Skip to main content

Chương 01: Giới Thiệu

·20058 words·95 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

I. TỔNG QUAN
#

Bài thơ lớn của người Assyria, hoặc chuỗi các truyền thuyết kể lại câu chuyện về sự Sáng tạo thế giới và loài người, được người Assyria và Babylon gọi là Enuma elish, nghĩa là “Khi ở nơi cao”, lấy từ hai từ đầu tiên của văn bản. Bài thơ gồm khoảng 994 dòng, được chia thành bảy phần, mỗi phần được khắc trên một Bảng riêng biệt. Các Bảng được các ký lục Assyria đánh số, và các phần riêng biệt của bài thơ được viết trên đó không khác nhau nhiều về độ dài. Bảng ngắn nhất có 138 dòng, và bảng dài nhất có 146 dòng, độ dài trung bình của một Bảng khoảng 142 dòng.

Bài thơ phản ánh niềm tin của người Babylon và Assyria về nguồn gốc của vũ trụ; nó mô tả sự xuất hiện của các thần từ hỗn mang, và kể lại câu chuyện về cách các thế lực của sự hỗn loạn, được đại diện bởi các thần nước nguyên thủy Apsû và Tiamat, bị đánh bại (một cách tương ứng) bởi Ea và Marduk, và cách Marduk, sau khi hoàn tất chiến thắng của các thần trên sự hỗn mang, đã tiến hành sáng tạo thế giới và loài người.

Bài thơ được biết đến qua các phần của nhiều bản sao chép Assyria và Babylon-muộn, cũng như từ các trích đoạn được viết trên các “bảng thực hành”, hay các bài tập luyện viết của học trò của các thầy ký lục Babylon. Các bản sao chép Assyria đến từ thư viện lớn được thành lập tại Nineveh bởi vua Ashur-bani-pal (từ năm 668 TCN đến khoảng 626 TCN); trong khi các bản sao chép và trích đoạn Babylon được khắc trong thời kỳ các vua của thời đại Neo-Babylon (Tân Babylon) và Ba Tư; và một bản sao của Bảng thứ Bảy có thể được gán cho thời kỳ muộn như thời đại Arsacidae. Tất cả các bảng và mảnh vỡ đã được xác định là có khắc các phần của văn bản bài thơ Enuma elsish đều được lưu giữ tại Bảo tàng Anh Quốc.

II. LỊCH SỬ PHÁT HIỆN VÀ TÁI DỰNG
#

Kể từ khi các mảnh vỡ đầu tiên của bài thơ này được phát hiện, chúng đã thu hút sự chú ý đáng kể. Lý do không chỉ bởi các truyền thuyết này là nguồn tư liệu chính cung cấp cho chúng ta sự hiểu biết về vũ trụ luận Babylon, mà các đoạn trong đó còn cho thấy sự tương đồng nổi bật với các tường thuật tương ứng trong sách Sáng thế ký của Kinh Thánh về sự sáng tạo thế giới. Cố học giả George Smith - người đầu tiên công bố nghiên cứu về tác phẩm - đã nhận ra và nhấn mạnh sự tương đồng này trong các bài viết của ông vào năm 1875. Đến năm sau, trong tác phẩm The Chaldean Account of Genesis, ông công bố các bản dịch của các mảnh vỡ đã được xác định, cùng những bản sao chép mà ông thực hiện từ các mảnh vỡ chính đã được công bố. Sau khi Smith qua đời, sự quan tâm dành cho các văn bản mà ông đã công bố vẫn không suy giảm, và các học giả tiếp tục đưa ra các bản dịch và nghiên cứu về các truyền thuyết này.

Năm 1883, Tiến sĩ Wallis Budge đã trình bày một bản sao Babylon tuyệt đẹp của văn bản được xác định là Bảng thứ Tư trong loạt Bài thơ Sáng tạo; tài liệu này đã phục hồi nhiều phần quan trọng của câu chuyện về trận chiến giữa Marduk và rồng Tiamat, và góp phần đáng kể vào sự hiểu biết của chúng ta về câu chuyện Sáng tạo cũng như thứ tự các sự kiện được thuật lại trong đó.

Trong loạt bài giảng Hibbert năm 1887, Giáo sư Sayce đã dịch đoạn văn bản mới được phát hiện, và năm sau đó ông đã công bố bản dịch đầy đủ của tất cả các mảnh vỡ của các Truyền thuyết Sáng tạo đã được xác định cho đến thời điểm đó.

Năm 1890, Giáo sư Jensen, trong các nghiên cứu về vũ trụ luận Babylon, đã đưa vào bản dịch các truyền thuyết cùng với bản phiên âm và một số ghi chú ngôn ngữ học quý giá.

Năm 1895, Giáo sư Zimmern đã công bố một bản dịch các truyền thuyết, có cấu trúc tương tự như bản của Sayce trước đó; trong đó ông đã tận dụng một số mảnh vỡ và bản sao mới được xác định, và đưa ra một số cách dịch mới cho những đoạn khó.

Năm 1896, bản dịch tiếng Đức thứ ba của các truyền thuyết đã xuất hiện; được công bố bởi Giáo sư Delitzsch, bản dịch này bao gồm các bản phiên âm và mô tả về các bảng và mảnh vỡ có khắc các phần của văn bản.

Cuối cùng, năm 1900, Giáo sư Jensen đã xuất bản lần thứ hai bản dịch của ông về các truyền thuyết trong tác phẩm Mythen und Epen; đây là công trình tốt nhất có thể thực hiện được với tư liệu sẵn có vào thời điểm đó.

Trong các bản dịch gần đây nhất của loạt Bài thơ Sáng tạo, do Delitzsch và Jensen thực hiện, đã sử dụng tổng cộng 21 bảng và mảnh vỡ riêng biệt được xác định là có khắc các phần của văn bản bài thơ. Trong công trình hiện tại, có thêm 34 bảng và mảnh vỡ được sử dụng, có khắc các phần văn bản của loạt Bài thơ Sáng tạo; tuy nhiên, vì sáu trong số đó ghép nối với các mảnh tương tự khác, nên số lượng bảng và mảnh vỡ riêng biệt được sử dụng lần đầu tiên giảm xuống còn 28. Tổng số mảnh vỡ riêng biệt của văn bản loạt Bài thơ Sáng tạo do đó được nâng lên thành 49. Tư liệu mới được phân bổ cho Bảy Bảng của loạt Bài thơ Sáng tạo như sau:

  • Trong nhóm bốn mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Nhất có thể thêm vào tám mảnh khác, gồm hai mảnh của một bảng Assyria và bốn mảnh Babylon cùng hai trích đoạn được khắc trên “bảng thực hành” của Babylon.
  • Trong nhóm ba mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Hai có thể thêm vào bốn mảnh khác, gồm phần của một bảng Assyria và ba bảng Babylon.
  • Trong nhóm bốn mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Ba có thể thêm vào năm mảnh khác, gồm mảnh của một bảng Assyria và một bảng Babylon cùng các trích đoạn khắc trên ba “bảng thực hành” Babylon.
  • Trong nhóm năm mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Tư chỉ có thể thêm vào một bản sao mới, được khắc trên một “bảng thực hành” Babylon.
  • Trong nhóm ba mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Năm có thể thêm vào hai mảnh khác, gồm phần của hai bảng Assyria.
  • Về Bảng thứ Sáu, trước đây chưa có mảnh vỡ nào được biết đến, và sự tồn tại của nó chỉ được suy luận từ một mảnh có chứa dòng kết được bảo tồn trên các bản sao của Bảng thứ Năm; các mảnh văn bản của Bảng thứ Sáu được công bố lần đầu tiên trong công trình hiện tại từ phần của một bảng Babylon.
  • Cuối cùng, trong nhóm hai mảnh vỡ đã biết của Bảng thứ Bảy có thể thêm vào bảy mảnh khác được khắc trên năm mảnh Assyria và các phần của hai bảng Babylon.

III. NỘI DUNG
#

3.1. Bảng 1-3
#

Các mảnh vỡ mới của văn bản thuộc Bảng thứ Nhất và thứ Hai trong loạt Bài thơ Sáng tạo đã soi sáng các tình tiết ban đầu trong câu chuyện Sáng tạo, và giúp chúng ta lấp đầy một số khoảng trống trong tường thuật.

Qua việc xác định Bảng K. 5,419 c, George Smith đã phục hồi những dòng mở đầu của Bảng thứ Nhất, mô tả tình trạng trước khi Sáng tạo diễn ra, khi các thần nước nguyên thủy Apsû và Tiamat, biểu tượng của hỗn mang, hòa trộn nước của họ trong sự rối loạn. Văn bản sau đó tóm lược ngắn gọn cách mà từ Apsû và Tiamat sinh ra những vị thần đầu tiên, cặp đôi đầu tiên là Lahmu và Lahamu, tiếp theo sau một khoảng thời gian dài là Anshar và Kishar, và sau một khoảng thời gian thứ hai là những vị thần khác, trong đó văn bản K. 5,419 c chỉ lưu giữ tên của Anu.

George Smith nhận thấy rằng thần thoại này đã được Damascius tái hiện trong bản tóm lược của ông về niềm tin của người Babylon liên quan đến sự sáng tạo thế giới. Giờ đây, khi Damascius đề cập đến Ἴλλινος và Ἀός cùng với Ἀνός, điều này cho thấy văn bản bài thơ có mô tả về sự ra đời của Bêl cả (tức Enlil hay Illil) và Ea trong đoạn văn có tên Anu xuất hiện. Tuy nhiên, vì văn bản được khắc trên mặt trước của phiến K. 5,419c và của bản sao Neo-Babylon của nó là 82-7-14,402, bị gián đoạn ở dòng 15, nên diễn tiến của câu chuyện sau điểm đó cho đến nay chỉ là suy đoán. Có vẻ như các dòng tiếp theo chứa đựng tường thuật đầy đủ về nguồn gốc của các vị thần trẻ hơn, và từ việc Damascius nói rằng Βῆλος, Đấng Sáng tạo thế giới, là con trai của Ea và Δαύκη (tức Damkina), người ta đã kết luận rằng ít nhất sự ra đời của Bêl, tức Marduk, được nhấn mạnh đặc biệt, vì ông đóng vai trò nổi bật trong câu chuyện từ cuối Bảng thứ Hai trở đi.

Các mảnh vỡ mới của Bảng thứ Nhất cho thấy rằng tường thuật về sự ra đời của các vị thần trong loạt Bài thơ Sáng tạo thậm chí còn ngắn hơn bản tóm lược của Damascius, vì bài thơ không đề cập đến sự ra đời hay cha mẹ của Marduk. Sau khi nhắc đến sự ra đời của Nudimmud (tức Ea), văn bản tiếp tục mô tả sự khôn ngoan và sức mạnh kỳ diệu của Ea, và khẳng định rằng ông không có đối thủ giữa các thần. Không có sự ra đời của vị thần nào khác được ghi lại sau Ea, và khi Marduk được giới thiệu sau đó, sự tồn tại của ông, giống như Mummu và Gaga, dường như được mặc nhiên thừa nhận. Do đó, có thể thấy rằng phần tham chiếu của Damascius về cha mẹ của Marduk không bắt nguồn từ văn bản loạt Bài thơ Sáng tạo, mà được Damascius thêm vào để hoàn chỉnh bản tóm lược của mình về niềm tin của người Babylon liên quan đến nguồn gốc các vị thần.

Việc tên của Marduk bị lược bỏ khỏi những dòng đầu tiên của Bảng thứ Nhất và việc Ea được nhấn mạnh có thể thoạt đầu gây ngạc nhiên, nhưng điều này lại phù hợp với các phần văn bản mới được phục hồi của Bảng thứ Nhất và thứ Hai, vốn gián tiếp soi sáng đặc tính tổng hợp và lịch sử văn học của bài thơ vĩ đại này. Có thể thấy rằng trong số các vị thần được nhắc đến ở những dòng đầu tiên ấy, Nudimmud (Ea) là vị thần duy nhất có đặc điểm được mô tả chi tiết; sự ra đời của ông, hơn nữa, là điểm cao trào mà các dòng trước đó dẫn đến, và sau phần mô tả về bản chất của ông, câu chuyện lập tức chuyển sang thuật lại cuộc nổi loạn của các thần nguyên thủy và vai trò của Ea trong việc phát hiện và phá vỡ kế hoạch của họ. Thật vậy, Ea chứ không phải Marduk là nhân vật chính trong các tình tiết đầu tiên của câu chuyện Sáng tạo.

Các mảnh vỡ mới của văn bản cũng cho thấy rằng chính Apsû chứ không phải Tiamat đã khởi đầu cuộc nổi loạn chống lại các thần. Trong khi các vị thần mới được tạo ra đại diện cho sự ra đời của trật tự và hệ thống trong vũ trụ, thì Apsû và Tiamat vẫn còn trong tình trạng hỗn mang và sức mạnh không suy giảm. Tuy nhiên, Apsû, nhận thấy rằng sự nghỉ ngơi lười biếng của mình bị quấy rối bởi trật tự mới của các sinh vật mà ông đã sinh ra, đã triệu tập Mummu, cận thần của ông, và cả hai cùng đến gặp Tiamat, nằm xuống trước mặt bà, và bàn luận với bà về các phương cách cần thực hiện để khôi phục trật tự cũ. Có thể lưu ý rằng văn bản không đưa ra tuyên bố trực tiếp nào rằng chính sự sáng tạo ánh sáng đã gây ra cuộc nổi loạn của các thần nguyên thủy. Apsû chỉ bày tỏ sự căm ghét của mình đối với alkatu, tức “đường lối” của các thần, và vì thế ông không thể nghỉ ngơi cả ngày lẫn đêm; và từ việc ông sử dụng các cụm từ “ban ngày” và “ban đêm”, có thể suy ra rằng ngày và đêm đã được hình dung một cách mơ hồ là đã hiện hữu. Do đó, chính việc thay thế hỗn mang bằng trật tự, theo văn bản bài thơ, đã khơi dậy sự phẫn nộ của Apsû và dẫn đến cuộc nổi loạn cũng như sự sụp đổ của ông.

Sự hiểu biết của chúng ta về vai trò của Ea trong việc đánh bại Apsû và Mummu vẫn còn rời rạc, nhưng từ dòng 60 của Bảng thứ Nhất, chúng ta biết rằng chính Ea là người phát hiện âm mưu chống lại các thần; cũng chắc chắn rằng hai mươi dòng tiếp theo ghi lại số phận của Apsû và cận thần của ông, và có những dấu hiệu rõ ràng cho thấy chính Ea là người đã khiến họ bị lật đổ. Trong Bảng thứ Hai, dòng 53 E, Anshar (khi nghe tin từ Ea về việc Tiamat chuẩn bị chiến đấu) đã so sánh chiến thắng trước Mummu và Apsû với nhiệm vụ chống lại Tiamat, và ông ngụ ý rằng chiến công trước đó là do Ea thực hiện.

Do đó, rõ ràng Ea đã gây ra sự sụp đổ của Apsû và bắt giữ Mummu, nhưng cách ông thực hiện điều đó - liệu bằng cách chiến đấu trực tiếp hay bằng “thần chú thuần khiết" của mình - vẫn là điều chưa rõ. Xét đến việc Anshar ban đầu đã thử dùng biện pháp hòa bình để khuất phục Tiamat trước khi khuyến khích Marduk chiến đấu chống lại bà, giả thuyết sau có vẻ hợp lý hơn. Việc Ea khuất phục Apsû giải thích cho sự biến mất của Apsû khỏi câu chuyện Sáng tạo sau đó. Khi Apsû được nhắc đến lần nữa, ông được gọi là “Vực sâu”, chứ không còn là một vị thần hành động và độc ác như Tiamat.

