Skip to main content

Chương 05: Ban Đầu

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất.” Bản dịch quen thuộc và lâu đời này của câu mở đầu Kinh Thánh theo sát Bản Bảy Mươi, tức bản dịch Hy Lạp cổ của Cựu Ước vốn được sử dụng rộng rãi trong Do Thái giáo thời Hy Lạp hóa và trong Hội Thánh ban đầu. Như tôi đã ghi nhận trong các chương trước, cụm từ “ban đầu” mang những hệ quả giáo lý quan trọng. Nó gợi lên một sự khởi đầu tuyệt đối, điều được bày tỏ rõ ràng trong câu mở đầu của sách Tin Lành Giăng: “Ban đầu có Ngôi Lời.” Và bản dịch truyền thống của Sáng Thế Ký 1:1 kết hợp rất hài hòa với giáo lý về sự sáng tạo từ hư không, một sự tương hợp mà tôi đã dùng để minh họa bản chất của phương pháp giải nghĩa thần học. Trong chương này, tôi muốn đi sâu hơn vào sự tương tác giữa Kinh Thánh và giáo lý, bởi sự tương tác qua lại phong phú này được bày tỏ rõ ràng trong cách đọc thần học về những câu mở đầu của sách Sáng Thế Ký.

Ngày nay, Sáng Thế Ký 1:1 thường được dịch là “Ban đầu khi Đức Chúa Trời dựng nên” hoặc “Khi Đức Chúa Trời khởi đầu công cuộc sáng tạo.” Ý nghĩa về một khởi đầu tuyệt đối và nền tảng bị làm mờ đi, thậm chí bị phủ nhận, và mối liên hệ mật thiết giữa Sáng Thế Ký 1:1 với Giăng 1:1 bị che khuất. Nhiều học giả Kinh Thánh xem những kết quả này là điều đáng mong muốn. Người ta nói rằng giáo lý Cơ Đốc cản trở việc giải nghĩa Kinh Thánh cách đúng đắn. Chúng ta sẽ tốt hơn nếu có những bản dịch ngăn cản độc giả giả định sự phù hợp giải nghĩa theo truyền thống Cơ Đốc.

Nhưng có thật là những giáo lý như creatio ex nihilo xa lạ với sự giải nghĩa đúng đắn chăng? Điều quan trọng cần nhận biết là trong chính bản văn Hê-bơ-rơ cũng không có gì có thể quyết định cho chúng ta ý nghĩa chính xác của Sáng Thế Ký 1:1. Hơn nữa, một từ như “ban đầu” có nhiều sắc thái ý nghĩa. Một điểm khởi hành có thể chỉ về một khoảnh khắc riêng biệt trong thời gian: “Chuyến xe lửa bắt đầu lúc 7 giờ 25 chiều.” Theo nghĩa này, sự ưa thích của các dịch giả hiện đại đối với một vai trò mang tính thời gian và hạn chế hơn cho chữ “ban đầu” chắc chắn là điều có thể hiểu được. Tuy nhiên, một điểm khởi hành hay ban đầu cũng có thể chỉ về nền tảng hay lý do cho một điều gì đó, tức là mục đích hay 8nguyên nhân*. Một nhà khoa học có thể nói: “Định luật thứ hai của nhiệt động học là nền tảng—ban đầu—của vũ trụ học của tôi.” Hoặc ông ta có thể nói: “Lớp học của Giáo sư Smith là nền tảng—ban đầu—cho tình yêu khoa học của tôi.” Giáo sư Smith không phải là thầy dạy khoa học đầu tiên của ông. Đúng hơn, ông là người đã khơi dậy niềm đam mê tìm tòi khoa học, và một tia lửa không chỉ xảy ra tại một thời điểm nhất định; nó có thể trở thành nền tảng hay nguồn gốc lâu dài.

Những ý nghĩa của “ban đầu” như nguồn gốc và căn nguyên gắn liền với từ Hy Lạp archē, có nghĩa là nền tảng và căn bản, cũng như một điểm khởi đầu trong thời gian. Từ này sinh ra chữ “archaeology,” tức khảo cổ học, nghiên cứu về nguồn gốc vật chất của một nền văn hóa. Archē được dùng trong Bản Bảy Mươi để dịch Sáng Thế Ký 1:1, và nó được lặp lại trong Giăng 1:1. Dĩ nhiên, ý nghĩa của “ban đầu” được truyền đạt trong khái niệm về nguồn gốc hay căn nguyên, chứ không chỉ là một khoảnh khắc đầu tiên trong thời gian, không phải chỉ là một ý tưởng Hy Lạp. Kinh Thánh dạy rằng: “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan” (Thi Thiên 111:10). Lời khẳng định này mang tính bản chất, chứ không phải theo thời gian. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va là nền tảng của đời sống khôn ngoan, cung cấp căn nguyên và gốc rễ của nó.

Những nhận xét về các ý nghĩa khác nhau của chữ “ban đầu” nêu lên một vấn đề giải nghĩa đáng chú ý. Bản dịch cũ, “ban đầu,” gợi đến những ý tưởng khá truyền thống về Đức Chúa Trời là Đấng đời đời và tự hữu, mà hành động sáng tạo của Ngài khởi đầu thời gian và đem mọi sự vào hiện hữu. Các bản dịch mới lại hàm ý rằng Đức Chúa Trời là một vị thần đã, tại một thời điểm nào đó trong lịch sử, bắt tay vào việc hình thành thế giới từ vật chất có sẵn. Vậy thì, chúng ta phải chọn điều nào? Chúng ta sẽ gắn bó với bản dịch truyền thống và mối liên hệ mật thiết của nó với creatio ex nihilo? Hay chúng ta nên theo những phán đoán học thuật đương đại?

=====

Như tôi đã ghi nhận, nguyên bản Hê-bơ-rơ không đưa ra sự hướng dẫn rõ ràng. Nhưng tôi không nghĩ chúng ta nên tiếc nuối vì thiếu những câu trả lời dễ dàng. Việc chúng ta đọc Sáng Thế Ký 1:1 như thế nào là điều hết sức quan trọng. Những cách giải nghĩa truyền thống, được nâng đỡ bởi bản dịch xưa vốn bắt nguồn từ bản Hy Lạp cổ của Cựu Ước, giữ vai trò quan trọng trong giáo lý về sự sáng tạo (cũng như trong thần học Ba Ngôi). Sự kết hợp giữa tính bất định và hệ quả này tạo nên áp lực giải nghĩa. Chúng ta phải tự thúc giục mình suy nghĩ sâu xa hơn về chương mở đầu của sách Sáng Thế Ký. Và đó là một kết quả tốt. Trở ngại lớn nhất cho việc đọc Kinh Thánh cách đúng đắn trong thời đại chúng ta không phải là cám dỗ của chủ nghĩa căn bản. Vấn đề của chúng ta là sự thờ ơ và tự mãn, những vấn đề muôn thuở lại càng trầm trọng hơn bởi sự tự phụ hiện đại rằng chúng ta là những người thừa hưởng tiến bộ đạo đức và tâm linh, khiến chúng ta tự đặt mình ở vị trí cao hơn Kinh Thánh và những người đọc trước kia.

