ta đã xét ở trên cho thấy, họ lại hiệp nhất trong điều tôi gọi là sự giải nghĩa thần học. Những cam kết giáo lý đã thúc đẩy họ phát triển lịch sử của quy điển, phân tích khái niệm đức tin, và thêm sắc thái cho các đoạn Kinh Thánh. Và họ làm tất cả điều này để chứng minh rằng Phao-lô và Gia-cơ không mâu thuẫn với nhau. Họ bám vào giả định về sự hòa hợp—niềm tin Cơ Đốc căn bản rằng giáo lý Hội Thánh và sự giải nghĩa đúng đắn đều tuôn ra từ cùng một nguồn suối luôn tuôn chảy của sự mặc khải thần thượng.

Những tự phụ của các nhà phê bình hiện đại chỉ là tự phụ. Chúng không phải là những tường thuật chính xác về việc giải nghĩa tiền hiện đại. Cả Luther lẫn Lapide đều không dùng Kinh Thánh như bằng chứng cho giáo lý. Để gợi lại sự phân biệt nổi tiếng của Augustin giữa việc “dùng” và việc “hưởng,” họ đã dùng những cam kết giáo lý của mình để định hình cách giải nghĩa. Giáo lý xưng công bình (dù được hiểu thế nào) hướng dẫn họ khi họ cố gắng giải quyết câu đố của Kinh Thánh. Làm sao Phao-lô và Gia-cơ có thể nói những điều họ nói mà không mâu thuẫn nhau? Trong sự giải nghĩa của Luther và Lapide, giáo lý không nằm trong Kinh Thánh. Thay vào đó, giáo lý là điều họ cần phải tính đến nếu họ muốn được hưởng một cái nhìn thoáng qua về vị vua đẹp đẽ mà toàn bộ Kinh Thánh làm chứng. Chúng ta sẽ làm tốt nếu noi theo thực hành của họ, ngay cả khi chúng ta bất đồng với sự hiểu biết của họ về giáo lý xưng công bình và theo đuổi những cách đọc rất khác về Phao-lô và Gia-cơ.

ĐIỂM DỪNG CỦA GIẢI NGHĨA