Sau khi Apsû bị lật đổ, Tiamat vẫn chưa bị khuất phục, và bà tiếp tục đại diện cho các thế lực hỗn mang chưa bị chế ngự. Nhưng, cũng như ban đầu bà không phải là người khởi đầu cuộc nổi loạn, thì giờ đây việc bà tiếp tục chiến tranh chống lại các thần là do sự xúi giục của một vị thần khác. Bài diễn văn trong đó vị thần này thúc giục Tiamat báo thù cho Apsû và Mummu xuất hiện trong Bảng thứ Nhất, dòng 93–104, và vì sau đó bà đã phong Kingu làm thủ lĩnh quân đội của mình “vì ông đã ủng hộ bà”, nên có thể kết luận rằng chính Kingu là người đã thúc giục bà báo thù cho người phối ngẫu trước đây. Tuy nhiên, Ea không ngừng chống đối các thế lực hỗn mang, mà tiếp tục đóng vai trò chính trong phe các thần. Ông nghe tin về việc Tiamat chuẩn bị chiến đấu, ông mang tin đó đến cho Anshar, cha của ông, và ông được sai đi đối đầu với quái vật. Chỉ sau khi cả ông và Anu đều thất bại trong nỗ lực tiếp cận và xoa dịu Tiamat, Anshar mới kêu gọi Marduk trở thành chiến binh đại diện cho các thần.

Nhờ các mảnh vỡ mới được phát hiện của văn bản mà một điểm quan trọng khác đã được giải thích rõ ràng: lý do cho các đoạn lặp lại xuất hiện trong ba bảng đầu tiên của loạt bài thơ. Các đoạn lặp lại này cụ thể như sau:

  • Các dòng 109-142 của Bảng thứ Nhất được lặp lại trong Bảng thứ Hai (dòng 15-48)
  • Các dòng 1-48 của Bảng thứ Hai được lặp lại trong Bảng thứ Ba (dòng 15–52); và
  • Các dòng 15-66 của Bảng thứ Ba được lặp lại trong cùng Bảng đó (dòng 73–124).

Các dòng được lặp lại này có nội dung liên quan đến việc Tiamat chuẩn bị chiến đấu chống lại các thần, và việc Anshar triệu tập các thần để trao quyền cho Marduk làm chiến binh đại diện của họ. Từ các mảnh vỡ mới của văn bản, giờ đây chúng ta biết được rằng các dòng liên quan đến sự chuẩn bị của Tiamat xuất hiện trong Bảng thứ Nhất dưới dạng tường thuật, ngay sau khi bà chấp nhận đề nghị của Kingu rằng bà nên báo thù cho sự sụp đổ của Apsû và Mummu. Còn trong Bảng thứ Hai, các dòng ấy được Ea lặp lại trong bài diễn văn của ông với Anshar khi ông mang tin đến. Bối cảnh của các đoạn lặp lại trong Bảng thứ Ba cũng đã rõ: Anshar trước tiên lặp lại các dòng ấy với cận thần của mình là Gaga, khi sai ông đi triệu tập các thần đến hội nghị, và sau đó cũng trong Bảng này, Gaga lặp lại thông điệp từng chữ một cho Lahmu và Lahamu.

3.2. Bảng 4-5
#

Việc lặp lại liên tục các dòng có cùng nội dung trong ba Bảng đầu chắc chắn nhằm nhấn mạnh tính khủng khiếp của sự đối đầu mà Marduk đã vượt qua thành công; và việc Berossus bỏ qua hoàn toàn vai trò của Ea trong các phần đầu của câu chuyện cũng là do xu hướng của các thầy tế lễ Babylon muốn tôn vinh thần địa phương của họ bằng cách hạ thấp các thần khác. Tường thuật mà chúng ta nhận được từ Berossus về niềm tin của người Babylon liên quan đến nguồn gốc vũ trụ phần lớn tập trung vào việc mô tả các quái vật huyền thoại cư ngụ trong vực sâu vào thời điểm thế giới chưa được tạo dựng và khi chỉ có bóng tối và nước tồn tại.

Theo Berossus, các quái vật này được cai trị bởi một nữ nhân tên là Ὀμόρκα, người được xác định là Tiamat, trong khi các sinh vật ấy đại diện cho dòng giống quái vật mà Tiamat đã tạo ra để giúp bà trong cuộc chiến chống lại các thần. So với phần mô tả về các quái vật, bản tóm lược từ Berossus về các sự kiện được thuật lại trong Bảng thứ Tư không đầy đủ lắm: văn bản nói rằng Βῆλος (tức Bêl) đã giết Ὀμόρκα, và sau khi chẻ bà làm đôi, từ một nửa ông tạo ra đất, và từ nửa kia tạo ra trời, đồng thời ông cũng đánh bại các sinh vật ở trong bà, tức các quái vật của vực sâu.

Tường thuật thực tế về việc Marduk sáng tạo thế giới, như được ghi lại trong loạt Bài thơ Sáng tạo, bắt đầu vào cuối Bảng thứ Tư, nơi câu chuyện tương đối phù hợp với bản tóm lược của Berossus. Tại đó, Marduk được kể là đã chẻ Tiamat làm hai phần, và dùng một nửa thân thể bà làm lớp phủ cho thiên đàng. Văn bản sau đó cho biết rằng ông đã lập nên thiên đàng, được gọi là E-shara, một dinh thự có cấu trúc giống như Vực sâu, và ông đã khiến Anu, Bêl và Ea cư ngụ trong các khu vực tương ứng của họ tại đó.

Bảng thứ Năm không bắt đầu bằng việc sáng tạo đất, mà ghi lại việc thiết lập các chòm sao của Hoàng đạo, việc lập nên năm, và sự ủy nhiệm của Marduk cho thần Mặt Trăng và thần Mặt Trời - trong đó ông giao ban đêm cho thần Mặt Trăng, cùng với các chỉ dẫn liên quan đến các pha của Mặt Trăng và vị trí tương đối giữa Mặt Trăng và Mặt Trời trong tháng.

Các mảnh vỡ mới của Bảng thứ Năm chứa một số dị bản thú vị cho phần văn bản này, nhưng ngoại trừ vài dòng cuối, chúng không soi sáng được nội dung của các phần bị thiếu trong Bảng. Tuy nhiên, xét đến lời tường thuật của Berossus rằng từ một nửa thân thể Tiamat, Bêl đã tạo ra đất, ta có thể suy đoán rằng việc sáng tạo đất được ghi lại ở một phần nào đó của Bảng thứ Năm. Cũng có khả năng Bảng thứ Năm ghi lại việc sáng tạo thảo mộc. Điều này chắc chắn là chủ đề của một phần bài thơ, như được xác nhận qua những dòng mở đầu của Bảng thứ Bảy, nơi Marduk được ca ngợi là “Asari, ‘Đấng ban sự gieo trồng,’ ‘Đấng lập nên việc gieo giống,’ ‘Đấng sáng tạo ngũ cốc và cây cỏ,’ ‘Đấng khiến thảo mộc xanh tươi mọc lên!’”; và việc sáng tạo cây cỏ và thảo mộc một cách tự nhiên sẽ theo sau việc sáng tạo đất.

3.3. Bảng 6
#

Từ mảnh vỡ mới của Bảng thứ Sáu, số hiệu 92,629, chúng ta biết rằng phần này của bài thơ thuật lại câu chuyện sáng tạo loài người. Cũng như khi bắt đầu công việc sáng tạo, Marduk được nói là đã “nghĩ ra một kế hoạch khôn ngoan” khi nhìn vào thi thể của Tiamat, thì nay, trước khi tiến hành việc sáng tạo con người, văn bản nói rằng “tâm ông thúc giục ông và ông đã nghĩ ra [một kế hoạch khôn ngoan].” Việc lặp lại cụm từ này cho thấy tầm quan trọng được gán cho phần câu chuyện này, và có khả năng việc sáng tạo loài người được xem là đỉnh cao trong công trình sáng tạo của Marduk. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là việc sáng tạo con người không được thuật lại như một hệ quả tự nhiên của việc hình thành phần còn lại của vũ trụ, mà là lời giải cho một nan đề mà Marduk gặp phải trong tiến trình làm Đấng Sáng tạo. Để vượt qua khó khăn này, Marduk đã nghĩ ra “kế hoạch khôn ngoan” như đã đề cập; bối cảnh của đoạn này không thật rõ ràng, nhưng lý do cho việc sáng tạo loài người có thể được suy ra từ một số dấu hiệu trong văn bản.

Chúng ta biết từ phần đầu của Bảng thứ Sáu rằng Marduk đã nghĩ ra kế hoạch khôn ngoan của mình sau khi ông “nghe được lời của các thần,” và điều này cho thấy rằng Bảng thứ Năm kết thúc bằng một bài phát biểu của các vị thần. Giờ đây trong Bảng VI, dòng 8, Marduk tuyên bố rằng ông sẽ tạo dựng loài người “để sự phục vụ các thần được thiết lập”; tuy nhiên, ở dòng 9 trở đi, ông lại nói rằng ông sẽ thay đổi đường lối của các thần, và dường như ông đe dọa sẽ trừng phạt họ. Do đó, có thể suy đoán rằng sau khi Marduk hoàn tất công trình sáng tạo thế giới, các thần đã đến với ông và than phiền rằng chưa có đền thờ nào được dựng lên để tôn vinh họ, và cũng không có ai thờ phượng họ. Để đáp ứng nhu cầu này, Marduk đã nghĩ ra kế hoạch tạo dựng loài người, nhưng đồng thời ông cũng có vẻ như quyết định trút cơn giận của mình lên các thần vì sự bất mãn của họ. Tuy nhiên, có khả năng Ea đã khuyên can Marduk không trừng phạt các thần, dù chắc chắn ông đã giúp Marduk thực hiện phần đầu của kế hoạch ấy.

Trong dòng 5 và các dòng tiếp theo của Bảng thứ Sáu, Marduk chỉ ra phương cách ông sẽ dùng để tạo dựng loài người, và phần văn bản này xác nhận một cách đáng chú ý lời tường thuật của Berossus về phương pháp mà Bêl đã dùng để sáng tạo loài người. Văn bản tóm lược từ Berossus, trong hình thức mà chúng ta hiện có, không thật sự thỏa đáng, vì mạch truyện bị rối loạn. Sự rối loạn này thể hiện qua việc lặp lại mô tả về việc sáng tạo loài người và sự gián đoạn trong phần giải thích theo lối tự nhiên về việc giết Omorka. Tuy nhiên, một sự hiệu chỉnh khéo léo nhưng đơn giản đối với văn bản đã được von Gutschmidt đề xuất, giúp loại bỏ cả hai vấn đề này. Ông cho rằng đoạn văn gây gián đoạn cho phần giải thích tự nhiên và dường như mô tả lần sáng tạo loài người đầu tiên đã bị chuyển sai vị trí. Nếu đặt đoạn văn gây gián đoạn này vào cuối trích đoạn, thì nó lại khớp một cách tự nhiên như thể bản tóm lược của Eusebius về phần tường thuật trước đó về việc sáng tạo loài người, mà Alexander Polyhistor khẳng định đã được Berossus trình bày trong Quyển thứ Nhất của tác phẩm History của ông. Bằng cách chấp nhận sự chỉnh sửa này, chúng ta sẽ có được một văn bản rõ ràng và mạch lạc về việc Bêl, sau khi sáng tạo trời và đất, nhận thấy rằng đất đai còn hoang vu; và cách ông ra lệnh cho một trong các thần chặt đầu ông (tức là đầu của Bêl), rồi trộn máu chảy ra với đất để tạo nên loài người và các sinh vật.

Đoạn văn này từ Berossus đã gây ra tranh luận đáng kể, và đã có hơn một học giả cố gắng giải thích hoặc loại bỏ chi tiết việc Bêl, Đấng Sáng tạo, bị chặt đầu để loài người được tạo ra từ huyết của ông. Gunkel đã đề xuất rằng trong truyền thuyết nguyên thủy, huyết của Tiamat được dùng cho mục đích này; Stucken, theo sau là Cheyne, đã hiệu chỉnh văn bản để gợi ý rằng đầu của Tiamat, chứ không phải của Bêl, đã bị chặt; trong khi Zimmern cho rằng ý nghĩa nguyên thủy của đoạn văn là vị thần bị chặt đầu không phải là Bêl, mà là vị thần khác mà ông đã nói chuyện cùng. Tuy nhiên, ở dòng 5 của Bảng thứ Sáu, Marduk tuyên bố rằng ông sẽ dùng chính huyết của mình để tạo dựng loài người; do đó, văn bản của đoạn này từ Berossus được chứng minh là chính xác, và điều này cho thấy rằng tường thuật của ông về niềm tin của người Babylon liên quan đến việc sáng tạo loài người không cần phải chỉnh sửa hay giải thích lại.

Jensen đã từng đề xuất rằng vị thần mà Bêl nói chuyện cùng là Ea, và mảnh vỡ mới của Bảng thứ Sáu chứng minh rằng đề xuất này là đúng. Trong Bảng thứ Sáu, Marduk thuật lại cho Ea ý định tạo dựng loài người, và nói với ông về phương cách ông sẽ sử dụng. Do đó, ta có thể kết luận rằng chính Ea đã chặt đầu Marduk theo yêu cầu của ông, và theo chỉ dẫn của ông, đã tạo nên loài người từ huyết của Marduk. Ea có thể đã thực hiện công việc sáng tạo loài người, nhưng ông hành động dưới sự chỉ đạo của Marduk, và rõ ràng từ Bảng thứ Bảy, dòng 29 và 32, rằng Marduk, chứ không phải Ea, được xem là Đấng Sáng tạo loài người.

Theo Berossus, loài người được tạo ra từ huyết của Bêl trộn với đất. Mảnh vỡ mới của Bảng thứ Sáu không đề cập đến việc trộn huyết với đất, nhưng rất có thể chi tiết này được thuật lại trong phần tiếp theo của câu chuyện. Mặt khác, trong bài thơ Babylon, Marduk tuyên bố rằng, ngoài việc dùng huyết của mình, ông sẽ tạo ra xương để hình thành loài người. Berossus không đề cập đến xương, nhưng điều đáng chú ý là từ issimtu, từ tiếng Assyria được dùng ở đây cho “xương,” chắc chắn là tương đương với từ tiếng Hê-bơ-rơ ’esem, “xương,” vốn xuất hiện ở cuối tường thuật về việc tạo dựng người nữ trong Sáng thế ký 2:23.

Cũng theo Berossus, huyết của Bêl được dùng không chỉ trong việc sáng tạo loài người mà còn trong việc tạo dựng các sinh vật khác, và có khả năng đây là hình thức của truyền thuyết như được lưu giữ trong Bảng thứ Sáu. Mặc dù, trong trường hợp đó, việc tạo ra các sinh vật sẽ diễn ra sau khi loài người được tạo dựng, những dòng mở đầu của Bảng thứ Sáu chứng minh rằng việc sáng tạo loài người được xem là đỉnh cao trong công trình sáng tạo của Marduk. “Kế hoạch khôn ngoan” mà Marduk đã nghĩ ra nhằm cung cấp những người thờ phượng cho các thần liên quan đến việc sáng tạo loài người, và nếu việc sáng tạo các sinh vật diễn ra sau đó, thì nó hẳn đã được ghi lại như một hành động phụ và kém quan trọng hơn. Trong mối liên hệ này, cần lưu ý rằng cụm từ “τὰ δυμάμενα τὸν ἀέρα φέρειν”, mà Berossus dùng để chỉ loài người và các sinh vật được tạo ra từ huyết của Bêl, có lẽ không dựa trên bất kỳ mô tả hay tình tiết nào trong câu chuyện Sáng tạo như được ghi lại trên Bảy Bảng, mà được gợi ý từ cách giải thích theo lối tự nhiên của truyền thuyết do chính Berossus đưa ra.