Vậy hãy chấp nhận áp lực mà những cam kết giáo lý đặt lên việc giải nghĩa Kinh Thánh. Để bước đi đầu tiên hướng đến một cái nhìn rộng lớn hơn, tôi muốn quay sang Rashi, nhà chú giải Do Thái vĩ đại của thế kỷ thứ mười một. Ông đưa ra những nhận xét ngắn gọn nhưng đầy sinh khí, giúp chúng ta hiểu được sự phong phú trong giải nghĩa của giáo lý cổ điển.

Trong phần chú giải về sách Sáng Thế Ký, Rashi ghi nhận một ý kiến của các thầy rabbi trước đó. Ý kiến ấy cho rằng Ngũ Kinh lẽ ra phải bắt đầu từ Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 chứ không phải từ Sáng Thế Ký 1:1. Quan điểm này dựa trên cách hiểu truyền thống của rabbi rằng Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 bày tỏ điều răn đầu tiên mà Đức Chúa Trời ban cho dân Y-sơ-ra-ên, và theo nghĩa ấy, nó khởi đầu việc ban cho luật pháp tại núi Si-nai. Khi nói rằng Kinh Thánh lẽ ra phải bắt đầu từ điểm này, các rabbi đang truyền đạt một phán đoán thần học quan trọng: Đức Chúa Trời sáng tạo vì cớ luật pháp. Nhưng các rabbi không chỉ treo một ý tưởng thần học lên một câu Kinh Thánh. Nếu chúng ta xem xét Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2, chúng ta thấy ý nghĩa trực tiếp của câu ấy vang vọng lại Sáng Thế Ký 1:1: “Tháng nầy sẽ định cho các ngươi, là tháng đầu trong những tháng.” Đức Chúa Trời liền nhắc lại: “Ấy sẽ là tháng thứ nhứt trong năm cho các ngươi.” Nếu nhìn vào bối cảnh rộng hơn, chúng ta thấy phần tiếp theo sau Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 liên quan đến sự chuẩn bị cho lễ Vượt Qua, tức là cửa hẹp mà dòng dõi của Áp-ra-ham phải đi qua để bước vào sự trọn vẹn của lời hứa Đức Chúa Trời.

Xét theo nội dung này, ý nghĩa rõ ràng của Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 là lễ Vượt Qua là “khởi đầu” của lịch âm Do Thái. Nhưng nó rơi vào tháng Nisan, một tháng mùa xuân, trong khi Rosh Hashanah, tức Năm Mới Do Thái, lại mở đầu tháng Tishri, một tháng mùa thu. Vậy thì chúng ta phải đọc lời tuyên bố của Đức Chúa Trời rằng Nisan sẽ là tháng thứ nhất, tức “khởi đầu” của năm, như thế nào? Sự mâu thuẫn bề ngoài được giải quyết nếu chúng ta hiểu “khởi đầu” là nền tảng, mục đích, hay lý do. Lễ Vượt Qua và sự mặc khải sau đó tại núi Si-nai vận hành như archē của sự sáng tạo. Rashi ngụ ý rằng kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên là khía cạnh căn bản và nền tảng nhất của sự sáng tạo. Cũng như sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan, thì việc ban cho luật pháp chính là khởi đầu mà trong đóvì đó Đức Chúa Trời sáng tạo. Như Karl Barth đã nói, giao ước là nền tảng bên trong của sự sáng tạo.

Nguyên bản Hê-bơ-rơ của Cựu Ước không có nguyên âm. Chúng được thêm vào trong bản Masoretic, mà các học giả tin rằng được hình thành sau thế kỷ thứ bảy sau Công nguyên. Bản Masoretic này của Sáng Thế Ký nâng đỡ các bản dịch hiện đại và những cách thay thế cho cụm từ “ban đầu.” Tuy nhiên, Rashi, vốn rất quen thuộc với bản Masoretic, lại đọc Sáng Thế Ký theo cách khác. Việc ông trích dẫn ý kiến xưa rằng Kinh Thánh lẽ ra phải bắt đầu từ Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 đã nâng đỡ bản dịch của Bản Bảy Mươi cho câu mở đầu. Luật pháp là “ban đầu,” nghĩa là “ban đầu”—trong và vì cớ luật pháp—Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới.

Điều đáng chú ý là quan điểm truyền thống của rabbi rằng Đức Chúa Trời khởi đầu với luật pháp lại tiếp nhận cùng một ý nghĩa của chữ “ban đầu” như phần mở đầu của sách Tin Lành Giăng. Giăng 1:1, cũng như Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2, dùng chữ “ban đầu” quan trọng ấy. Những câu mở đầu của sách Tin Lành Giăng cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã sáng tạo trong và vì cớ sự nhập thể của Ngôi Lời. Không phải Rashi hay bất kỳ nhà chú giải Do Thái nào cũng đồng ý rằng Đấng Christ, tức Ngôi Lời nhập thể, là archē của sự sáng tạo, tức nền tảng bên trong của nó. Đúng hơn, quan điểm truyền thống về Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 mà Rashi trích dẫn và cách diễn đạt của câu mở đầu sách Tin Lành Giăng cùng chia sẻ một phán đoán thần học chung. Công cuộc của Đức Chúa Trời, dù được diễn đạt bằng luật pháp hay bằng Đấng Christ, chính là “ban đầu” mà từ đó và vì đó Đức Chúa Trời sáng tạo.

Tại điểm này, tôi có thể nghe thấy những phản đối. Những cách diễn đạt như “Khi Đức Chúa Trời bắt đầu sáng tạo” hoặc “Ban đầu khi Đức Chúa Trời dựng nên” nhận được sự ủng hộ từ các học giả hiện đại, ít nhất một phần vì họ cho rằng những trung thành thần học truyền thống đã quá lâu chi phối cách chúng ta đọc Kinh Thánh. Mối quan ngại này trở nên đặc biệt gay gắt khi các học giả Kinh Thánh thấy Tân Ước vận hành như lăng kính qua đó chúng ta đọc Cựu Ước. Tôi không muốn phủ nhận khát vọng đương đại nhằm phục hồi sự nguyên vẹn của những tiếng nói riêng biệt trong các sách đa dạng của Kinh Thánh. Tuy nhiên, tôi lo rằng những giả định hiện đại về việc giải nghĩa Kinh Thánh mắc phải căn bệnh “chủ nghĩa hiện tại.” Các học giả ngày nay thường mù lòa trước sự phong phú của những lý do ủng hộ cách đọc truyền thống.