Liên quan đến việc sáng tạo loài người, George Smith đã đề xuất rằng bảng K. 3,364 là một mảnh vỡ của loạt Bài thơ Sáng tạo, và chứa những chỉ dẫn được ban cho loài người sau khi Marduk tạo dựng họ. Quan điểm này đã được một số dịch giả khác của bài thơ tạm thời chấp nhận, nhưng trong Phụ lục II, tôi đã chứng minh qua một bản sao, số hiệu 33,851, rằng đề xuất ấy cần được từ bỏ. Ngoài những lý do đã liệt kê ở đó, có thể nói rằng sẽ không có đủ chỗ trên Bảng thứ Sáu của loạt Bài thơ Sáng tạo để chứa một loạt các điều răn đạo đức dài như được ghi trên các bảng K. 3,364 và số 33,851. Có thể Marduk, sau khi tạo dựng loài người, đã ban cho họ một số chỉ dẫn liên quan đến việc thờ phượng các thần và xây dựng đền thờ để tôn vinh họ, nhưng phần lớn văn bản hẳn đã dành cho những nội dung khác.

Những dòng kết của Bảng thứ Sáu được bảo tồn một phần, và chúng cho ta cái nhìn thoáng qua về cảnh tượng mang tính gia đình trong câu chuyện Sáng tạo. Khi các thần trước đó đã được triệu tập đến một hội nghị trọng thể để trao quyền cho Marduk trước khi ông lên đường chiến đấu thay cho họ, thì giờ đây, khi ông đã đánh bại Tiamat và hoàn tất công việc ban chỉ dẫn cho công trình sáng tạo, họ lại nhóm họp tại Upshukki-naku (phòng hội nghị của họ) và tiến hành tôn vinh ông bằng mọi danh hiệu vinh quang. Qua đó, chúng ta có được bối cảnh của Bảng thứ Bảy, và cũng là bảng cuối cùng, của loạt Bài thơ Sáng tạo, phần lớn của bảng này là bài thánh ca ngợi khen do các thần dâng lên Marduk như là Đấng chiến thắng Tiamat và Đấng Sáng tạo thế giới.

3.4. Bảng 7
#

Bài thánh ca của các thần chiếm từ dòng 1 đến dòng 124 của Bảng thứ Bảy, và bao gồm một loạt các lời xưng tụng trong đó Marduk được ca ngợi dưới năm mươi danh hiệu vinh quang. Các danh hiệu này là tiếng Sumer, không phải tiếng Semitic, và mỗi danh hiệu được theo sau bởi một hoặc nhiều cụm từ tiếng Assyria mô tả Marduk, hoặc để giải thích danh hiệu đó, hoặc được gợi ý từ chính danh hiệu. Trong số năm mươi danh hiệu mà bài thánh ca chứa đựng, danh sách sau đây gồm mười một danh hiệu xuất hiện trong bốn mươi bảy dòng đầu tiên của văn bản:

  1. Asari: ilu Asar-ri, Tabl. VII, l. 1; p. 92 f.
  2. Asaru-alim: ilu Asaru-alim, Tabl. VII, l. 3; p. 92 f.
  3. Asaru-alim-nuna: ilu Asaru-alim-nun-na, Tabl. VII, l. 5; p. 92 f.
  4. Tutu: ilu Tu-tu, Tabl. VII, l. 9; p. 92 f.
  5. Zi-ukkina: ilu Zi-ukkin-na, var. ilu Zi-ukkin, Tabl. VII, l. 15; p. 94f.
  6. Zi-azag: ilu Zi-azag, Tabl. VII, l. 19; p. 36 f.; var. ilu Na-zi-azag-g[a], p. 161.
  7. Aga-azag: ilu Aga-azag, Tabl. VII, l. 25; p. 96 f.
  8. Mu-azag: ilu Mu(i.e. KA + LI)-azag, Tabl. VII, l. 33; var. ilu Mu(i.e. SHAR)-azag, p. 173.
  9. Shag-zu: ilu Shag-zu, Tabl. VII, l. 35; p. 98 f.
  10. Zi-si: ilu Zi-si, Tabl. VII, l. 41; p. 100 f.
  11. Sub-kur: ilu Suh-kur, Tabl. VII, l. 43; p. 100 f.

Trong khoảng trống của văn bản Bảng thứ Bảy, giữa dòng 47 và dòng 105, xuất hiện mười danh hiệu sau đây của Marduk, được lấy từ các mảnh vỡ K. 13,761 và K. 8,519 (và bản sao của nó là K. 13,337), cùng với phần chú giải K. 4,406.

  1. Agi[l . . . . ]; ilu A-gi[l- . . . . ], Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.; var. ilu Gil[ ], p. 163.
  2. Zulummu: ilu Zu-lum-mu, Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  3. Mummu: ilu Mu-um-mu, Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  4. Mulil: ilu Mu-lil, Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  5. Gishkul: ilu Gish-kul, Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  6. Lugal-ab [ . . . . ]: ilu Lugad-ab-[ . . . . ], Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  7. Pap-[ . . . . ]: ilu Pap-[ . . . . ], Tabl. VII (K. 13,761); p. 102 f.
  8. Lugal-durmah: ilu Lugal-dur-mah, Tabl. VII (K. 8,519), and K. 4,406, Rev., col. ii, l. 8; pp. 104f., 165.
  9. Adu-nuna: ilu A-du-nun-na, Tabl. VII (K. 8,519) and K. 4,406, Rev., col. ii, l. 23; pp. 104f., 166.
  10. Lugal-dul (or du)- azaga: ilu Lugal-dul-azag-ga, Tabl. VII (K. 8,519); p. 106 f

Bốn tiêu đề khác, xuất hiện trong phần kết của văn bản trên Tấm bảng thứ bảy, là:

  1. Nibiru: ilu Ni-bi-ru, var. [ilu] Ne-bi-ri, Tabl. VII, l. 109; p. 108 f.
  2. Bêl-mâtâti: be-el mâtâti, var. ilu Bêl mâtâti, Tabl. VII, l. 116, p. 110 f.; cf. also EN KUR-KUR (i.e. bêl mâtâti), p. 168.
  3. Ea: ilu E-a, Tabl. VII, l. 120; p. 100 f.
  4. Hansha: Hanshâ A-AN, var. Ha-an-sha-a, Tabl. VII, l. 123, p. 110 f.; cf. also ilu Hanshâ, p. 178.

Từ các danh sách trên, có thể thấy rằng phần văn bản đã được phục hồi của Bảng thứ Bảy cung cấp hai mươi lăm trong số năm mươi danh xưng của Marduk. Từ danh sách các danh hiệu của Marduk được lưu giữ trên K. 2,107 + K. 6,086, và từ bản văn số 54,228, một văn bản song song với Bảng thứ Bảy, có thể thu được thêm bảy danh xưng khác, vốn có lẽ nằm trong phần bị thiếu của văn bản, bao gồm:

  1. Lugal-en-ankia: ilu Lugal-en-an-ki-a, K. 210, col. ii, l. 19; p. 173.
  2. Gugu: ilu Gu-gu, K. 2,107, col. ii, l. 22; p. 173.
  3. Mumu: ilu Mu-mu, K. 2,107, col. ii, l. 23; p. 173.
  4. Dutu: ilu Du-tu, K. 2,107, col. ii, l. 24; p. 173.
  5. Dudu: ilu Du-du, K. 2,107, col. ii, l. 25; p. 173.
  6. Shag-gar(?): Shag-gar, No. 54,228, Obv., l. 13; p. 177.
  7. En-bilulu: ilu En-bi-lu-lu, No. 54,228, Obv., l. 14; p. 178.

Qua những danh hiệu tôn kính này, các thần được mô tả như đang trao quyền tối thượng cho Marduk, và cao trào được thể hiện trong các dòng 116 trở đi của Bảng Thứ Bảy, khi Bêl cả và Ea, cha của Marduk, trao tên và quyền năng của chính họ cho ông. Danh hiệu Hanshâ ("Năm mươi") mà Marduk được gọi cuối cùng, tự nó tổng hợp và biểu tượng hóa năm mươi danh hiệu của ông. Sau những lời tuyên xưng này là phần kết gồm mười tám dòng, trong đó khuyến khích nhân loại nghiên cứu bài thơ, và sự thịnh vượng được hứa ban cho những ai vui mừng trong Marduk và ghi nhớ các công việc của ông.

3.5. Tóm Lại
#

Câu chuyện về Sự Sáng Tạo, trong hình thức mà chúng ta có ngày nay qua các bảng đá từ thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên và vài thế kỷ sau đó, mang tính chất tổng hợp rõ rệt, và cho thấy dấu vết của một quá trình biên tập và chỉnh sửa lâu dài dưới tay các thầy tế lễ Babylon. Có thể nhận ra năm mạch chính đã được kết hợp để hình thành bài thơ; chúng có thể được mô tả như sau:

  1. Sự ra đời của các thần;
  2. Truyền thuyết về Ea và Apsû;
  3. Huyền thoại về Rồng;
  4. Tường thuật thực tế về Sự Sáng Tạo;
  5. Bài thánh ca tôn vinh Marduk qua năm mươi danh hiệu.

Vì bài thơ trong hình thức hiện tại là sự tôn vinh Marduk như là đấng bảo vệ các thần và là Đấng Tạo Hóa của thế giới, nên việc các đoạn có Marduk làm nhân vật chính được nhấn mạnh hơn là điều dễ hiểu. Ví dụ, mô tả về Tiamat và bầy quái vật của bà, những kẻ bị Marduk đánh bại, được lặp lại không dưới bốn lần, và phần chuẩn bị chiến đấu cũng như trận chiến thực sự giữa Marduk và rồng chiếm phần lớn Bảng Thứ Tư. Ngược lại, sự ra đời của các thần cổ xưa (trong đó Marduk không xuất hiện) chỉ được trình bày trong hai mươi mốt dòng đầu của Bảng Thứ Nhất; và không quá hai mươi dòng dành cho việc Ea khuất phục Apsû. Việc những yếu tố này được đưa vào phiên bản Babylon của câu chuyện Sáng Thế có thể được giải thích bởi thực tế rằng chúng làm nổi bật vị trí ưu việt mà Marduk đạt được sau này. Do đó, mô tả về sự ra đời của các thần cổ và sự chống đối của họ đối với các thế lực hỗn loạn là điều cần thiết để làm rõ cách Marduk được chọn làm đấng bảo vệ các thần; và việc Ea chiến thắng Apsû càng làm nổi bật sự khủng khiếp của Tiamat, kẻ mà Ea không thể chống lại. Từ nửa sau của Bảng Thứ Hai trở đi, Marduk là nhân vật anh hùng duy nhất của bài thơ.

Tâm điểm của bài thơ là trận chiến giữa Marduk và Tiamat, và có bằng chứng cho thấy truyền thuyết này từng tồn tại dưới những hình thức khác ngoài bản được ghi lại trong loạt truyện Sáng Thế. Việc chinh phục con rồng được các thầy tế lễ Babylon quy cho thần địa phương của họ, và trong bài thơ, cái chết của Tiamat được xem là điều kiện tiên quyết cho công cuộc sáng tạo thế giới. Tuy nhiên, trong một mảnh bảng đá từ thư viện của Ashur-bani-pal, chúng ta có một phần bản sao của một truyền thuyết mô tả việc một vị thần khác ngoài Marduk đã đánh bại một con rồng. Hơn nữa, trận chiến trong bản này không diễn ra trước sự sáng tạo, mà vào thời điểm con người đã hiện diện và các thành phố đã được xây dựng. Trong phiên bản này, cả loài người và các thần đều được mô tả là kinh hoàng trước sự xuất hiện của con rồng, và một trong các thần đã ra đi để giải cứu vùng đất bằng cách giết nó. Mảnh bảng đá rời rạc này chứng minh rằng Huyền thoại Rồng tồn tại dưới nhiều hình thức trong thần thoại Babylon, và không phải là điều không thể khi nhiều thành phố lớn của Babylon có những phiên bản địa phương của truyền thuyết này, trong đó thần thành phố đóng vai trò anh hùng.

Trong loạt truyện Sáng Thế, việc sáng tạo thế giới được thuật lại như là kết quả của chiến thắng của Marduk trước con rồng, và không nghi ngờ gì rằng phiên bản này phản ánh niềm tin phổ biến nhất trong thời kỳ trị vì của các vua Assyria và Babylon sau này. Tuy nhiên, chúng ta cũng có những mảnh truyền thuyết khác trong đó việc sáng tạo thế giới không liên quan đến cái chết của một con rồng, cụ thể:

  • Trong một truyền thuyết được viết bằng cả tiếng Sumer và Babylon, các thành phố và đền thờ lớn của Babylon được mô tả là xuất hiện do một chuyển động trong các dòng nước, vốn là thứ duy nhất tồn tại trước khi thế giới được tạo dựng. Trong phiên bản này, Marduk cũng đóng vai trò là Đấng Tạo Hóa, vì cùng với nữ thần Aruru, ông đã tạo ra con người bằng cách đặt một cây sậy lên mặt nước và hình thành bụi đất mà ông rải ra bên cạnh nó. Marduk cũng được mô tả là tạo ra các loài vật và cây cỏ.
  • Trong những truyền thuyết khác mà chúng ta có được, không chỉ câu chuyện Sáng Thế không liên quan đến Huyền thoại Rồng, mà Marduk cũng không xuất hiện với tư cách là Đấng Tạo Hóa. Trong số đó, có một truyền thuyết mà trong đó “các thần” nói chung được nhắc đến như là các đấng đã tạo dựng các tầng trời và đất, cùng với gia súc và thú đồng; trong khi trong một truyền thuyết khác, việc tạo ra Mặt Trăng và Mặt Trời được quy cho Anu, Bêl và Ea.

Từ những dị bản của câu chuyện Sáng Thế và Huyền thoại Rồng được đề cập trong các đoạn trước, có thể thấy rõ rằng các thầy tế lễ Babylon đã sử dụng các truyền thuyết độc lập để biên soạn bài thơ vĩ đại về Sự Sáng Tạo; bằng cách gán cho Marduk chiến thắng trước con Rồng và việc sáng tạo thế giới, họ đã biện minh cho vị trí tối thượng của ông giữa các thần. Như một kết thúc xứng đáng cho bài thơ vĩ đại ấy, họ đã đưa vào bài thánh ca tôn vinh Marduk, gồm những lời tuyên xưng dành cho ông qua năm mươi danh hiệu. Phần này của bài thơ, theo bình luận văn bản của người Assyria (R. 366, v.v.), cũng như qua các mảnh văn bản song song nhưng không trùng lặp, được chứng minh là một tác phẩm độc lập, vốn ban đầu không có liên hệ gì với loạt truyện Enuma elish. Trong bài thơ, bài thánh ca được đặt vào miệng của các thần, những người sau khi công cuộc Sáng Thế hoàn tất đã nhóm họp tại Upshukkinaku; và phần kết gồm mười tám dòng được thêm vào, hoàn tất Bảng thứ Bảy của loạt truyện.