Như tôi đã lập luận trong các chương trước, những phán đoán giải nghĩa không xuất hiện ex nihilo, đạt được thẩm quyền cộng đồng, rồi sau đó áp đặt chính mình lên trí tưởng tượng giải nghĩa của những người đọc Kinh Thánh truyền thống. Người đọc truyền thống quay về với giáo lý bởi vì họ thấy sự áp dụng của nó mang lại kết quả phong phú trong việc giải nghĩa. Sự phong phú này không có gì đáng ngạc nhiên, vì các giáo lý được phát triển để hỗ trợ công việc giải nghĩa Kinh Thánh. Rashi không lặp lại ý kiến xưa về Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 chỉ vì ông là một “người truyền thống.” Ông đang chỉ ra một phán đoán thần học nền tảng về mối liên hệ giữa sự sáng tạo và sự cứu chuộc, điều vốn được nâng đỡ xuyên suốt Kinh Thánh. Điều tương tự cũng có thể nói về Giăng 1:1. Việc sử dụng bản dịch “ban đầu” và khẳng định ý nghĩa của nó về creatio ex nihilo là cách giải nghĩa hợp lý nhất cho Sáng Thế Ký 1:1, bởi vì nó nâng đỡ một cách đọc toàn diện Kinh Thánh như một chỉnh thể.

=====

Hãy bắt đầu với toàn cảnh rộng lớn của chương đầu sách Sáng Thế Ký. Những ngày sáng tạo tiến triển theo một trình tự thời gian, và cao điểm là ngày thứ bảy, tức ngày Sa-bát. Nhưng mặc dù có vẻ tập trung vào việc khi nào sự việc xảy ra, âm hưởng tu từ chủ đạo của chương đầu Sáng Thế Ký lại liên quan đến cách Đức Chúa Trời sáng tạo. Các ngày được ngắt quãng bằng một điệp khúc chung: “Đức Chúa Trời phán.” Mẫu tu từ này khuyến khích chúng ta diễn giải câu mở đầu của Sáng Thế Ký theo cách sau: “Ban đầu—trong điều Đức Chúa Trời phán, tức là trong Ngôi Lời của Ngài—Đức Chúa Trời dựng nên trời và đất.” Tác giả sách Tin Lành Giăng đã viết theo đúng mạch của Sáng Thế Ký.

Một cách đọc mang tính chính quy về chữ “ban đầu” tìm thấy sự nâng đỡ thêm từ văn bản. Nhiều nhà chú giải cổ đã thấy một khó khăn rõ ràng ngăn cản việc đọc chữ “ban đầu” theo nghĩa thuần túy thời gian. Một nan giải trong chương đầu Sáng Thế Ký là mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao được dựng nên vào ngày thứ tư. Vậy thì làm sao có thể có “ngày thứ nhất” khi mặt trời chưa hiện hữu? Điều gì đánh dấu sự khác biệt giữa ngày và đêm? Và ngay cả khi mặt trời hiện hữu, thì tại bất kỳ thời điểm nào, một nửa trái đất ở trong bóng tối trong khi nửa kia ngập tràn ánh sáng. Chúng ta không thể nghĩ rằng trái đất như một tổng thể (chưa nói đến vũ trụ rộng lớn hơn) tồn tại trong một trạng thái toàn diện của “ngày” hay “đêm.” Trước những khó khăn này, Augustine lo ngại rằng việc đọc tường thuật sáng tạo trong Sáng Thế Ký theo nghĩa thuần túy thời gian sẽ khiến chúng ta vướng vào vô số rắc rối. Ông nói: “Tôi sợ rằng mình sẽ bị cười nhạo bởi những người có kiến thức khoa học về những điều này và bởi những người nhận biết sự thật của sự việc.”

Vẫn còn những lý do khác để duy trì cách đọc và bản dịch truyền thống. Trong trường hợp này, chúng ta có thể rút ra những hiểu biết từ học thuật Kinh Thánh hiện đại. Theo thuật ngữ của nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại, chương đầu của Sáng Thế Ký phản ánh mối quan tâm và thế giới quan của P (tác giả thuộc nhóm Tế lễ), trong khi chương thứ hai bắt nguồn từ J (tác giả thuộc nhóm Giê-hô-va). Tôi thấy sự suy đoán này về nguồn gốc của các phần trong Sáng Thế Ký là thuyết phục. Nó khuyến khích chúng ta chú ý kỹ đến vị trí của tường thuật sáng tạo đầu tiên trong toàn bộ các trước tác của nhóm Tế lễ.

Vì vậy, với tư cách là một nhà sử học, điều đầu tiên và quan trọng nhất cần nói về toàn bộ tường thuật sáng tạo mở đầu sách Sáng Thế Ký là nó bắt nguồn từ một truyền thống muốn đặt đền thờ và sự tế lễ vào trung tâm của nhận thức chúng ta về logic và mục đích sâu xa nhất của thực tại. Nói cách khác, kế hoạch thần thượng về đền thờ và sự tế lễ chính là archē trong cái nhìn của tác giả Tế lễ về sự sáng tạo. Trong khía cạnh này, kết quả của nghiên cứu lịch sử-phê bình hiện đại khuyến khích chúng ta nói rằng: “Ban đầu là sự thờ phượng trong đền thờ và những hệ quả tư tưởng của nó.” Kết luận này đi ngược lại sự ưa thích đương đại đối với cách đọc mỏng manh, tập trung vào thời gian của câu mở đầu. Đây là một dấu hiệu khác ủng hộ bản dịch truyền thống.

Tôi đã liệt kê một số lý do từ văn bản để nâng đỡ cho cụm từ “Ban đầu.” Giờ đây tôi muốn mở rộng lập luận của mình, không chỉ vì tôi nghĩ những lý do ấy là thuyết phục, mà còn vì chúng ta cần phải minh bạch về toàn bộ phạm vi của việc giải nghĩa. Người đọc thần học là theo-logical bởi vì họ muốn đọc Kinh Thánh theo cách duy trì một cái nhìn mạch lạc về kế hoạch và mục đích của Đức Chúa Trời. Việc duy trì một cái nhìn mạch lạc bao gồm những tầng lớp lập luận phức tạp và đôi khi khó hiểu. Trong trường hợp này, tôi xác định ba lợi ích ủng hộ bản dịch truyền thống. Một cách giải nghĩa chữ “ban đầu” được hướng dẫn bởi giáo lý về sự sáng tạo từ hư không (1) giúp chúng ta tránh một xung đột giả tạo giữa sự sáng tạo và khoa học, (2) tạo điều kiện cho sự gắn kết trung tín giữa đức tin và lý trí, và (3) tối đa hóa sự phong phú thuộc linh của những mối quan tâm giải nghĩa của chúng ta.

=====

Vũ trụ học hiện đại quan tâm đến sự vận động của vật chất và năng lượng đã hình thành nên thực tại như chúng ta biết. Sự khảo cứu này gợi ý ý nghĩa của chữ “ban đầu” được hiểu như một trình tự thời gian. Vì lý do đó, việc giải nghĩa chữ “ban đầu” theo nghĩa đầy đủ hơn—như nguồn gốc hay nền tảng tối hậu của thực tại—không nhất thiết phải trực tiếp và chủ yếu liên quan đến vũ trụ học hiện đại. Một nhà khoa học hiện đại có thể lập luận, như Richard Dawkins, rằng thế giới không có ý định hay mục đích nào nâng đỡ phía sau. Nhưng lời tuyên bố như vậy phản ánh một phán đoán triết học, chứ không phải một phán đoán khoa học. Dawkins giả định rằng những gì khoa học hiện đại có thể hoặc không thể xác định thì đồng nghĩa với những gì có hoặc không có thật. Đây là một khẳng định, chứ không phải một tiên đề khoa học. Lời tuyên bố rằng vũ trụ không có ý nghĩa hay mục đích không phải là một phần của vũ trụ học khoa học. Do đó, một cách đọc thực chất về chữ “ban đầu” trong Sáng Thế Ký 1:1 cho phép người giải nghĩa Cơ Đốc tiếp nhận khoa học hiện đại, đồng thời làm sáng tỏ sự từ chối đúng đắn của Cơ Đốc giáo đối với chủ nghĩa khoa học hiện đại.

Lợi ích thứ hai liên quan đến trọng tâm của hoạt động giải nghĩa của chúng ta. Nếu chúng ta tiếp nhận cách đọc câu mở đầu của Sáng Thế Ký theo hướng của Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2 và cách dùng chữ “ban đầu” như nền tảng hay mục đích, thì những câu hỏi giải nghĩa của chúng ta sẽ trở nên thẳng thắn và đưa chúng ta trực tiếp đến một câu hỏi thần học mà bất kỳ người Cơ Đốc (và người Do Thái) nào cũng phải quan tâm: Kế hoạch của Đức Chúa Trời “ban đầu” là gì?

Các tác giả Tân Ước rất ý thức về tầm quan trọng trung tâm của câu hỏi này. Tác giả sách Tin Lành Giăng không phải là người duy nhất diễn đạt sự sáng tạo theo kế hoạch thần thượng. Như Sứ đồ Phao-lô viết:

“Chỉ có một Đức Chúa Trời, tức là Cha, bởi Ngài muôn vật đến, và chúng ta vì Ngài mà hiện hữu; lại chỉ có một Chúa, là Chúa Giê-xu Christ, bởi Ngài muôn vật hiện hữu, và chúng ta cũng bởi Ngài mà hiện hữu” (1 Cô-rinh-tô 8:6).

Lời diễn đạt của Phao-lô là một sự giải nghĩa Sáng Thế Ký 1:1 theo cách này: Trong (qua) ban đầu (tức là Đấng Christ), Đức Chúa Trời, tức là Cha, đã dựng nên trời và đất.

Được hướng dẫn bởi tường thuật sáng tạo này, Phao-lô và truyền thống Cơ Đốc sau đó đặt sự mặc khải trong Đấng Christ lên hàng ưu tiên, theo cách hòa hợp đức tin với lý trí. Biết Chúa Giê-xu là điều cốt yếu để biết được “ban đầu” mà trong đó và từ đó muôn vật được hiện hữu. Như Augustine khuyên: “Hãy xem xét cấu trúc của thế giới. Hãy nhìn vào những gì được tạo nên bởi Ngôi Lời, rồi ngươi sẽ hiểu bản chất của thế giới là gì.”

Đấng Christ là kế hoạch chủ yếu; Ngài là “Con yêu dấu” và là “trưởng tử của cả sáng thế”; Đấng Christ là ban đầu, “vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài” (Cô-lô-se 1:13–16). Sự chết cứu rỗi của Ngài đã được định trước “trước khi sáng thế” (1 Phi-e-rơ 1:20). Chúa là “sao mai rực sáng” (Khải Huyền 22:16) nhờ đó người trung tín định hướng, và “trong Ngài giấu kín mọi kho tàng của sự khôn ngoan và tri thức” (Cô-lô-se 2:3).

Trong mỗi đoạn Kinh Thánh Tân Ước này, thế giới không chỉ có một khởi đầu trong thời gian; nó có một khởi đầu trong kế hoạch thần thượng, tức là Ngôi Lời. Với sự hiểu biết này, chúng ta có thể trở lại xem xét mối liên hệ giữa khoa học và tôn giáo, lần này với một sự khẳng định thần học rằng cả hai có thể nâng đỡ lẫn nhau cách đúng đắn và phong phú. Sự hiểu biết chính xác về thực tại (trước đây gọi là triết học tự nhiên) dẫn chúng ta đến Ngôi Lời khởi nguyên. Hãy nhớ lời Augustine: “Hãy xem xét cấu trúc của thế giới này.” Lý trí có thể chuẩn bị cho đức tin. Và con đường đi theo cả hai chiều. Thần học định hướng tâm trí chúng ta đến lẽ thật của muôn vật. Đức tin đưa chúng ta đến sự hiệp nhất ngày càng mật thiết với archē của sự sáng tạo, và do đó đức tin làm cho lý trí được hoàn thiện.

Lợi ích thứ ba phát sinh từ việc tiếp nhận “ban đầu” như cách đọc câu mở đầu của Sáng Thế Ký liên quan trực tiếp đến một vấn đề trung tâm trong thần học Cơ Đốc: mối liên hệ giữa tự nhiên và ân điển. Ý nghĩa tuyệt đối của chữ “ban đầu” được xác định bởi giáo lý creatio ex nihilo cho phép một cách đọc sự sáng tạo của Đức Chúa Trời tập trung vào Đấng Christ. Điều này giúp giải thích sự khẳng định kép đầy khó hiểu vốn đặc trưng cho Cơ Đốc giáo thời các sứ đồ. Một mặt, mọi sự đều là tốt lành; mặt khác, mọi sự đều phải thay đổi.

Nói cụ thể hơn, không chỉ loài người là hữu hạn và hiện hữu như những khía cạnh tự nhiên trong trật tự sáng tạo; họ cũng được chọn và được gọi vào sự thông công với Đức Chúa Trời. Khi câu chuyện trong Sáng Thế Ký tiến triển, Áp-ra-ham phải rời bỏ quê hương. Ông được gọi để vượt lên trên những ràng buộc tự nhiên của tình yêu gia tộc và từ bỏ sự an toàn của bộ tộc mình. Sự ra đi này được tăng cường trong việc môn đồ hóa. Hãy xem xét những đòi hỏi trong Bài Giảng Trên Núi! Những điều bình thường của đời sống—thân thể chúng ta, dục vọng chúng ta, sự trung tín của chúng ta, căn tính của chúng ta như những tạo vật xã hội—tất cả đều được kêu gọi vượt lên trên những gì có vẻ tự nhiên và bình thường. Chúng ta được sáng tạo, đúng vậy, nhưng định mệnh được Đức Chúa Trời ấn định cho chúng ta là sống như những con cái được nhận làm của Ngài.

Nan giải về mối liên hệ giữa tự nhiên và ân điển là điều căn bản. Như tôi đã lập luận ở nơi khác, sự mâu thuẫn bề ngoài giữa sự tốt lành của sự sáng tạo và sự cần thiết của sự cứu chuộc có liên quan sâu sắc đến những nghi ngờ hiện đại về lẽ thật của Tin Lành. Làm sao Đức Chúa Trời có thể gọi sự sáng tạo là “rất tốt lành” rồi lại tiếp tục hành động trên nó để thúc đẩy loài người hướng đến một mục tiêu cao hơn nữa? Làm sao thân thể con người có thể là tốt lành, nhưng Đức Chúa Trời vẫn đòi hỏi Áp-ra-ham chịu phép cắt bì vì cớ giao ước? Làm sao chúng ta có thể hòa hợp mạng lệnh thần thượng “Hãy sanh sản thêm nhiều và làm cho đầy dẫy đất” với lời khuyên của Phao-lô rằng hãy ưu tiên đời sống độc thân?