IV. NIÊN ĐẠI
#

Khi bàn về vấn đề niên đại của các truyền thuyết Sáng Thế, cần phân biệt rõ giữa thời điểm các truyền thuyết mang hình thức như chúng ta có ngày nay qua Bảy Bảng của loạt truyện Enuma elish, và thời điểm có thể gán cho chính các truyền thuyết ấy trước khi chúng được đưa vào bài thơ.

4.1. Niên Đại của Bảy Bảng Đá
#

Trong số các bảng đá có khắc phần văn bản của loạt truyện Sáng Thế, chúng ta không có bản nào có niên đại sớm hơn thế kỷ thứ bảy trước Công nguyên. Các bảng đá thuộc niên đại này được làm cho thư viện của Ashur-bani-pal tại Nineveh, nhưng rõ ràng bài thơ không được sáng tác tại Assyria vào thời điểm đó. Các truyền thuyết trong hình thức mà chúng ta có hiện nay không nhằm tôn vinh Ashur, thần quốc gia của Assyria, mà là Marduk, thần của Babylon; và rõ ràng các ký lục của Ashur-bani-pal chỉ sao chép lại cho chủ nhân của họ từ những bảng đá cổ có nguồn gốc Babylon.

Việc xác định niên đại sớm hơn cho việc sáng tác thực sự của bài thơ và cách sắp xếp nó trên Bảy Bảng vẫn còn là điều phỏng đoán; tuy nhiên, có thể đưa ra một giả thuyết với mức độ khả tín nhất định, sau khi khảo sát các nguồn bằng chứng gián tiếp mà chúng ta có liên quan đến tuổi đời của các truyền thuyết Babylon nói chung, và các truyền thuyết Sáng Thế nói riêng.

4.2. Niên Đại của Các Truyền Thuyết Sáng Thế
#

Xét về bằng chứng nội tại liên quan đến niên đại được cung cấp bởi chính các truyền thuyết Sáng Thế, chúng ta có thể ghi nhận rằng các dị bản của Huyền thoại Rồng và tường thuật về Sự Sáng Tạo, như đã đề cập trước đó, hàm ý rằng đã có nhiều thế kỷ truyền thống trong đó các truyền thuyết, dù có thể xuất phát từ một nguồn gốc chung, vẫn được truyền lại một cách độc lập với nhau. Trong khoảng thời gian này, có thể giả định rằng cùng một câu chuyện đã được kể lại tại các thành phố khác nhau theo những cách khác nhau, và theo thời gian, những biến thể đã len lỏi vào, dẫn đến việc hình thành hai hoặc nhiều phiên bản của cùng một câu chuyện theo những hướng khác biệt. Quá trình này hẳn đã diễn ra từ từ, và những khác biệt đáng kể có thể nhận thấy trong các phiên bản cuối cùng của cùng một truyền thuyết có thể được viện dẫn như bằng chứng ủng hộ việc gán cho truyền thống nguyên thủy một niên đại sớm, mà từ đó các dị bản ấy phát sinh.

Bằng chứng về sự tồn tại của các truyền thuyết Sáng Thế ít nhất là từ thế kỷ thứ chín trước Công nguyên có thể được suy ra từ những hình ảnh mô tả trận chiến giữa Marduk và rồng Tiamat, được tìm thấy khắc trên hai bảng đá vôi trong đền thờ Ninib tại Nimrûd. Ngôi đền này được xây dựng bởi Ashur-nasir-pal, người trị vì từ năm 884 đến 860 trước Công nguyên, và trên chính hình chạm khắc đó có khắc văn bản dâng hiến cho Ninib bởi vị vua này. Do đó, bảng đá này cung cấp bằng chứng trực tiếp về sự tồn tại của truyền thuyết hơn 200 năm trước khi thư viện của Ashur-bani-pal được hình thành. Hơn nữa, trận chiến giữa Marduk và Tiamat thường được tìm thấy khắc trên các con dấu hình trụ, và mặc dù phần lớn các con dấu này có thể có niên đại từ thời kỳ Assyria và Ba Tư sau này, cách thể hiện đa dạng của cảnh tượng này cho thấy sự tồn tại của các dị bản khác nhau của truyền thuyết, và vì thế gián tiếp cung cấp bằng chứng về nguồn gốc sớm của truyền thuyết ấy.

Qua việc khảo sát các văn khắc lịch sử Babylon ghi lại việc dựng tượng và chế tác đồ dùng cho đền thờ, chúng ta có thể lần theo dấu vết của các truyền thuyết Sáng Thế đến những thời kỳ xa xưa hơn nữa. Chẳng hạn, trong một văn bản của Agum, một vị vua Babylon trị vì không muộn hơn thế kỷ thứ mười bảy trước Công nguyên, có mô tả các hình tượng rồng và những quái vật khác mà ông đã dựng lên trong đền E-sagil tại Babylon; và trong đoạn này, chúng ta có thể nhận ra một sự ám chỉ rõ ràng đến truyền thuyết về Tiamat và bầy quái vật của bà. Agum cũng đã đặt bên cạnh hình tượng rồng một cái chậu lớn, hoặc bồn rửa, được gọi trong văn khắc là tâmtu, tức là “biển.” Từ tên gọi của bồn rửa này, và từ vị trí của nó bên cạnh hình tượng rồng, chúng ta có thể kết luận rằng nó mang tính biểu tượng cho vực nước sâu, vốn được nhân cách hóa trong các truyền thuyết Sáng Thế qua hình ảnh Tiamat và Apsû. Hơn nữa, trong các văn khắc lịch sử thuộc thời kỳ sớm hơn nữa, chúng ta cũng thấy có những ám chỉ đến các vật dụng tương tự được gọi là apsê, tức là “vực sâu” hay “đại dương,” và sự hiện diện của chúng trong các đền thờ có lẽ bắt nguồn từ cùng một truyền thống.

Ba nhóm bằng chứng được tóm lược trên đây cho thấy rằng những yếu tố quan trọng nhất trong các truyền thuyết Sáng Thế không phải là sản phẩm muộn, mà phải được truy nguyên dưới một hình thức nào đó đến những thời kỳ xa xưa, có thể từ nửa đầu thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, hoặc thậm chí sớm hơn. Vấn đề còn lại là xác định niên đại của việc kết hợp các truyền thuyết này thành bài thơ mà người Babylon và Assyria gọi là Enuma elish.

4.3. Niên Đại của Bài Thơ Enuma elish
#

Mặc dù, như đã được ghi nhận, chúng ta không có bản sao chép sớm nào của văn bản loạt truyện Sáng Thế, nhưng điều này không đúng với các truyền thuyết Babylon khác. Trong số các bảng đá được tìm thấy tại Tell el-Amarna, có niên đại từ thế kỷ thứ mười lăm trước Công nguyên, có những mảnh bản sao của hai truyền thuyết Babylon: một kể về câu chuyện của Nergal và Ereshkigal, và một khác khắc phần của truyền thuyết về Adapa và Gió Nam. Cả hai tác phẩm này, về phong cách và cách sắp xếp tổng thể, rất giống với các truyền thuyết được biết đến qua các bản sao Assyria muộn; trong đó, truyền thuyết về Adapa còn có một mảnh bản thực tế, dù không phải bản sao trùng lặp, trong thư viện của Ashur-bani-pal.

Gần đây, người ta cũng đã tìm thấy các mảnh vỡ của truyền thuyết tại Babylon có niên đại từ cuối thời kỳ của Vương triều thứ nhất Babylon, khoảng năm 2100 trước Công nguyên, và sự tương đồng giữa các tài liệu này với một số truyền thuyết vốn trước đây chỉ được biết đến qua bản sao Assyria không chỉ mang tính tổng quát, mà còn giống nhau đến mức đồng nhất về ngôn ngữ. Một trong các mảnh được phục hồi là bản sao một phần của truyền thuyết gọi là “Truyền thuyết Sáng Thế Cuthaean”; hai mảnh khác chứa các cụm từ xuất hiện trong truyền thuyết về Ea và Atar-hasis, trong khi một mảnh khác có dấu vết của một phiên bản mới của câu chuyện Đại Hồng Thủy.

Gần đây hơn nữa, các Ủy viên của Bảo tàng Anh Quốc đã thu nhận ba mảnh vỡ của truyền thuyết Babylon được khắc trên các bảng đá có niên đại sớm hơn nữa, tức từ thời kỳ các vua của Vương triều thứ hai Ur, trước năm 2200 trước Công nguyên; và thời kỳ này cũng có thể được gán cho mảnh vỡ của một truyền thuyết vừa được Tiến sĩ Meissner công bố, và có lẽ cả mảnh mới của huyền thoại Etana, được công bố năm ngoái bởi Cha Scheil. Năm mảnh vỡ này đặc biệt đáng chú ý, vì chúng cho thấy rằng các truyền thuyết Semitic thời kỳ đầu (đối lập với truyền thuyết Sumer) đã tồn tại, được bảo tồn và nghiên cứu cẩn thận tại các thành phố khác của vùng Mesopotamia ngoài Babylon, và vào thời kỳ trước khi thành phố này vươn lên vị trí quan trọng dưới các vua của Vương triều thứ nhất.

Những bằng chứng từ các bảng đá mới được phát hiện gần đây, liên quan đến niên đại của các truyền thuyết Babylon nói chung, có thể được áp dụng để xác định niên đại của các truyền thuyết Sáng Thế. Dù nguồn gốc của phần lớn các truyền thuyết Sáng Thế có thể truy nguyên từ các nguồn Sumer, rõ ràng rằng cư dân Semitic tại vùng Mesopotamia từ rất sớm sáng tác ra các phiên bản riêng của những tác phẩm mà họ vay mượn, đồng thời chỉnh sửa và bổ sung để phù hợp với truyền thống và niềm tin của họ. Việc gắn kết Marduk với Huyền thoại Rồng, cũng như với các câu chuyện về sự sáng tạo thế giới và loài người, có thể được gán với mức độ khả tín cao cho giai đoạn sau đó, khi Babylon dần vươn lên trở thành thành phố chính yếu của vùng Mesopotamia.

Trên các bảng đá được khắc trong thời kỳ trị vì của các vua thuộc Vương triều thứ nhất, chúng ta có thể kỳ vọng sẽ tìm thấy các bản sao của truyền thuyết Sáng Thế tương ứng chặt chẽ với văn bản của loạt truyện Enuma elish. Có thể việc chia bài thơ thành bảy phần, được khắc trên các bảng đá riêng biệt, là điều xảy ra vào thời kỳ muộn hơn; tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, chúng ta có thể kết luận với mức độ tin cậy cao rằng phần lớn nội dung của bài thơ, như chúng ta biết qua các bản sao Assyria muộn và Tân Babylon, đã được sáng tác vào một thời kỳ không muộn hơn năm 2000 trước Công nguyên.

V. ẢNH HƯỞNG CỦA ENUMA ELISH
#

Ảnh hưởng chính trị mà người Babylon đã gây dựng trên các dân tộc lân cận trong suốt nhiều thời kỳ lịch sử là rất đáng kể, và không có gì ngạc nhiên khi niềm tin của họ về nguồn gốc vũ trụ phần nào đã được các dân tộc mà họ tiếp xúc tiếp nhận. Việc các yếu tố Babylon có thể được truy nguyên trong vũ trụ luận của người Phoenicia từ lâu đã được thừa nhận, nhưng hình thức không hoàn chỉnh, và có lẽ bị bóp méo, mà chúng ta hiện có khiến cho việc so sánh chi tiết trở nên không chắc chắn. Một số niềm tin về sự sáng tạo thế giới từng phổ biến trong dân Ai Cập lại mang nét tương đồng nổi bật hơn với các truyền thuyết tương ứng của Babylon. Việc sự tương đồng này là do dòng máu Semitic nguyên thủy có thể đã tồn tại trong chủng tộc Ai Cập cổ, hay là kết quả của ảnh hưởng Babylon về sau từ bên ngoài, vẫn chưa được xác định. Nhưng dù theo cách giải thích nào, rõ ràng rằng quan niệm về hỗn mang như một khối nước từ đó các thế hệ thần nguyên thủy lần lượt xuất hiện là điểm chung của cả hai dân tộc.

Tuy nhiên, chính trong văn học Hebrew mà những ví dụ nổi bật nhất về ảnh hưởng của truyền thuyết Sáng Thế Babylon được tìm thấy. Mối liên hệ mật thiết giữa tường thuật Sáng thế của Babylon và trình thuật trong Sáng thế ký chương 1, câu 1 đến chương 11, câu 4a đã được công nhận kể từ khi truyền thuyết Babylon được phát hiện lần đầu, và những điểm tương đồng cũ và mới giữa hai bản có thể được thảo luận ngắn gọn như sau.

Theo cả hai tường thuật, sự tồn tại của hỗn mang nước là điều đi trước sự sáng tạo vũ trụ; và từ Hebrew tehôm, được dịch là “vực sâu” trong Sáng thế ký 1:2, là tương đương với Tiamat trong truyền thuyết Babylon - quái vật của vực sâu, nhân cách hóa sự hỗn loạn và rối ren.

Trong các chi tiết về Sáng thế, cũng có sự tương đồng rõ rệt giữa hai bản. Trong trình thuật Hebrew, hành động sáng tạo đầu tiên là ánh sáng (Sáng thế ký 1:3–5), và đã có giả thuyết cho rằng có thể có một điểm song song trong truyền thuyết Babylon, khi việc sáng tạo ánh sáng có thể là nguyên nhân khiến Tiamat nổi loạn. Từ các mảnh mới của bài thơ, chúng ta nay biết rằng sự nổi loạn của các thế lực hỗn loạn, vốn do Apsû xúi giục chứ không phải Tiamat, không phải do việc sáng tạo ánh sáng, mà do lòng căm ghét của ông đối với đường lối của các thần - đường lối đã tạo ra trật tự thay cho hỗn loạn. Tuy nhiên, vẫn có thể tìm thấy điểm tương đồng: trong hình thức nguyên thủy của huyền thoại Babylon, đấng đánh bại rồng rõ ràng là một thần mặt trời. Hơn nữa, như đã được chỉ ra ở trên, ngày và đêm trong bài thơ được hình dung một cách mơ hồ như đã tồn tại vào thời điểm Apsû nổi loạn, cho nên niềm tin về sự hiện hữu của ánh sáng trước khi các thiên thể được tạo dựng là điểm chung giữa trình thuật Hebrew và Babylon.

Hành động sáng tạo thứ hai trong trình thuật Hebrew là việc tạo dựng một vòm trời để phân cách các tầng nước bên dưới với các tầng nước bên trên vòm trời (Sáng thế ký 1:6–8). Trong bài thơ Babylon, thân thể của Tiamat bị Marduk chia đôi, và từ một nửa thân thể của bà, ông tạo ra một mái che hay vòm cho thiên đàng - tức một vòm trời - để giữ các tầng nước phía trên của bà ở đúng vị trí. Hơn nữa, trong mảnh bảng S. 2,013, chúng ta thấy có đề cập đến Ti-amat e-Zi-tiTi-amat shap-li-ti, tức là Tiamat Thượng (hay Đại Dương Trên) và Tiamat Hạ (hay Đại Dương Dưới), vốn là những tương đương chính xác với các tầng nước phía trên và phía dưới vòm trời.