Những khó khăn này được giải quyết nếu chúng ta tiếp nhận ý nghĩa tuyệt đối của chữ “ban đầu” thay vì ý nghĩa hạn hẹp về thời gian được gợi ra bởi bản dịch “Khi Đức Chúa Trời bắt đầu sáng tạo.” Đấng Christ là kế hoạch chủ yếu của cả sự sáng tạo—Ngài là ban đầu. Do đó, lời kêu gọi môn đồ của Ngài dẫn đến sự thành tựu của tự nhiên chứ không phải sự xóa bỏ hay phủ nhận nó. Như Athanasius nhận xét:

“Vậy thì không có sự mâu thuẫn nào giữa sự sáng tạo và sự cứu rỗi, vì Đức Chúa Cha đã dùng cùng một Đấng cho cả hai công việc, thực hiện sự cứu rỗi của thế gian bởi cùng một Ngôi Lời đã dựng nên nó từ ban đầu.”

Khi theo Đấng Christ hướng đến một cứu cánh siêu nhiên, chúng ta sẽ không (như Nietzsche nói) cắt xẻ đời sống tự nhiên mong manh và hữu hạn của mình. Điều được sáng tạo sẽ không bị đánh bại hay hủy diệt; nó sẽ “bị sự sống nuốt mất” (2 Cô-rinh-tô 5:4). Như lời của T. S. Eliot: “Và cuối cùng của mọi cuộc tìm kiếm của chúng ta sẽ là trở lại nơi chúng ta đã khởi hành biết nơi ấy lần đầu tiên.”

=====

Câu thứ hai của Sáng Thế Ký dường như khá rõ ràng: “Vả, đất là vô hình và trống không; sự tối tăm ở trên mặt vực; và Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước.” Nhưng đối với những người đọc Sáng Thế Ký theo truyền thống, sự cam kết với giáo lý creatio ex nihilo khiến những câu này trở nên rất khó xử. Thay vì phán khiến toàn thể thực tại hiện hữu, Đức Chúa Trời dường như chế ngự và định hình một sự hỗn loạn có sẵn, hành động trên một chất liệu nguyên thủy đầy nước. Các học giả Kinh Thánh hiện đại đã chỉ ra những mối liên hệ chi tiết giữa câu này và thần thoại sáng tạo của Ba-by-lôn, Enuma Elish. Sự song song này xuất hiện ở nhiều chỗ khác nhau trong Cựu Ước. Nhưng các học giả hiện đại không phải là những người đầu tiên nhận thấy rằng ý nghĩa trực tiếp của Sáng Thế Ký 1:2 gợi ý sự sáng tạo từ chất liệu nguyên thủy có sẵn, chứ không phải từ hư không. Như Augustine thuật lại trong phần chú giải của ông về Sáng Thế Ký:

“Những kẻ tà giáo [ông ám chỉ đến người Manichaeans] vốn bác bỏ Cựu Ước thường chỉ vào đoạn này và nói: ‘Làm sao Đức Chúa Trời có thể dựng nên trời và đất từ ban đầu, nếu đất đã có sẵn rồi?’”

Ý nghĩa trực tiếp có thể khích lệ những kẻ tà giáo. Nhưng như Augustine chỉ ra, họ gặp phải một rào cản. Giáo lý creatio ex nihilo chặn đứng con đường ấy. Dù chúng ta có đọc câu này và sự gợi nhắc về một khoảng trống vô hình đầy bí ẩn và sự hỗn độn của nước như thế nào, Augustine nhận xét: “Chúng ta phải tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa và Dựng nên muôn vật.” Người đọc Cơ Đốc, vốn giả định thẩm quyền của giáo lý cổ điển, không thể chấp nhận một cách giải nghĩa cho phép tồn tại một khoảng trống vô hình có sẵn, một vực thẳm huyền bí, một nước nguyên thủy. Những nhượng bộ như vậy mâu thuẫn với giáo lý về sự sáng tạo từ hư không.

Người đọc hiện đại thường phản ứng mạnh mẽ trước ý tưởng rằng giáo lý lại có liên quan đến việc giải nghĩa Kinh Thánh. Chẳng phải chúng ta được dạy rằng phải tiếp nhận một cách tiếp cận phê bình có trách nhiệm đối với Kinh Thánh sao? Và nếu làm như vậy, chúng ta phải thừa nhận rằng, ngoại trừ 2 Ma-ca-bê 7:28, Kinh Thánh (Công giáo) không dạy cách rõ ràng về sự sáng tạo từ hư không. Vậy thì dường như xung đột giữa creatio ex nihilo và ý nghĩa trực tiếp của Sáng Thế Ký 1:2 đưa chúng ta đến một trường hợp điển hình về những ý tưởng thần học định sẵn làm lệch đi ý nghĩa nguyên văn của Kinh Thánh. Một hệ thống giáo lý cứng nhắc đang bị áp đặt lên Kinh Thánh và làm câm lặng chính tiếng nói của nó. “Tôn trọng những quan điểm và cách giải nghĩa truyền thống của Kinh Thánh là một chuyện,” chúng ta dễ dàng khăng khăng, “nhưng chúng ta phải chắc chắn rằng không được đánh mất sự tiếp xúc với điều văn bản thật sự nói.”

Như tôi đã ghi nhận trước đây, tôi đồng cảm với sự thúc giục muốn bảo vệ Kinh Thánh khỏi sự hấp thụ giản đơn vào những hệ thống giáo lý định sẵn. Một cách đọc Kinh Thánh mà bỏ qua hoặc bóp méo văn bản thì biến sự cam kết của chúng ta đối với Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời thành trò cười. Nhưng chúng ta cần bình tĩnh lại một chút. Những giáo lý như creatio ex nihilo trở nên có thẩm quyền bởi vì người đọc Cơ Đốc (và Do Thái) đã thấy chúng là những hướng dẫn hữu ích để có một cách đọc tổng thể mạch lạc về Kinh Thánh. Nếu chúng ta tạm gác lại ý nghĩa trực tiếp của câu thứ hai trong Sáng Thế Ký, chúng ta có thể thấy giáo lý creatio ex nihilo (1) làm cho ý nghĩa trực tiếp của Kinh Thánh được phát huy tối đa, (2) nâng đỡ một khuôn khổ siêu hình để khẳng định mạch lạc những lời tuyên bố của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời, và (3) cung cấp một trọng tâm thuộc linh, cứu rỗi cho việc giải nghĩa Kinh Thánh như một chỉnh thể. Tôi đã ghi nhận những lợi ích này trong chương 1 và 2. Tại đây tôi muốn đi vào chi tiết hơn.