Hành động sáng tạo thứ ba và thứ tư, như được thuật lại trong Sáng Thế ký 1:9–13, là việc tạo dựng đất và cây cỏ. Mặc dù chưa tìm thấy phần nào của bài thơ Babylon chứa tường thuật tương ứng, có khả năng rằng các hành động sáng tạo này đã được kể lại trong Bảng thứ Năm của loạt truyện. Berossus đã tuyên bố rõ ràng rằng Bêl đã tạo ra đất từ một nửa thân thể của Omorka, và vì bản tóm tắt của ông về truyền thuyết Sáng Thế Babylon đã được chứng minh là chính xác ở những phần có thể kiểm chứng, nên có cơ sở hợp lý để cho rằng chi tiết này cũng đúng. Hơn nữa, trong ba đoạn của Bảng thứ Bảy, việc Marduk tạo dựng đất được đề cập: dòng 115 ghi rằng, “Vì Ngài đã tạo dựng thiên đàng và hình thành đất vững chắc”; mảnh mới K. 12,830 (được phục hồi từ phần bình luận văn bản K. 8,299) ghi rằng, “Ngài đã đặt tên cho bốn phương của thế giới”; và một mảnh mới khác, K. 13,761 (phục hồi từ phần bình luận văn bản K. 44,061), gán cho Marduk danh hiệu “Đấng Tạo Dựng đất.” Việc Marduk tạo dựng cây cỏ cũng có thể được suy ra từ những dòng mở đầu của Bảng thứ Bảy, được khắc trên mảnh mới K. 2,854, và (với phần phục hồi từ bình luận văn bản S. II, v.v.) gán cho ông các danh hiệu: “Đấng Ban Cho Việc Trồng Trọt,” “Đấng Khai Sáng Việc Gieo Giống,” “Đấng Tạo Dựng Ngũ Cốc và Thảo Mộc,” và thêm rằng ông “khiến cây xanh mọc lên.”

Hành động sáng tạo thứ năm, tức là việc tạo dựng các thiên thể (Sáng thế ký 1:14–15), có một điểm tương đồng rất rõ ràng trong những dòng mở đầu của Bảng thứ Năm trong loạt truyện. Trong trình thuật Hebrew, các ánh sáng được tạo ra trong vòm trời để phân biệt ngày với đêm, và để làm dấu hiệu cho các mùa, các ngày và các năm. Trong bài thơ Babylon, các ngôi sao cũng được tạo ra, và năm được thiết lập cùng lúc; mười hai tháng được định bởi các ngôi sao; và thần Mặt Trăng được chỉ định “để xác định các ngày.” Theo trình thuật Hebrew, hai ánh sáng lớn được tạo ra trong vòm trời - ánh sáng lớn hơn cai trị ban ngày, và ánh sáng nhỏ hơn cai trị ban đêm - thì trong bài thơ Babylon, ban đêm được giao cho thần Mặt Trăng, và mối liên hệ giữa thần Mặt Trăng và thần Mặt Trời được mô tả chi tiết. Trong Bảng thứ Bảy, việc tạo dựng thiên đàng và các thiên thể cũng được đề cập; dòng 16 ghi rằng Marduk “đã thiết lập thiên đàng sáng chói cho các thần,” và dòng 111 trở đi ghi rằng “Ngài đã giữ vững các lối đi cho các ngôi sao trên trời, Ngài chăn dắt tất cả các thần như chiên!”

Với hành động sáng tạo thứ sáu và thứ bảy - tức việc tạo dựng các sinh vật biển và chim có cánh, cùng với thú đồng, gia súc và loài bò sát (Sáng thế ký 1:20–25) - bài thơ Babylon hiện chưa có phần tương ứng, vì đoạn văn bản nói về việc tạo dựng các loài vật vẫn còn thiếu. Tuy nhiên, vì Berossus đã ghi rằng các loài vật được tạo ra cùng lúc với con người, nên có khả năng rằng việc tạo dựng chúng đã được ghi lại trong phần bị mất của Bảng thứ Năm hoặc Thứ Sáu. Nếu trình thuật đi theo hướng mà Berossus gợi ý, và các loài vật có phần trong huyết của Bêl, thì rõ ràng việc tạo dựng chúng đã được kể lại như một phân đoạn phụ, ít quan trọng hơn, sau khi con người được tạo dựng. Dù phân đoạn này vẫn chưa được tìm thấy trong bài thơ, chúng ta thấy có những ám chỉ trong các mảnh truyền thuyết Sáng Thế Assyria khác về việc tạo dựng các loài thú. Vì vậy, để so sánh với việc tạo dựng các sinh vật biển trong Sáng thế ký, ta có thể tham khảo văn bản rời rạc K. 3445+R. 396, trong đó ghi lại việc tạo dựng nahirê - có thể là “cá heo (?).” Và để so sánh với việc tạo dựng thú đồng và gia súc, ta có thể tham khảo bảng đá D.T. 41, trong đó sau khi đề cập chung đến việc các “sinh vật sống” được tạo dựng bởi “các thần,” văn bản tiếp tục phân loại chúng thành gia súc và thú đồng, và các sinh vật của thành phố - hai nhóm loài vật này tương ứng với thú hoang và thú đã được thuần hóa.

Trình thuật về việc tạo dựng con người, được ghi lại như là hành động sáng tạo thứ tám và cuối cùng trong trình thuật Hebrew (Sáng thế ký 1:26–31), cuối cùng cũng tìm thấy điểm tương đồng trong bài thơ Babylon qua mảnh mới của Bảng thứ Sáu, số hiệu 92,629. Như đã được chỉ ra trước đó, trình thuật Babylon bám sát phiên bản câu chuyện được truyền lại qua Berossus, và có thể bổ sung thêm rằng việc Marduk - Đấng Tạo Dựng - dùng chính huyết của mình để tạo ra con người có thể được so sánh với trình thuật Hebrew về việc con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Elohim. Hơn nữa, việc sử dụng số nhiều trong cụm từ “Chúng ta hãy dựng nên loài người” trong Sáng Thế ký 1:26 có thể được so sánh với trình thuật Babylon, trong đó Marduk bày tỏ ý định tạo dựng con người với cha mình là Ea, người mà ông có lẽ đã chỉ định thực hiện công việc tạo dựng con người.

Một điểm tương đồng với mệnh lệnh mà Elohim đã ban cho người nam và người nữ sau khi họ được tạo dựng, theo trình thuật Hebrew, trước đây được cho là tồn tại trong bảng đá K. 3,364, vốn được cho là chứa danh sách các bổn phận của con người do Marduk truyền lại sau khi tạo dựng. Tuy nhiên, bản sao Babylon mới của văn bản này, số hiệu 33,851, chứng minh rằng K. 3,364 không thuộc loạt truyện Sáng Thế, mà chỉ là một bảng đá chứa các lời dạy đạo đức, vì vậy sự tương đồng được đề xuất với trình thuật Hebrew cần phải được loại bỏ. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng rằng một phần bị mất của Bảng thứ Sáu có thể đã chứa một loạt ngắn các chỉ dẫn của Marduk dành cho con người, vì con người được tạo dựng với mục đích đặc biệt là cung cấp người thờ phượng cho các thần và xây dựng đền thờ để tôn vinh họ. Việc trong các chỉ dẫn ấy có bao gồm món quà là quyền cai trị trên thú vật, chim trời và cây cỏ là điều có thể, nhưng cần lưu ý rằng phiên bản Babylon về việc tạo dựng con người được kể từ quan điểm của các thần, chứ không phải từ quan điểm của con người. Dù việc tạo dựng con người là đỉnh cao trong công trình của Marduk, nó không được xem là mục tiêu cuối cùng, mà chỉ là một phương tiện để làm thỏa lòng các thần đang bất mãn. Phương tiện này được đề cập trong Bảng thứ Bảy, dòng 29, qua cụm từ: “Vì sự tha thứ cho họ (tức là sự tha thứ cho các thần) mà Ngài đã tạo dựng loài người”; và các đoạn khác trong Bảng thứ Bảy cho thấy lòng thương xót và sự nhân lành của Marduk được ca ngợi trong mối liên hệ của Ngài với các thần, chứ không phải với loài người. Trong một đoạn, việc tạo dựng con người được đề cập, nhưng là trong mối liên hệ với lời cảnh báo rằng con người chớ quên các công việc của Đấng Tạo Dựng mình.

Những suy xét ở trên khiến cho việc bài thơ Babylon có một điểm tương đồng chính xác với mệnh lệnh cao cả của Elohim - trong đó Ngài đặt phần còn lại của công trình sáng tạo dưới quyền cai trị của con người - trở nên khó có khả năng. Tuy nhiên, có thể rằng trong mảnh mới của Bảng thứ Bảy, K. 12,830 (được phục hồi từ phần bình luận văn bản K. 8,299), chúng ta có một ám chỉ đến sự vượt trội của con người so với các loài vật, qua cụm từ: “loài người [Ngài đã tạo dựng], [và ban cho] nó sự hiểu biết [Ngài đã ban (?)…]”; và nếu đúng như vậy, ta có thể so sánh với Sáng Thế ký 1:28b. Hơn nữa, nếu việc phục hồi từ tôi về từ cuối cùng trong dòng 7 của Bảng thứ Sáu là chính xác, để câu ấy đọc là: “Ta sẽ tạo dựng con người để nó cư ngụ [trên đất],” thì có thể so sánh với Sáng thế ký 1:28a, trong đó con người được truyền lệnh phải sinh sản, gia tăng, và làm đầy đất.

Một đề xuất đã được đưa ra rằng sự nhấn mạnh đến lời phán của Đấng Tạo Dựng trong trình thuật Hebrew có thể có điểm tương đồng với việc tạo dựng bằng lời trong bài thơ Babylon. Quả thật, lời của Marduk có quyền năng kỳ diệu, có thể vừa hủy diệt vừa sáng tạo; nhưng Marduk không sử dụng lời của mình trong bất kỳ hành động sáng tạo nào mà chúng ta hiện biết đến. Trước tiên, ông nghĩ ra một kế sách khéo léo, rồi tiến hành thực hiện nó bằng tay. Lần duy nhất ông sử dụng lời để hủy diệt và tạo dựng là trong Bảng Thứ Tư, dòng 19–26, khi theo lời mời của các thần, ông thử nghiệm quyền năng của mình bằng cách khiến một chiếc áo biến mất và hiện ra trở lại chỉ bằng lời nói. Tuy nhiên, sự tương đồng giữa hai trình thuật trong khía cạnh này không thật sự gần gũi.

Thứ tự của các hành động sáng tạo riêng biệt cũng không hoàn toàn giống nhau trong hai bản tường thuật, bởi vì trong bài thơ Babylon, các thiên thể được tạo dựng ngay sau khi vòm trời được hình thành, còn trong bản tường thuật của người Do Thái, việc tạo dựng các thiên thể lại bị hoãn lại cho đến sau khi đất và cây cỏ đã được dựng nên. Có thể việc tạo dựng đất và cây cỏ đã bị dời chỗ bởi người viết chịu trách nhiệm cho hình thức hiện tại của bản tường thuật Do Thái, và rằng thứ tự sáng tạo ban đầu vốn giống hệt nhau trong các hình thức nguyên thủy của hai câu chuyện. Nhưng ngay cả theo cách sắp xếp hiện tại của bản tường thuật Do Thái, vẫn có nhiều điểm tương đồng nổi bật với bài thơ Babylon. Những điểm này có thể thấy trong (1) sự hiện hữu của ánh sáng trước khi các thiên thể được tạo dựng; (2) việc phân chia nước của trận lụt nguyên thủy bằng một vòm trời cũng xảy ra trước khi các thiên thể được tạo dựng; và (3) hành động sáng tạo cao điểm là việc dựng nên con người.

Thật dễ bị cuốn hút bởi ý tưởng rằng khuôn khổ của Bảy Ngày Sáng Tạo, trên đó bản tường thuật trong sách Sáng thế ký được xây dựng, có thể bắt nguồn từ ảnh hưởng của Bảy Bảng Sáng Tạo, mà ngày nay chúng ta biết là cấu trúc của loạt truyện Sáng Tạo vĩ đại. Tuy nhiên, lý do sử dụng Bảy Ngày trong bản tường thuật Do Thái không giống với lý do khiến bài thơ Babylon được sắp xếp trên Bảy Bảng. Trong bản tường thuật Do Thái, ý định của người viết là đưa ra thẩm quyền nguyên thủy cho việc giữ ngày Sa-bát; còn trong bài thơ Babylon, dường như không có lý do đặc biệt nào cho cách sắp xếp này ngoài tính huyền nhiệm của con số “bảy.” Hơn nữa, các hành động sáng tạo được ghi lại trong cả sáu ngày đầu tiên của bản tường thuật Do Thái, trong khi trong bài thơ Babylon, việc sáng tạo chỉ bắt đầu vào cuối Bảng thứ Tư. Do đó, sự tương đồng có phần bề ngoài, nhưng vẫn có khả năng rằng việc sử dụng con số “bảy” trong hai bản tường thuật không phải là ngẫu nhiên. Dù ngày Sa-bát có nguồn gốc Babylon hay không (như có vẻ là điều hợp lý), rõ ràng người viết bản tường thuật trong sách Sáng thế ký rất quan tâm đến việc truyền bá và giữ gìn ngày đó. Vào thời kỳ lưu đày và hậu lưu đày, bản tường thuật về Sáng Tạo phổ biến nhất tại Babylon là bài thơ Enuma elish, mà văn bản lúc ấy đã được cố định hoàn toàn và cách sắp xếp trên Bảy Bảng là bất biến. Việc sự phục hưng muộn của thần thoại trong dân Do Thái một phần là do họ thực sự nghiên cứu các truyền thuyết Babylon trong thời kỳ này được chứng minh đầy đủ bởi những điểm tương đồng chi tiết giữa các bản tường thuật về trận Đại Hồng Thủy trong sách Sáng thế ký và trong bài thơ Gilgamesh. Do đó, có khả năng rằng người viết chịu trách nhiệm cho hình thức cuối cùng của Sáng thế ký chương 1 đến 2, câu 4a, đã quen thuộc với truyền thuyết Sáng Tạo của Babylon trong hình thức mà chúng ta hiện có. Vì vậy, giả thuyết rằng mối liên hệ giữa ngày Sa-bát và câu chuyện Sáng Tạo được gợi ý bởi con số huyền nhiệm của các Bảng mà bài thơ Babylon được khắc lên có lẽ không phải là quá viển vông.

Những điểm tương đồng thêm nữa với các truyền thuyết Sáng Tạo của Babylon có thể được nhận thấy trong bản tường thuật thứ hai của người Do Thái về Sáng Tạo, tiếp nối bản đầu tiên trong Sáng thế ký chương 2, câu 4b–7. Theo phiên bản này, con người được dựng nên từ bụi đất, điều này có thể so sánh với việc trộn máu của Bêl với đất theo tường thuật của Berossus. Việc dùng máu của Đấng Tạo Hóa trong một bản tường thuật được phản chiếu bởi việc dùng hơi thở của Ngài trong bản kia để ban sự sống cho bụi đất. Đất không được nhắc đến trong phần đã phục hồi của Bảng thứ Sáu, nhưng việc dùng đất để tạo nên con người hoàn toàn phù hợp với niềm tin Babylon. Theo bản tường thuật thứ hai của Babylon về Sáng Tạo, Marduk đã dựng nên con người bằng cách đổ bụi đất bên cạnh một cây sậy mà ông đã đặt trên mặt nước. Đất sét cũng được cho là đã được dùng để tạo nên những con người đặc biệt và các anh hùng; ví dụ, nó được dùng trong việc tạo nên Ea-bani bởi Arum, và được kể là đã được trộn với máu thần thánh cho mục đích tương tự trong truyền thuyết còn sót lại Bu. 91-5-9, 269. Đối với tường thuật về việc tạo dựng người nữ trong Sáng thế ký chương 2, câu 18 trở đi, chúng ta thấy một điểm tương đồng mới trong dòng thứ 5 của Bảng thứ Sáu trong loạt truyện Sáng Tạo, với việc dùng từ issimtu, nghĩa là “xương,” tương ứng với từ ’esem trong tiếng Hê-bơ-rơ, xuất hiện trong cụm từ “xương bởi xương tôi” trong Sáng thế ký chương 2, câu 23.

Ngoài sắc thái Babylon trong phần lớn câu chuyện về Địa Đàng, giờ đây chúng ta có thể thêm một điểm tương đồng mới từ bài diễn từ Babylon gửi đến một Con Sông Huyền Thoại của Sáng Tạo, được khắc trên S. 1704 và Bảng Neo-Babylon 82-9-18, 5311. Bài viết ngắn này được gửi đến một con sông mà việc tạo dựng muôn vật được quy cho nó, và với con sông này, chúng ta có thể so sánh với con sông huyền thoại trong Địa Đàng, nơi tưới nước cho khu vườn, và khi rời khỏi đó thì chia thành bốn nhánh. Việc Con Sông trong Địa Đàng của người Do Thái mang đặc điểm Babylon là điều rõ ràng; và nguồn gốc của Con Sông Sáng Tạo trong truyền thuyết Babylon cũng được tìm thấy nơi sông Ơ-phơ-rát, từ dòng nước của nó mà miền nam Babylon có được sự phì nhiêu lớn lao. Dòng sông ban sự sống trong Địa Đàng cũng xuất hiện ở những nơi khác trong Cựu Ước, chẳng hạn như trong Ê-xê-chi-ên chương 47, và có khả năng chúng ta có thể thấy ảnh hưởng của nó trong sách Khải Huyền.

Không cần thiết phải bàn luận chi tiết tại đây về các bằng chứng cho thấy rằng các bản tường thuật của người Do Thái về ảnh hưởng trong việc Sáng Tạo rốt cuộc có nguồn gốc từ Babylon và từ thần thoại, chứ không phải được người Babylon và người Do Thái thừa hưởng một cách độc lập từ một tổ tiên chung thuộc dòng giống Semit. Vì sắc thái địa phương của Babylon trong các câu chuyện, cùng với niên đại rất cổ mà sự tồn tại của chúng có thể được truy nguyên - kéo dài đến thời kỳ cư dân Sumer của vùng Mesopotamia - là bằng chứng thuyết phục chống lại giả thuyết thứ hai.

Mặt khác, cũng không cần thiết phải viện dẫn các lập luận quen thuộc để chứng minh rằng trong dân Do Thái đã tồn tại các truyền thuyết về Sáng Tạo tương tự như của Babylon từ nhiều thế kỷ trước thời kỳ lưu đày. Những ám chỉ đến các hình thức khác nhau của truyền thuyết Rồng Babylon trong A-mốt chương 9, câu 3; Ê-sai chương 51, câu 9; Thi thiên chương 74, câu 13 trở đi, và chương 89, câu 9 trở đi; cùng với Gióp chương 26, câu 12 trở đi, và chương 9, câu 13 - có thể được trích dẫn như bằng chứng đầy đủ về thời kỳ sớm mà việc vay mượn từ nguồn Babylon đã xảy ra.

Những khác biệt nổi bật giữa các phiên bản Kinh Thánh và các phiên bản Babylon đã biết của các truyền thuyết cho thấy rằng người Do Thái trong thời kỳ lưu đày và hậu lưu đày đã có sẵn trong tay các phiên bản cổ của người Do Thái về những câu chuyện ấy, và rằng những thay đổi họ đưa vào chủ yếu chỉ giới hạn trong việc sắp xếp chi tiết và những phần bị lược bỏ do những quan niệm và niềm tin thuộc về linh giới cao hơn của họ. Việc phát hiện các bảng Tell el-Amarna đã chứng minh một cách thuyết phục rằng ảnh hưởng của Babylon đã lan rộng khắp Ai Cập và Tây Á vào thế kỷ thứ mười lăm trước Công nguyên, và sự tồn tại của các truyền thuyết trong các bức thư ấy cho thấy rằng thần thoại Babylon đã có ảnh hưởng tương ứng với phạm vi các mối liên hệ và lợi ích chính trị của họ.

Do đó, chúng ta có thể suy đoán rằng các truyền thuyết Babylon đã được bản địa hóa tại xứ Palestine trước khi dân Y-sơ-ra-ên chinh phục vùng đất ấy. Nhiều phiên bản Palestine của các truyền thuyết Babylon chắc chắn đã được dân Y-sơ-ra-ên hấp thụ; và trong thời kỳ sau đó dưới các vua Do Thái, cả A-si-ri lẫn Babylon đều có ảnh hưởng trực tiếp đến họ. Vì vậy, rõ ràng rằng vào thời kỳ lưu đày tại Babylon, người Do Thái bị bắt không phải đối diện với một hệ thống thần thoại hoàn toàn mới lạ, mà nhận ra trong đó một chuỗi niềm tin có họ hàng, tuy khác biệt nhiều với niềm tin của họ về mặt thuộc linh, nhưng lại có sự tương đồng đáng kinh ngạc về nhiều điểm vật chất.

VI. TƯ LIỆU THAM CHIẾU
#

Giờ đây, khi các vấn đề chính liên quan đến nội dung, niên đại, và ảnh hưởng của loạt truyện Sáng Tạo Enuma elish đã được xử lý, phần còn lại là mô tả chi tiết về bốn mươi chín mảnh vỡ và bảng đá từ đó văn bản - được phiên âm và dịch ra trong các chương sau - được tổng hợp.

Sau mỗi số đăng ký (hiện vật trong bảo tàng) là phần tham chiếu đến bản sao đã được công bố của văn bản trong Cuneiform Texts from Babylonian Tablets, v.v., tại Bảo tàng Anh Quốc, phần 13, hoặc trong Tập II của công trình này, hoặc trong Phụ lục I và II của tập này; một mô tả ngắn gọn về mỗi bảng được thêm vào, cùng với các tham chiếu đến bất kỳ lần xuất bản trước nào của văn bản. Sau khi liệt kê các bản sao đã biết của mỗi bảng, một danh sách các nguồn tham khảo cho từng dòng riêng biệt của bảng được đưa ra, nhằm giúp người đọc kiểm chứng bất kỳ đoạn nào trong văn bản một cách nhanh chóng nhất có thể.

6.1. Bảng 1
#

❇ Mười hai tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Nhất của loạt bài thơ Sáng Thế:

  1. K. 5,419c: Cuniform Texts, pt. xiii (illegible), pl. I. Obverse: ll. 1-16; Reverse: catch-line and colophon. Phần trên của một bảng Assyria, kích thước 3 ¼ in. x 1 7/8 in. Đối với các ấn phẩm trước đây của văn bản này, xem George Smith, T.S.B.A., tập iv, The Creation Series, tr. 363 tt., pl. i; Fox Talbot, T.S.B.A., tập v, tr. 428 tt.; Menant, Manuel de la langue Assyrienne, tr. 378 tt.; Delitzsch, Asyrische Lesestücke, ấn bản 1, tr. 40; ấn bản 2, tr. 78; ấn bản 3, tr. 93; Lyon, Assyrian Manual, tr. 62; và First Steps in Assyrian, tr. 122 tt.

  2. No. 93,015 (82-7-14, 402): Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 1 and 3. Obverse: ll. 1-16; Reverse: ll. 124-142 and colophon. Phần trên của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 2 1/8 in. x 2 1/4 in. Đối với ấn phẩm trước đây của văn bản này, xem Pinches, Bab. Or. Rec., tập iv, tr. 26 tt. Mảnh vỡ này có khả năng thuộc cùng tấm bảng với tấm số 10.

  3. No. 45,528 + 46,614: Vol. II, pls. i-vi. Obverse: ll. 1-48; Reverse: ll. 111-142, catch-line, and colophon. Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, ghép từ hai mảnh mà tôi đã nối lại; kích thước 2 1/4 in. x 5 ½ in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  4. No. 35,134: Vol. II, pl. vii. Obverse: ll. 11-21; no reverse. Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 1 3/8 in. x 2 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  5. No. 36,726: Vol. II, pl. viii. Obverse: ll. 28-33. “Tấm bảng luyện tập” Neo-Babylon; văn bản, vốn là một trích đoạn, có kích thước 2 7/8 in. x 1 1/4 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  6. 81-7-27, 80: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 2. Obverse: ll. 31-56; Reverse: ll. 118-142. Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 2 5/8 in. x 3 in. Văn bản này, được Pinches đề cập trong Bab. Or. Rec., tập iv, tr. 33, đã được Zimmern sử dụng cho bản dịch trong Schöpfung und Chaos của Gunkel, tr. 402 tt.; được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, tr. 25 tt., và bởi Jensen trong Mythen und Epen, tr. 2 tt.

  7. K. 3,938: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 3. Obverse: ll. 33-42; Reverse: ll. 128-142. Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 1 1/6 in. x 1 3/4 in. Mảnh vỡ này đã được George Smith sử dụng trong Chaldean Account of Genesis, tr. 93 tt., và bởi các dịch giả sau đó; văn bản được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, tr. 27.

  8. K. 7,871: Vol. I, Appendix II, pp. 183 ff. Obverse: ll. 33-47; no reverse. Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 1 1/6 in. x 1 3/4 in. Mảnh này có thể thuộc cùng tấm bảng với số II. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  9. No. 36,688: Vol. II, pl. vii. Obverse: ll. 38-44. Phần của một “tấm bảng luyện tập” Neo-Babylon; văn bản, vốn là bản tóm lược, có kích thước 1½ in. x 1 1/8 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  10. No. 46,803: Vol. II, pls. ix-xi. Obverse ll. 46-67; Reverse: ll. 83-103. Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 2 in. x 2 in. Mảnh này có khả năng thuộc cùng tấm bảng với số 2. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  11. K. 4,488: Vol. I, Appendix II, pp. 185 ff. Obverse: ll. 50-63; no reverse. Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 1 3/4 in. x 1½ in.; xem ở trên, số 8. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  12. 82-9-18, 6,879: Vol. II, pls. xii and xiii. No obverse; Reverse: ll. 93-1 18. Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 1 7/8 in. x 2 5/8 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

❇ Các nguồn tư liệu cho những dòng trên Bảng thứ Nhất như sau:

BẢNG I

  • Dòng 1-10: Nos. 1, 2, and 3.
  • Dòng 11-16: Nos. 1, 2, 3, and 4.
  • Dòng 17-21: Nos. 3 and 4.
  • Dòng 22-27: No. 3.
  • Dòng 28-30: Nos. 3 and 5.
  • Dòng 31-32: Nos. 3, 5, and 6.
  • Dòng 33: Nos. 3, 5, 6, 7, and 8.
  • Dòng 34-37: Nos. 3, 6, 7, and 8.
  • Dòng 38-42: Nos. 3, 6, 7, 8, and 9.
  • Dòng 43: Nos. 3, 6, and 8.
  • Dòng 44: Nos. 3, 6, 8, and 9.
  • Dòng 45: Nos. 3, 6, and 8.
  • Dòng 46-47: Nos. 3, 6, 8, and 10.
  • Dòng 43: Nos. 3, 6, and 10.
  • Dòng 49: Nos. 6 and 10.
  • Dòng 53-56: Nos. 6, 10, and 11.
  • Dòng 57-63: Nos. 10 and 11.
  • Dòng 64-67: No. 10.
  • Dòng 68-82: Wanting.
  • Dòng 83-92: No. 10.
  • Dòng 93-103: Nos. 10 and 12.
  • Dòng 104-110: No. 12.
  • Dòng 111-117: Nos. 3 and 12.
  • Dòng 118: Nos. 3, 6, and 12.
  • Dòng 119-123: Nos. 3 and 6.
  • Dòng 124-127: Nos. 2, 3, and 6.
  • Dòng 128-142: Nos. 2, 3, 6, and 7.

6.1. Bảng 2
#

❇ Bảy tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Hai của loạt bài thơ Sáng Thế:

  1. No. 40,559: Vol. II, pls. xiv-xxi. Obverse: ll. 1-40; Reverse: ll. (111)-(140), catch-line, and colophon. Phần trên của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 2 5/8 in. x 4 1/6 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  2. No. 38,396: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 4. Obverse: ll. 11-29; Reverse: ll. (105)-(132). Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, kích thước 3 1/4 in. x 2 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  3. No. 92,632 + 93,048: Vol. II, pls. xxii-xxiv. Obverse: ll. 14-29; Reverse: ll. (104)-(138). Phần của một tấm bảng Neo-Babylon, ghép từ hai mảnh mà tôi đã nối lại; kích thước 1 7/8 in. x 1 6/8 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  4. K. 4,832: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 5. Obverse: ll. 32-58; Reverse: ll. (104)-(138). Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 1½ in. x 3 1/4 in. Tấm bảng này đã được George Smith biết đến; xem Chald. Acc. of Gen., tr. 92; văn bản của nó được công bố bởi S. A. Smith trong Miscellaneous Texts, pl. 8 tt.

  5. 79-7-8, 178: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 6. Obverse: ll. (69)-(75); Reverse: ll. (76)-(85). Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 3 1/8 in. x 1 3/4 in. Văn bản này, do Pinches xác định, đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, tr. 30, và bởi Jensen trong Mythen und Epen, tr. 10 tt.

  6. K. 10,008: Vol. I, App. II, pp. 187 ff. No obverse; Reverse: probably between 11.85 and 104. Phần của một tấm bảng Assyria, kích thước 1 5/8 in. x 2 1/4 in. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

  7. K. 292: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 6. No obverse; Reverse: ll. (131)-( 140). Phần dưới của một tấm bảng Assyria, kích thước 2½ in. x 2 1/4 in. Văn bản của tấm bảng này, vốn được George Smith biết đến, đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, tr. 31, và bởi Jensen trong Mythen und Epen, tr. 10.

❇ Các nguồn tư liệu cho các dòng trên Bảng thứ Hai như sau:

BẢNG II

  • Dòng 1-10: No. 13.
  • Dòng 11-13: Nos. 13 and 14.
  • Dòng 14-29: Nos. 13, 14, and 15.
  • Dòng 30-31: No. 13.
  • Dòng 32-40: Nos. 13 and 16.
  • Dòng 41-58: No. 16.
  • Dòng 59-(68): Wanting.
  • Dòng (69)-(85): No. 17.
  • Giữa dòng (86) và (103): số 18.
  • Dòng (104): No. 16.
  • Dòng (105)-(110): Nos. 14 and 16.
  • Dòng (111)-(113): Nos. 13, 14, and 16.
  • Dòng (114)-(126): Nos. 13, 14, 15, and 16.
  • Dòng (127): Nos. 13, 15, and 16.
  • Dòng (128)-(129): Nos. 13, 14, 15, and 16.
  • Dòng (130): Nos. 13, 15, and 16.
  • Dòng (131): Nos. 13, 15, 16, and 19.
  • Dòng (13-2): Nos. 13, 14, 16, and 19.
  • Dòng (133)-(138): Nos. 13, 16, and 19.
  • Dòng (139)-(140): Nos. 13 and 19.