=====

Hãy bắt đầu với bối cảnh tổng thể của Kinh Thánh. Chiến dịch chống lại sự thờ hình tượng trong Cựu Ước luôn ngụ ý giáo lý về sự sáng tạo từ hư không. Hình tượng không phải là yếu đuối, bất lực, hay thiếu sót; chúng là trống rỗng và vô hồn. Những kẻ dựng nên hình tượng trái với mạng lệnh của Đức Chúa Trời “chẳng ra gì hết; tượng chúng nó chỉ như gió trống rỗng” (Ê-sai 41:29). “Những kẻ làm hình tượng đều bị hỗ thẹn” (Ê-sai 45:16). Sự thờ hình tượng, dĩ nhiên, là tai họa cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng chính những hình tượng ấy không có quyền lực tà ác. Hình tượng “như hình nộm trong ruộng dưa,” và “chúng nó chẳng làm được điều dữ, cũng chẳng có quyền làm điều lành” (Giê-rê-mi 10:5).

Tân Ước tiếp tục giữ cùng một quan điểm. Hình tượng là vô hồn và bất lực. Phao-lô giải thích sự vô ích của hình tượng bằng cách nhấn mạnh sự độc nhất trong công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời (xem Công vụ 14:15; 17:24), vốn là một cách khác để khẳng định giáo lý về sự sáng tạo từ hư không. Phao-lô không bận tâm đến những lo ngại rằng thịt tế lễ của dân ngoại có thể bị nhiễm bởi một quyền lực tà ác bí mật nào đó (xem 1 Cô-rinh-tô 8). Hình tượng không có quyền lực độc hại; chúng là trống rỗng và vô nghĩa. Mối nguy không phải là hình tượng sẽ mê hoặc chúng ta bởi một bản chất bán-thần nào đó bên trong. Chúng khiến người ta bị cuốn hút bởi vì chúng ta sẽ lấp đầy sự trống rỗng của chúng bằng những tiếng chập chõa vang dội và tiếng chiêng inh ỏi của lời tiên tri rỗng tuếch và sự huyền nhiệm giả mạo (1 Cô-rinh-tô 13:1).

Với sự đồng thuận Kinh Thánh về hình tượng như vậy, không có gì ngạc nhiên khi các chủ đề về sự thờ hình tượng và lòng trung tín đã chuẩn bị cho sự khẳng định trực tiếp về creatio ex nihilo trong 2 Ma-ca-bê 7:28. Bằng cách buộc chúng ta tiếp nhận một quan điểm siêu hình giản lược, giáo lý về sự sáng tạo từ hư không nâng đỡ những đường nét chính trong phân tích Kinh Thánh về sự thờ hình tượng. Không có gì (nihil) ngoài một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất và mọi vật là công việc của tay Ngài. Không có những quyền lực hay thực tại trung gian, đời đời, bán-thần nào. Vì vậy, sự thờ hình tượng không phải là một sai lầm siêu hình hay một sự tính toán sai lạc. Sai lầm của nó không nằm ở sự trung tín với một chất liệu hỗn loạn nguyên thủy, bán-thần, vốn không thể sánh với quyền năng và vinh hiển của Chúa. Sự thờ hình tượng phạm phải một sai lầm thuộc linh; nó lôi kéo chúng ta vào sự thờ phượng hư vô, tức là không có gì cả. Hình tượng quyến dụ chúng ta và dẫn chúng ta đến sự tận hiến cho sự vô hồn, vốn là đối nghịch với sự dư dật của sự sống được hứa trong giao ước (xem Phục truyền 30:19). Môi-se thúc giục dân Y-sơ-ra-ên chọn sự sống—điều trái ngược với chủ nghĩa hư vô của sự thờ hình tượng.

Sự giản lược bản thể học được bao hàm trong giáo lý về sự sáng tạo từ hư không không chỉ nâng đỡ những lời cảnh báo của Kinh Thánh về sự thờ hình tượng. Nó cũng giúp người đọc Kinh Thánh xử lý xung đột bề ngoài giữa hai loại lời tuyên bố của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời. Một mặt, chúng ta đọc những lời khẳng định về sự siêu việt của Đức Chúa Trời: “Trời và các từng trời của trời không thể chứa được Ngài” (1 Các Vua 8:27). Đức Chúa Trời hoàn toàn khác biệt và không thể bị giới hạn trong thế giới hữu hạn. Mặt khác, chúng ta đọc về hành động của Đức Chúa Trời trong thế giới. Ngài truyền lệnh và phán, và trong những chỗ như Sáng Thế Ký 17:1, Đức Chúa Trời “hiện ra.” Vậy thì phải hiểu thế nào? Đức Chúa Trời ở ngoài hay ở trong? Ngài hoàn toàn khác biệt, hay Ngài hiện diện như tác giả của vở kịch cứu rỗi đang diễn ra?

Những câu hỏi này liên quan nhiều hơn là chỉ một sự căng thẳng nội tại trong Kinh Thánh. Chúng phản ánh trực giác hiện đại về tính phổ quát của lẽ thật và tính đặc thù của các nền văn hóa. Lời tuyên bố trên nhãn dán xe: “Đức Chúa Trời của tôi quá lớn để thuộc về một tôn giáo duy nhất” bày tỏ xác tín rằng người ta phải trung thành với 1 Các Vua 8:27 và loại bỏ Sáng Thế Ký 17:1. Khẩu hiệu ấy yêu cầu chúng ta khẳng định Đức Chúa Trời phổ quát trong sự mâu thuẫn với Chúa, Đấng chọn một dân tộc đặc thù, tức mười hai chi phái của Y-sơ-ra-ên. Sự chọn lựa đối nghịch giữa tính phổ quát và tính đặc thù càng trở nên kịch tính hơn trong thần học Cơ Đốc cổ điển. Sự siêu việt của Đức Chúa Trời dường như hoàn toàn không nhất quán với sự nhập thể của Ngôi Hai trong Ba Ngôi nơi con người Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét.

Creatio ex nihilo cho thấy rằng sự chọn lựa đối nghịch giữa siêu việt và hiện diện thực ra đặt trên một sự phân đôi giả tạo. Giáo lý này dạy rằng, trước khi sáng tạo, Đức Chúa Trời không có mối liên hệ nào với bất cứ điều gì ngoài chính Ngài. Không có một chất liệu đời đời nào để đối chiếu mà Đức Chúa Trời được định nghĩa là thần thượng. Theo cách này, giáo lý về sự sáng tạo từ hư không dẫn chúng ta đến chỗ hiểu sự siêu việt của Đức Chúa Trời theo nghĩa độc nhất, chứ không phải theo nghĩa khác biệt với, vượt trội hơn, hay ưu tiên hơn một điều gì khác. Như Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14 chép: Đức Chúa Trời là chính Ngài bởi vì Ngài là chính Ngài, chứ không phải bởi vì Ngài không phải là một điều gì khác. Xuất Ê-díp-tô Ký 3:15 cũng vang lên cùng một âm hưởng siêu hình theo một cung khác. Danh được bày tỏ của Đức Chúa Trời, tức YHWH, là nền tảng hơn những thuật ngữ đối chiếu như Đấng Đời Đời hay Đấng Toàn Năng.