6.3. Bảng 3
#

❇ Chín tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Ba của loạt bài thơ Sáng Thế:

  1. K. 3,473 + 79-7-8, 296 + R. 615: Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 7-9. Obverse: ll. 1-85; Reverse: ll. 86-138. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2½ x 8 3/8 inch. Ba mảnh vỡ của bảng này đã được phục hồi và có thể ghép lại với nhau, nhưng do bị biến dạng nặng bởi lửa nên chưa được gắn kết. Các bản công bố trước đây của văn bản này có thể xem trong S. A. Smith, Miscellaneous Texts, bảng 1–5, và First Steps in Assyrian, trang 124 trở đi. Văn bản K. 3,473 đã được George Smith nhận diện từ trước, xem Chald. Acc. Gen., trang 92 trở đi.
  2. No. 93,017 [88-4-19, 13]: Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 10 and 11. Obverse: ll. 47-77; Reverse: ll. 78-105. Một phần của bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 2½ x 3 5/8 inch. Văn bản này được Pinches nhận diện, và đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 35 trở đi, cũng như bởi Jensen trong Mythen und Epen, trang 14 trở đi.
  3. 82-9-18, 1,403+6,316 [No. 61,429]: Vol. II, pls. xxv-xxviii. Obverse: ll. 5-15, 52-61; Reverse: ll. 62-76, 124-128. Một phần của bảng luyện tập Neo-Babylon, có khắc một chuỗi trích đoạn gồm năm dòng từ văn bản gốc; kích thước 2 x 3 inch. Bản sao của văn bản 82-9-18, 1,403 được ghi trong Cuniform Texts, phần xiii, bảng 13. Sau đó, tôi đã ghép thêm mảnh vỡ 82-9-18, 6,316, và vì vậy văn bản được lặp lại trong Tập II. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  4. K. 8,524: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 12. Fragment from the end of Obv. or beginning of Rev.: ll. 75-86. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 1 7/8 x 1 3/8 inch. Văn bản này được Pinches đề cập trong Bab. Or. Rec., tập iv, trang 30, và được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 31.
  5. 82-9-18, 6,950+83-1-18, 1,868: Vol. II, pl. xxix. Duplicate of ll. 19-26 and 77-84; variants are noted in the text under ll. 19-26. Bảng luyện tập Neo-Babylon, văn bản là một trích đoạn có kích thước 2 5/8 x 1 1/4 inch. Bản sao của văn bản 83-1-18, 1,868 được ghi trong Cuniform Texts, phần xiii, bảng 12. Sau đó, tôi đã ghép thêm mảnh vỡ 82-9-18, 6,950, và văn bản được lặp lại trong Tập II. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  6. K. 6,650: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 9. Duplicate of ll. 38-55 and 96-113; variants are noted in the text under ll. 38-55. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 3 x 3 3/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  7. No. 42,285: Vol. II, pls. xxx-xxxiii. Obverse: ll. 46-68; Reverse: ll. 69-87. Một phần của bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 2½ x 2 5/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  8. 82-9-18, 5,448+83-1-18, 2,116: Vol. II, pl. xxxiv. Obverse: ll. 64-72. Một phần của bảng luyện tập Neo-Babylon, văn bản là một trích đoạn có kích thước 2 3/4 x 1½ inch. Bản sao của văn bản 83-1-18, 2,116 được ghi trong Cuniform Texts, phần xiii, bảng 12. Sau đó, tôi đã ghép thêm mảnh vỡ 82-9-18, 5,448, và văn bản được lặp lại trong Tập II. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  9. K. 8,575: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 12. Obverse: ll. 69-76; Reverse: ll. 77-85. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2 5/8 x 2 1/6 inch. Văn bản này được Bezold nhận diện, xem Catalogue, trang 941, và được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 38.

❇ Các nguồn tư liệu cho những dòng trên Bảng thứ Ba như sau:

BẢNG III

  • Dòng 1-4: No. 20.
  • Dòng 5-15: Nos. 20 and 22.
  • Dòng 16-18: No. 20.
  • Dòng 29-26: Nos. 20 and 24.
  • Dòng 38-45: Nos. 20 and 25.
  • Dòng 46: Nos. 20, 25, and 26.
  • Dòng 47-51: Nos. 20, 21, 25, and 26.
  • Dòng 52-55: Nos. 20, 21, 22, 25, and 26.
  • Dòng 56-63: Nos. 20, 21, 22, and 26.
  • Dòng 64-68: Nos. 20, 21, 22, 26, and 27.
  • Dòng 69-72: Nos. 20, 21, 22, 26, 27, and 28.
  • Dòng 73-74: Nos. 20, 21, 22, 26, and 28.
  • Dòng 75-76: Nos. 20, 21, 22, 23, 26, and 28.
  • Dòng 77-84: Nos. 20, 21, 23, 24, 26, and 28.
  • Dòng 85: Nos. 20, 21, 23, 26, and 28.
  • Dòng 86: Nos. 20, 21, 23, and 26.
  • Dòng 87: Nos. 20, 21, and 26.
  • Dòng 88-95: Nos. 20 and 21.
  • Dòng 96-105: Nos. 20, 21, and 25.
  • Dòng 106-113: Nos. 20 and 25.
  • Dòng 124-128: Nos. 20 and 22.
  • Dòng 27-37: No. 20.
  • Dòng 114-123: No. 20.
  • Dòng 129-138: No. 20.

6.4. Bảng 4
#

❇ Sáu tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Tư:

  1. No. 93,016 [82-9-18, 3,737]: Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 14-15. Obverse: ll. 1-44; Reverse: ll. 116-146. Phần trên của một bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 3 3/8 x 4 7/8 inch. Để tham khảo bản công bố trước đó của văn bản này, xin xem Budge, P.S.B.A., tập x, trang 86, bảng 1–6.
  2. K. 3,437 + R. 641: Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 16-19. Obverse: ll. 36-83; Reverse: ll. 84-119. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 3 x 5½ inch. Để tham khảo bản công bố trước đó của văn bản K. 3,437, xin xem George Smith, T.S.B.A., tập iv, trang 363 trở đi, bảng 5 và 6; và của K. 3,437+R. 641, xin xem Delitzsch, Asyrische Lesestücke, trang 97 trở đi, cùng với First Steps in Assyrian, trang 137 trở đi.
  3. 79-7-8, 25 I: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 20. Obverse: ll. 35-49; Reverse: ll. 103-107. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 1 x 2 1/8 inch. Văn bản này được Pinches nhận diện, và đã được sử dụng trong phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 41 trở đi, và bởi Jensen trong Mythen und Epen, trang 22 trở đi. Mảnh vỡ này có khả năng thuộc về cùng một bảng với số 34.
  4. No. 93,051: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 20. Obverse: ll. 42-54; Reverse: ll. 85-94. Một phần của bảng luyện tập Neo-Babylon, có khắc văn bản được chia thành các đoạn gồm năm dòng; kích thước 2 1/4 x 1 3/4 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  5. K. 5,420c: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 21. Obverse: ll. 74-92; Reverse: ll. 93-119. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 3 3/8 x 3 1/8 inch. Các phần phục hồi và dị bản đã được George Smith sử dụng từ bảng này cho ấn bản của ông về K. 3,437; xin xem mục số 30 ở trên.
  6. R. 2, 83: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 19. No obverse; Reverse: ll. 117-129. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2 1/4 x 1 5/8 inch. Văn bản này được Pinches nhận diện, và đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 45. Mảnh vỡ này có khả năng thuộc về cùng một bảng với số 31.

❇ Các nguồn tư liệu cho những dòng trên Bảng thứ Tư như sau:

BẢNG IV

  • Dòng 35: Nos. 29 and 31.
  • Dòng 36-41: Nos. 29, 30, and 31.
  • Dòng 42-44: Nos. 29, 30, 31, and 32.
  • Dòng 45-49: Nos. 30, 31, and 32.
  • Dòng 50-54: Nos. 30 and 32.
  • Dòng 55-73: No. 30.
  • Dòng 74-84: Nos. 30 and 33.
  • Dòng 85-94: Nos. 30, 32, and 33.
  • Dòng 95-102: Nos. 30 and 33.
  • Dòng 103-107: Nos. 30, 31, and 33.
  • Dòng 108-115: Nos. 30 and 33.
  • Dòng 116: Nos. 29, 30, and 33.
  • Dòng 117-119: Nos. 29, 30, 33, and 34.
  • Dòng 120-129: Nos. 29 and 34.
  • Dòng 130-146: No. 29.
  • Dòng 1-34: No. 29.

6.5. Bảng 5
#

❇ Năm tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Năm:

  1. K. 3,567 + K. 8,588: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 22. Obverse: ll. 1-26; Reverse: catch-line. Phần trên của một bảng đất sét Assyria, kích thước 3 1/8 x 2 7/8 inch. Để tham khảo các bản công bố trước đó của văn bản này, xin xem George Smith, T.S.B.A., tập iv, trang 363 trở đi, bảng 2; Delitzsch, Assyrische Lesestücke, lần xuất bản thứ ba, trang 94; và First Steps in Assyrian, trang 158 trở đi.
  2. K. 8,526: Cun. Texts, pt. xiii, pl. 23. Obverse: ll. 1-18; Reverse: ll. (138)-( 140). Phần trên của một bảng đất sét Assyria, kích thước 1 ½ x 2 1/4 inch. Văn bản này đã được George Smith sử dụng cho ấn bản số 35 của ông, cũng như trong các bản sao khác của bảng đất sét đó đã được đề cập ở trên; văn bản đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 48 trở đi.
  3. K. 13,774: Vol. I, Appendix II, pp. 190 ff. Obverse: ll. 6-19; no reverse. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 1 1/4 x 1½ inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đó.
  4. K. 11,641: Vol. I, Appendix II, pp. 192 ff. Obverse: ll. 14-22; Reverse: ll. (128)-(140), catch-line, and colophon. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2 3/4 x 3 3/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.
  5. K. 3,449a: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 23. Obverse: ll. (66)-( 74); Reverse: ll. (75)-(87). Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2½ x 1½ inch. Văn bản này, vốn được George Smith nhận diện và dịch lần đầu tiên trong Chald. Acc. of Gen., trang 94 trở đi, đã được phiên âm bởi Delitzsch trong Weltschöpfungsepos, trang 50, và mặt sau được Jensen trình bày trong Mythen and Epen, trang 32.

❇ Các nguồn tư liệu cho những dòng trên Bảng thứ Năm như sau:

BẢNG V

  • Dòng 1-5: Nos. 35 and 36.
  • Dòng 6-13: Nos. 35, 36, and 37.
  • Dòng 14-18: Nos. 35, 36, 37, and 38.
  • Dòng 19: Nos. 35, 37, and 38.
  • Dòng 20-22: Nos. 35 and 38.
  • Dòng 23-26: No. 35.
  • Dòng 27-(65): Wanting.
  • Dòng (66)-(87): No. 39.
  • Dòng (88)-( I 27): Wanting.
  • Dòng (138)-(140): Nos. 36 and 38.
  • Dòng (128)-( 137): No. 38.

6.6. Bảng 6
#

❇ Mảnh vỡ sau đây có khắc một phần văn bản thuộc Bảng thứ Sáu:

  1. No. 92,629: Vol. II, pls. xxxv and xxxvi. Obverse: ll. 1-21; Reverse: ll. 138-146, catch-line, and colophon. Một phần của bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 2 1/8 x 2 1/4 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.

6.7. Bảng 7
#

❇Chín tấm bảng và mảnh vỡ sau đây có khắc các phần của văn bản thuộc Bảng thứ Bảy:

  1. K. 2,854: Vol. I, Appendix I, p. 159. Obverse: ll. 1-18; Reverse uninscribed. Phần trên của một bảng đất sét Assyria, kích thước 2½ x 1 3/4 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.
  2. No. 91, 139 + 93,073: Vol. II. pls. xxxviii-xlv. Obverse: ll. 3-40; Reverse: ll. 106-141. Một phần của bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 2 3/4 x 4 7/8 inch. Văn bản này gồm hai mảnh vỡ đã được ghép lại; chưa từng được công bố trước đây.
  3. K. 8,522: Cuniform Texts, pt. xiii, pls. 26 and 27. Obverse: ll. 15-45; Reverse: ll. 105-137. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 2½ x 3 1/4 inch. Để tham khảo các bản công bố trước đó của văn bản này, xin xem George Smith, T.S.B.A., tập iv, trang 363 trở đi, bảng 3 và 4; và Delitzsch, Assyrische Lesestücke, lần xuất bản thứ ba, trang 95 trở đi.
  4. No. 35,506: Vol. II, pls. xlvi-xlviii. Obverse: ll. 14-36; Reverse: ll. 105-142. Một phần của bảng đất sét Neo-Babylon, kích thước 2 1/4 x 4 1/4 inch. Văn bản này, có khả năng thuộc về thời kỳ Arsacidae, chưa từng được công bố trước đây.
  5. K. 9,267: Cuniform Texts, pt. xiii, pl. 28. Obverse: ll. 40-47; Reverse: ll. 109-138. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 3 5/8 x 2 inch. Các phần phục hồi và dị bản đã được George Smith sử dụng từ bảng này cho ấn bản của ông về K. 8,522; xin xem mục số 43 ở trên.
  6. K. 12,830: Vol. I, Appendix I, p. 163. Obverse or Reverse: between ll. 47 and 105. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 7/8 x 7/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.
  7. K. 13,761: Vol. I, Appendix I, p. 164. End of Obverse and beginning of Reverse: between ll. 47 and 105. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 1 1/8 x 1 5/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.
  8. K. 8,519: Vol. I, Appendix I, p. 165. End of Obverse and beginning of Reverse: between ll. 47 and 105. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 1 3/4 x 1 3/8 inch. Văn bản này chưa từng được công bố trước đây.
  9. K. 13,337: Vol. I, Appendix I, p. 166. Duplicate of No. 48; between ll. 47 and 105. Một phần của bảng đất sét Assyria, kích thước 7/8 x 1 inch. Văn bản này, vốn là bản sao của K. 8,519, chưa từng được công bố trước đây.

❇ Các nguồn tư liệu cho những dòng trên Bảng thứ Bảy như sau:

BẢNG VII

  • Dòng 1-2: No. 41.
  • Dòng 3-13: Nos. 41 and 42.
  • Dòng 14: Nos. 41, 42, and 44.
  • Dòng 15-18: Nos. 41, 42, 43, and 44.
  • Dòng 19-36: Nos. 42, 43, and 44.
  • Dòng 37-39: Nos. 42 and 43.
  • Dòng 40: Nos. 42, 43, and 45.
  • Dòng 41-45: Nos. 43 and 45.
  • Giữa dòng 47 và 105: Nos. 46, 47, 48, and 49.
  • Dòng 105: Nos. 43 and 44.
  • Dòng 46-47: No. 45.
  • Dòng 106-108: Nos. 42, 43, and 44.
  • Dòng 109-137: Nos. 42, 43, 44, and 45.
  • Dòng 138: Nos. 42, 44, and 45.
  • Dòng 139-141: Nos. 42 and 44.
  • Dòng 142: No. 44.