Thực tế rằng creatio ex nihilo diễn đạt sự siêu việt của Đức Chúa Trời theo nghĩa độc nhất thay vì theo nghĩa vượt trội hay khác biệt có nghĩa là sự siêu việt của Đức Chúa Trời nhất quán với sự hiện diện của Ngài trong thực tại hữu hạn. Khi Đức Chúa Trời đến với những kẻ Ngài yêu thương, Ngài không bỏ lại điều gì phía sau. Không có một thực tại thần thượng nào khác ngoài Chúa độc nhất, và vì thế Ngài không phản bội hay mâu thuẫn với thần tính của Ngài khi đến gần. Người được hình thành bởi giáo lý truyền thống không cần phải cảm thấy bị buộc phải chọn lựa giữa Đức Chúa Trời phổ quát của các triết gia và Chúa, Đấng hành động trong không gian và thời gian. Người đọc các sách Tin Lành cũng không cần phải phân tách thần tính và nhân tính trong lời nói và hành động của một con người duy nhất là Chúa Giê-xu Christ. Tại đây, tầm quan trọng trung tâm của giáo lý về sự sáng tạo từ hư không đối với cách chúng ta đọc Sáng Thế Ký 1:2 phải được thấy rõ, như nó đã từng đối với Augustine. Bất kỳ sự mâu thuẫn nào với creatio ex nihilo và sự giản lược bản thể học của nó sẽ làm suy yếu khả năng của người đọc Kinh Thánh trong việc giải nghĩa Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên như là Đức Chúa Trời phổ quát. Không có giáo lý này, giáo lý Nicene trở nên thiếu mạch lạc.

Tại điểm này, tôi phải dừng lại để bày tỏ sự bực bội của mình đối với nhận thức hiện đại chống lại giáo lý. Việc bác bỏ thẩm quyền giải nghĩa của giáo lý về sự sáng tạo từ hư không không bảo tồn sự nguyên vẹn của văn bản Kinh Thánh. Nếu chúng ta gác bỏ creatio ex nihilo, thì có lẽ chúng ta sẽ trở nên thân mật hơn với một cấu trúc học thuật gọi là “tôn giáo Y-sơ-ra-ên cổ.” Nhưng cấu trúc đó là huyền bí, sản phẩm của sự suy đoán học thuật. Và nó không có hệ quả, bởi vì nó không phải là một chọn lựa sống động cho chúng ta. Tôi đã nhận thấy rằng các học giả dễ tin vào những khái niệm như “tôn giáo Y-sơ-ra-ên cổ” bởi vì chúng phần lớn không liên quan đến những xác tín quan trọng nhất của chúng ta về đời sống, đạo đức, và đức tin. Nhưng sự không liên quan này lại có cái giá của nó. Nếu chúng ta gác bỏ giáo lý về sự sáng tạo từ hư không, cách tiếp cận của chúng ta đối với Kinh Thánh như một chỉnh thể sẽ trượt vào tình trạng thiếu mạch lạc, và lời nói của chúng ta về Đức Chúa Trời sẽ trở nên mơ hồ, chỉ còn mang tính ẩn dụ mà thôi. Creatio ex nihilo đã được phát triển để tránh tình trạng thiếu mạch lạc và sự yếu ớt thần học này.

Lý do thứ ba và cuối cùng để khẳng định creatio ex nihilo bắt nguồn từ chính Tin Lành. Giáo lý này đòi hỏi một sự nhấn mạnh tối đa về Đấng Christ. Irenaeus đã đặt nền tảng cho việc bác bỏ những tường thuật của thuyết Ngộ đạo về vai trò của Chúa Giê-xu như Đấng Cứu Thế trên một sự phản bác phức tạp đối với giáo lý sáng tạo của thuyết Ngộ đạo. Người Ngộ đạo xem thế giới được sáng tạo như là sản phẩm của sự tiến hóa vũ trụ. Tiến trình này tạo ra những tầng lớp thực tại thuộc linh hay siêu nhiên tuôn chảy từ thần thượng. Với chiếc thang bản thể học này trong tay—hoàn toàn trái ngược với sự giản lược—người Ngộ đạo có thể tránh khỏi lời khẳng định nghịch lý rằng Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời nhập thể. Chúa Giê-xu có một vị trí trên chiếc thang hiện hữu. Ngài ở trên chúng ta về ý nghĩa bản thể, đưa tay ra kéo chúng ta lên, hướng chúng ta đến sự hiệp nhất với Đấng Duy Nhất. Irenaeus đã mạnh mẽ bác bỏ ý tưởng về một đấng trung gian bán-thần, và lý luận của ông kết thành một lập luận cho giáo lý về sự sáng tạo từ hư không. Sự giản lược bản thể học của giáo lý này buộc chúng ta phải đưa ra một chọn lựa dứt khoát: Chúa Giê-xu hoặc chỉ là một con người như bạn và tôi, hoặc Ngài là Đức Chúa Trời nhập thể.

Phân tích của Irenaeus dựa trên sự nhấn mạnh rộng rãi về sola gratia trong cách Tân Ước đọc Cựu Ước. Phân tích của Sứ đồ Phao-lô về sự xưng công bình của Áp-ra-ham và công cuộc ban phước lớn lao của Đức Chúa Trời bác bỏ ý tưởng rằng có những thực tại trung gian nào đó giữa Đức Chúa Trời và sự sáng tạo. Áp-ra-ham có thể nương dựa vào điều gì ngoài Đức Chúa Trời? Chỉ một mình Ngài “làm cho kẻ chết sống lại, và gọi những sự không có như có” (Rô-ma 4:17). Mọi quyền lực khác đều “như chết rồi” (4:19), Phao-lô nói, dùng những thuật ngữ vang vọng lại cuộc tranh luận của Cựu Ước chống lại sự thờ hình tượng. Chúng ta phải nương dựa vào một mình Đức Chúa Trời, vì chúng ta không thể nương dựa vào quyền lực thế gian, nhất là không thể nương dựa vào ý chí riêng của mình. Trong những lời khẳng định về sự cứu rỗi bởi ân điển duy nhất này, sự giản lược bản thể học được bao hàm trong creatio ex nihilo bày tỏ ý nghĩa cứu rỗi của nó. Nó chống lại sự cám dỗ nương dựa vào hình tượng (hay vào công việc riêng của chúng ta), và thúc đẩy chúng ta hướng đến một mình Đấng Christ như quyền năng của sự cứu rỗi.

=====

Có thêm những cơ sở khác nâng đỡ thẩm quyền của giáo lý về sự sáng tạo từ hư không đối với cách chúng ta giải nghĩa Sáng Thế Ký 1:2. Nhưng mục tiêu của tôi không phải là cung cấp một tường thuật toàn diện. Thay vào đó, tôi đã cố gắng cho thấy rằng sự quản trị giáo lý đối với việc giải nghĩa Kinh Thánh không phải là một sự phục tùng giản đơn đối với thẩm quyền ngoài Kinh Thánh. Nội dung của các giáo lý truyền thống phát sinh từ và nâng đỡ một loạt những phán đoán giải nghĩa phức tạp, nhiều tầng lớp, vốn vận hành xuyên suốt toàn bộ văn bản Kinh Thánh.

Người đọc Cơ Đốc hiếm khi cảm thấy cần phải làm rõ những lý do giải nghĩa rộng lớn cho các bản dịch và giáo lý của họ. Họ tin cậy vào sự nguyên vẹn Thánh Kinh của truyền thống Cơ Đốc như một chỉnh thể. Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của học thuật phê bình hiện đại là phá vỡ sự tin cậy này. Hơn một trăm năm trước, học giả Cựu Ước có ảnh hưởng rộng rãi là C. A. Briggs đã bày tỏ nhận thức hiện đại chống lại truyền thống như sau: “Kinh Thánh thánh, được ban cho bởi các đấng tiên tri thánh, nằm chôn vùi dưới đống rác của nhiều thế kỷ.” Briggs tiếp tục: “Những thung lũng của lẽ thật Kinh Thánh đã bị lấp đầy bởi những mảnh vụn của các giáo điều loài người, các cơ cấu giáo hội, các công thức phụng vụ, các nghi lễ tế lễ, và các thực hành pháp lý.” Theo Briggs và nhiều học giả Kinh Thánh hiện đại khác, chúng ta phải loại bỏ ảnh hưởng của nhiều thế kỷ giải nghĩa “để phục hồi Kinh Thánh thật.” Chúng ta cần loại bỏ truyền thống—vì cớ Tin Lành.

Tôi không muốn kết thúc bằng cách chỉ ra rằng, trong tư duy của Briggs và vô số học giả Kinh Thánh hiện đại khác, nguyên tắc sola scriptura của Tin Lành đã thoái hóa thành một chủ nghĩa hiện đại khô cằn. Tôi cũng không muốn đóng vai nhà phê bình hậu hiện đại để nói rằng thật ngây thơ khi tưởng tượng rằng chúng ta có thể đào sâu xuống “Kinh Thánh thật,” vốn không bị ảnh hưởng bởi sự giải nghĩa. Những lời phê bình này đã được nhiều người khác đưa ra, nhưng ít có hiệu quả. Tinh thần chống giáo lý của nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại vẫn tiếp tục duy trì những giả định phương pháp luận khó tin. Thay vào đó, tôi muốn đưa ra một nhận xét đơn giản hơn. Tôi hy vọng rằng sự phân tích các câu mở đầu của Sáng Thế Ký, mà tôi đã thực hiện nhiều lần trong tập sách này, đã gieo vào tâm trí người đọc sự nghi ngờ rằng các giáo lý truyền thống không phải là điều ngoại lai đối với việc giải nghĩa. Chúng không phủ lên Kinh Thánh như một tấm chăn ngột ngạt của định kiến. Trái lại, các truyền thống dịch thuật và giáo lý—cũng như các truyền thống phụng vụ, cầu nguyện, và kỷ luật thuộc linh của chúng ta—đều có nguồn gốc và hệ quả sâu sắc mang tính giải nghĩa.

Khi các nhà giải nghĩa hiện đại bỏ qua những nguồn lực của truyền thống, họ thường tái tạo lại bánh xe giải nghĩa. Không rút ra từ trí tuệ tập thể của những người đọc trung tín qua nhiều thế kỷ, những bánh xe tái tạo ấy thường lắc lư và thất bại. Nói theo cách quen thuộc với nhiều thế hệ sinh viên thần học, nghiên cứu Kinh Thánh hiện đại không giảng dạy. Theo quan điểm của tôi, vấn đề không nằm ở ý thức lịch sử hiện đại. Cũng không phải ở tinh thần phê bình, vốn đã được thể hiện rõ trong các giáo phụ, các nhà thần học Trung cổ, và các nhà Cải chánh.

Vấn đề của chúng ta phát sinh từ sự nghèo nàn trong cách giải nghĩa Kinh Thánh, do tinh thần chống truyền thống được Briggs bày tỏ và được ngầm chấp nhận bởi hầu hết các học giả Kinh Thánh hiện đại. Không có sự hướng dẫn từ kinh nghiệm lâu dài của Hội Thánh trong việc đọc Kinh Thánh, chúng ta rơi vào tình trạng có những mảnh rời rạc, tách biệt của Kinh Thánh, được bao quanh bởi những tái dựng lịch sử tinh vi. Những tái dựng ấy có thể thuyết phục, thậm chí hữu ích cho truyền thống đọc Kinh Thánh đang tiếp diễn của Hội Thánh. Nhưng phần lớn, chúng ta phải dựa vào những khái quát thô sơ hoặc những cử chỉ thần học mơ hồ để nối kết những mảnh rời rạc ấy với các phần khác của Kinh Thánh, hoặc với thực hành trung tín của Cơ Đốc nhân.

Chúng ta cần ngừng việc cố gắng tái tạo lại cách giải nghĩa Kinh Thánh. Chúng ta phải tránh ảo tưởng rằng thời đại què quặt thuộc linh của chúng ta có thể dùng những “phương pháp phê bình” ngày càng cũ kỹ và mệt mỏi để phục hồi “Kinh Thánh thật.” Những truyền thống được thừa hưởng của chúng ta luôn cần được thử nghiệm và điều chỉnh bởi sự suy tư giải nghĩa. Chúng ta chắc chắn có thể bao gồm học thuật lịch sử hiện đại trong tiến trình này. Những nghiên cứu mới về Phao-lô trong vài thập kỷ gần đây đã đóng góp quan trọng cho sự hiểu biết của chúng ta về giáo lý xưng công bình, chẳng hạn, như tôi đã ghi nhận trong chương trước. Nhưng hãy thừa nhận rằng những truyền thống được thừa hưởng của chúng ta vốn dĩ đã mang tính giải nghĩa sâu sắc và phong phú. Chúng tìm cách trả lời câu hỏi giải nghĩa khó khăn và trung tâm nhất: Làm thế nào để đọc toàn bộ Kinh Thánh như Lời của Đức Chúa Trời?

Mỗi thế hệ đều phải đối diện với câu hỏi này, kể cả thế hệ chúng ta. Tuy nhiên, thời đại của chúng ta khác biệt ở điểm này. Chúng ta tìm cách phân biệt điều Đức Chúa Trời đang phán với chúng ta trong Kinh Thánh giữa một nền văn hóa đạo đức, thuộc linh, và trí tuệ ngày càng thù nghịch. Đó là lý do tại sao thật dại dột nếu chúng ta bỏ qua những truyền thống giáo lý, giáo hội, phụng vụ, và thuộc linh của mình. Khi chúng ta cầm lấy và đọc Kinh Thánh, chúng ta cần đến chúng hơn bao giờ hết.

ĐIỂM DỪNG CỦA GIẢI NGHĨA