6.8. Ghi Chú
#

Bốn mươi chín bảng đất sét và mảnh vỡ được đề cập ở trên, có khắc các phần văn bản của loạt bài thơ Sáng Thế, thuộc về hai thời kỳ khác nhau. Loại bảng cổ hơn được chế tác dành cho thư viện của Ashur-bani-pal tại thành phố Nineveh, và chúng được viết một cách tuyệt mỹ bằng ký tự Assyria trên đất sét mịn. Ngược lại, các bảng đất sét thuộc thời kỳ Neo-Babylon thường được viết ít cẩn thận hơn - chúng có kích thước và hình dạng rất đa dạng, được chế tác vào những thời kỳ khác nhau cho các cá nhân, hoặc để học tự sử dụng, hoặc để dâng lên các đền thờ như lễ vật khấn nguyện. Một số bản sao Babylon thuộc loại này là những mẫu vật xuất sắc, ví dụ như các số 3, 13, 21, 29 và 42, với ký tự và từ ngữ được viết cẩn thận, khoảng cách rõ ràng; tuy nhiên, cũng có những bảng nhỏ, được làm sơ sài, với bài thơ bị nhồi nhét vào không gian chật hẹp.

Trên tất cả các bảng, dù là Assyria hay Babylon, nếu có phần ghi chú cuối (colophon), thì số thứ tự của Bảng trong loạt bài thơ Sáng Thế đều được ghi cẩn thận. Các trích đoạn từ văn bản được các học viên viết lại trên các bảng luyện tập, rõ ràng là để thực hành viết và đồng thời ghi nhớ văn bản, thường là những bản sao chép thô sơ. Một đặc điểm chung cho tất cả các bảng, dù là Assyria hay Neo-Babylon, là văn bản không bao giờ được viết thành các cột; thay vào đó, mỗi dòng của bài thơ được viết ngang qua bảng từ mép này sang mép kia. Vì vậy, các bảng thường có hình dạng dài và hẹp, thuận tiện hơn nhiều khi cầm nắm so với các bảng rộng có khắc hai hay nhiều cột chữ ở mỗi mặt.

Hình thức văn bản của bài thơ được sử dụng trong thời kỳ Assyria và Neo-Babylon là giống hệt nhau, và việc phân biệt thành “phiên bản Assyria” hay “phiên bản Babylon” là không chính xác. Vào thời Ashur-bani-pal, văn bản đã được cố định rõ ràng, và ngoại trừ một vài cụm từ, các dòng chữ vẫn giữ nguyên từ đó về sau. Đúng là trên các bảng Babylon, từ ngữ thường được viết theo kiểu âm tiết rõ ràng hơn, nhưng đó là đặc điểm chung của các bản sao Babylon về văn bản lịch sử và văn học. Hơn nữa, trên một số bảng được viết cẩn thận hơn, nhịp thơ được biểu thị bằng cách chia đôi mỗi câu thơ - một cách trình bày không thấy xuất hiện trên bất kỳ bảng Assyria nào. Tuy nhiên, cả các bản sao Assyria lẫn Neo-Babylon đều đại diện cho cùng một “phiên bản” văn bản, và như đã được chỉ ra, có lẽ đều là hậu duệ của một nguyên bản Babylon chung.

Bảng tổng hợp sau đây sẽ cho thấy số lượng bản sao Assyria và Neo-Babylon của từng Bảng trong Bảy Bảng thuộc loạt bài thơ Sáng Thế, mà theo đó bốn mươi chín mảnh văn bản riêng lẻ của văn bản có thể được sắp xếp.

BảngVăn Bản AssyriaVăn Bản Neo-BabylonTrích Dẫn từ Văn Bản Neo-Babylon
IBốn bản sao (số 1, 6, 7, 8, 11). Các số 8 và 11 có khả năng là những phần của cùng một bảng đất sét.Bốn bản sao (số 2, 3, 4, 10, 12). Các số 2 và 10 có khả năng là những phần của cùng một bảng đất sét.Hai bảng luyện tập (số 5, 9).
IIBốn bản sao (số 16, 17, 18, 19). Các số 18 và 19 có lẽ không thuộc về cùng một bảng.Ba bản sao (số 13, 14, 15).
IIIBốn bản sao (số 20, 23, 25, 28). Các số 23 và 25 có lẽ không thuộc về cùng một bảng; tuy nhiên, có khả năng số 23 là một phần của bản sao Bảng II, với văn bản tương ứng từ dòng 13 đến dòng 24.Hai bản sao (số 21, 26).Ba bảng luyện tập (số 22, 24, 27).
IVBa bản sao (số 30, 31, 33, 34). Các số 31 và 34 có khả năng là những phần của cùng một bảng.Một bản sao (số 29).Một bảng luyện tập (số 32).
VBốn hoặc năm bản sao (số 35, 36, 37, 38, 39). Các số 35 và 39 có thể là những phần của cùng một bảng.
VIMột bản sao (số 40).
VIIBốn hoặc năm bản sao (số 41, 43, 45, 46, 47, 48, 49). Các số 41 và 46 có khả năng là những phần của cùng một bảng, và các số 47 và 49 có lẽ là những phần của một bảng khác; có khả năng số 45 cũng thuộc về cùng một bảng với các số 41 và 46.Hai bản sao (số 42, 44).

6.9. Các Bảng Chú Giải Assyria
#

Trong việc sắp xếp và giải nghĩa văn bản của Bảng thứ Bảy, chúng ta nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ một số mảnh vỡ của các bản chú giải Assyria đã được lưu truyền lại. Những bản chú giải này do các ký lục Assyria biên soạn nhằm giải thích nội dung của tác phẩm ấy, và chúng có giá trị rất lớn cho việc nghiên cứu văn bản. Nội dung của các tài liệu này, cùng với mối liên hệ của chúng với văn bản của Bảng thứ Bảy, được trình bày chi tiết trong Phụ lục I.

Tuy nhiên, một vài thông tin liên quan đến kích thước của các bảng đất sét có khắc chú giải, cũng như các lần xuất bản trước đây của một số phần trong đó, có thể được nêu ra một cách thuận tiện tại đây. Loại chú giải quan trọng nhất có hình thức là danh sách song ngữ, và như đã được chỉ ra ở nơi khác, điều này giả định rằng đã từng tồn tại một phiên bản Sumer của một phần văn bản thuộc Bảng thứ Bảy trong bộ Sáng Thế.

Văn bản chú giải được khắc thành một chuỗi các cột đôi; nửa bên trái của mỗi cột liệt kê các từ Sumer hoặc các biểu tượng ý nghĩa, và nửa bên phải, đối diện mỗi từ, là từ tương đương bằng tiếng Assyria. Điều đáng chú ý là danh sách này thường được sắp xếp theo thứ tự mà các từ xuất hiện trong văn bản Assyria của Bảng thứ Bảy. Các cột của bản chú giải được chia thành nhiều ngăn hoặc phần, bằng các đường ngang khắc lên đất sét, và các từ trong mỗi ngăn liên quan đến từng cặp câu hoặc từng dòng riêng biệt của Bảng thứ Bảy.

Trong loại chú giải này, chúng ta hiện có sáu mảnh vỡ thuộc về hai bảng đất sét lớn, vốn được khắc năm hoặc sáu cột đôi ở mỗi mặt; hai bảng này là bản sao của nhau, vì đều được khắc cùng một phiên bản của bản chú giải. Sau đây là phần mô tả sáu mảnh vỡ riêng biệt, thuộc về hai bảng đất sét lớn, được đặt tên lần lượt là A và B:

A

  1. S. II + S. 980+ S. 1,416. For the text, see Vol. II, pls. li-liii and lv; cf. also App. I, pp. 158 ff., 167f. Mảnh vỡ này là phần góc trên bên trái của bảng đất sét; kích thước là 4 x 7 inch. Văn bản của S. II + S. 980 đã được công bố trong V R., bảng 21, số 4. Mảnh vỡ S. 1.416, mà tôi đã ghép nối với hai mảnh kia, trước đây chưa từng được xuất bản.
  2. K. 4,406. For the text, see Vol. II, pls. liv-lv; cf. also App. I, pp. 163 ff. Mảnh vỡ này là phần góc trên bên phải của bảng đất sét; kích thước là 4 1/4 x 4 7/8 inch. Văn bản này đã được công bố trước đó trong II R., bảng 31, số 2.
  3. 82-3-23, 151. For the text, see Vol. II, pl. liv; cf. also App. I, p. 162. Mảnh vỡ này có kích thước 1 3/8 x 2 1/8 inch; trước đây chưa từng được xuất bản.

B

  1. R. 366+80-7-19, 288t-293. For the text, see Vol. II, pls. lvi-lviii; cf. also App. I, pp. 160, 168 f. Mảnh vỡ này nằm ở phía bên trái của bảng đất sét; kích thước là 2 1/8 x 5 1/8 inch. Mảnh R. 366 đã được công bố trong V R., bảng 21, số 3; mảnh 80-7-19, 293 đã được Bezold ghép nối trong Catalogue, trang 1.608. Mảnh thứ ba, 80-7-19, 288, được Zimmern xác định và công bố trong Zeitschrift für Assyriologie, tập xii, trang 401 trở đi.
  2. K. 2,053. For the text, see Vol. II, pls. lix-lx; cf. also App. I, pp. 161, 167 f. Mảnh vỡ này có kích thước 2 3/8 x 2½ inch; từ lâu đã được biết là bản sao của S. II + S. 980 (xem Bezold, Catalogue, trang 396), nhưng văn bản của nó chưa từng được công bố trước đây.
  3. E. 8,299. For the text, see Vol. II, pl. lx; cf. also App. I, p. 162 f. Mảnh vỡ này có kích thước 3 x 1½ inch; trước đây chưa từng được công bố.

Ngoài bản chú giải đã nêu ở trên dưới dạng danh sách song ngữ, chúng ta còn có những mẫu đơn lẻ thuộc về loại thứ hai và thứ ba của văn bản giải nghĩa.

  • Loại thứ hai bao gồm phần chú giải liên tục cho các đoạn được chọn từ những bảng khác trong bộ Sáng Thế, ngoài Bảng thứ Bảy, và được đại diện bởi bảng S. 747.
  • Loại thứ ba, được đại diện bởi mặt trước của bảng K. 2,107 + K. 6,086, đưa ra lời giải thích cho một số danh xưng của Marduk, trong đó có vài danh xưng xuất hiện trong các phần văn bản đã được phục hồi của Bảng thứ Bảy.

Mỗi bản chú giải trong hai loại này cung cấp thông tin về nhiều khía cạnh liên quan đến việc giải nghĩa Bảng thứ Bảy, nhưng như có thể dự đoán, chúng không hấp dẫn bằng sáu mảnh vỡ thuộc loại chú giải đầu tiên.

6.10. Tóm Lại
#

Bản phiên âm của văn bản bộ Sáng Thế, được trình bày trong các chương sau, được tổng hợp từ các bảng đất sét, mảnh vỡ, và trích đoạn; trong đó một số đoạn trong Bảng thứ Bảy đã được phục hồi bằng cách suy đoán dựa trên các bản chú giải Assyria vừa được mô tả. Trong quá trình tái dựng văn bản, người biên soạn thường ưu tiên các cách đọc được tìm thấy trên các bảng Assyria, và các dị bản từ tất cả các bản sao, cả Assyria lẫn Neo-Babylon, đều được ghi chú ở cuối trang.

Các dòng trên mỗi Bảng trong bộ Sáng Thế đều đã được đánh số, và nếu số dòng là suy đoán, thì sẽ được đặt trong dấu ngoặc đơn. Việc đánh số các dòng trong các mảnh vỡ rời rạc được hỗ trợ rất nhiều bởi thực tế là trên nhiều bản sao Neo-Babylon, cứ mỗi mười dòng lại có một ký hiệu “10” ở lề bên trái; tuy nhiên, chỉ trong một số ít trường hợp, vị trí của mảnh vỡ có thể được xác định chính xác dựa trên hình dạng của nó.

Các dòng trên Bảng thứ Hai và thứ Năm đã được đánh số suy đoán lên đến 140. Trên Bảng thứ Sáu, tổng số dòng là 136 hoặc 146; và xét đến việc ký lục của bảng số 92,629 đã tiếp tục khắc văn bản đến tận đáy mặt sau của bảng, thì con số lớn hơn là khả thi hơn. Sau đây là danh sách tổng số dòng được khắc trên từng Bảng trong Bảy Bảng của bộ Sáng Thế:

BảngDòng
I142
II(140)
III138
IV146
V(140)
VI146
VII142

Mặc dù hiện nay đã có thể ước lượng chính xác số dòng trong bộ Sáng Thế, nhưng vẫn còn những khoảng trống đáng kể trong văn bản của một số bảng đất sét.

  • Hai bảng duy nhất mà toàn bộ hoặc phần của mỗi dòng được bảo tồn là Bảng thứ Ba và Bảng thứ Tư.
  • Những khoảng trống, nơi văn bản hoàn toàn bị thiếu, xuất hiện trong Bảng thứ Nhất, dòng 68–82, và trong Bảng thứ Hai, dòng 59–(68).
  • Phần lớn văn bản của Bảng thứ Năm bị thiếu, nhưng bằng cách ước lượng sơ bộ vị trí của mảnh vỡ K. 3,449a, vốn nằm gần trung tâm văn bản, chúng ta xác định được hai khoảng trống: giữa dòng 26 và (66), và giữa dòng (87) và (128).
  • Về Bảng thứ Sáu, chúng ta chỉ có phần mở đầu và kết thúc; phần còn lại của văn bản, từ dòng 22 đến dòng 137, bị thiếu hoàn toàn.
  • Cuối cùng, khoảng trống trong văn bản của Bảng thứ Bảy, từ dòng 47 đến 105, được lấp đầy một phần bởi các mảnh vỡ KK. 12,830, 13,761, 8,519, 13,337, vốn cung cấp tổng cộng khoảng ba mươi chín dòng.

Trên một số bản sao Babylon, nhịp thơ được biểu thị bằng cách chia đôi mỗi câu thơ, và ở bất kỳ bảng nào có đặc điểm này, sự phân chia ấy đều được giữ lại trong bản phiên âm văn bản, trong khả năng có thể. Theo quy tắc của thi ca Babylon, văn bản thường được chia thành các cặp câu (couplet), trong đó câu thứ hai thường vang vọng hoặc bổ sung cho câu thứ nhất; mỗi câu trong cặp được chia làm hai nửa, và mỗi nửa câu có thể được chia nhỏ hơn nữa bằng một âm tiết nhấn mạnh. Sự phân chia bốn phần của mỗi câu thơ sẽ được thể hiện rõ qua bản phiên âm của sáu dòng đầu tiên trong bài thơ, trong đó các phần chia nhỏ của câu được đánh dấu theo hệ thống của các ký lục Babylon, như được tìm thấy trên bảng Sp. ii, 265a:

DòngPhần 1Phần 2Phần 3Phần 4
1f. enumaelishlâ nabûshamamu
2shaplishammatumshumalâ zakrat
3f. Apsûmashzaru-Shun
4mummuTiamatmuallidatgimrishun
5f. -shunuishtenishihîkûma
6gipâralâ kissurasusâshe’i

Có thể thấy rằng câu thứ hai trong mỗi cặp câu thơ tạo sự cân bằng với câu thứ nhất, và dấu ngắt giữa câu - tức phần chia đôi - được thể hiện rõ ràng. Nửa sau của câu thơ thứ ba và nửa đầu của câu thơ thứ năm, mỗi phần chỉ gồm một từ, có thể xem là khá ngắn để phân tích nhịp điệu, nhưng nhịp thơ vẫn được giữ nguyên bằng cách nhấn mạnh phần đầu của từ và xem hậu tố gần như là một từ độc lập. Không cần thiết phải phiên âm thêm phần văn bản của bài thơ theo cách này, vì nhịp thơ đơn giản - hay đúng hơn là tiết tấu - có thể được nhận biết dễ dàng qua bản phiên âm âm tiết được trình bày trong các chương sau.


ENUMA ELISH TOÀN TẬP