Skip to main content

Chương 02: Bình Luận Văn Bản Tân Ước

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Không giống như những phương pháp khác được bàn đến trong sách này, bình luận văn bản không phải là một “tùy chọn” cho những người giải nghĩa Tân Ước. Trong khi các phương pháp khác giả định rằng văn bản đã có sẵn câu chữ, thì bình luận văn bản lại xác định chính câu chữ ấy. Nói cách khác, chúng ta không thể bắt đầu tìm hiểu một đoạn văn có nghĩa gì cho đến khi biết chắc nó nói gì. Thay vì giải nghĩa văn bản, bình luận văn bản quyết định những chữ nào thật sự thuộc về văn bản. Vì lý do này, bình luận văn bản là một môn học nền tảng - thật ra, là môn học nền tảng nhất - cho việc nghiên cứu Tân Ước.

1. VÌ SAO CẦN ĐẾN BÌNH LUẬN VĂN BẢN
#

Chúng ta cần đến môn học này bởi vì chúng ta không có thủ bản gốc của bất kỳ sách nào trong Tân Ước. Điều chúng ta có chỉ là những bản sao được chép lại rất lâu sau nguyên bản, phần lớn là nhiều thế kỷ sau. Những bản sao muộn này không được chép trực tiếp từ thủ bản gốc; chúng được chép từ những bản sao của bản sao của bản sao. Vấn đề với những bản sao muộn này - những bản còn tồn tại đến ngày nay - là chúng đều khác nhau ít nhiều. Bình luận văn bản khảo sát những bản sao chép còn lại ấy - và có hàng ngàn bản như thế - rồi dựa trên những nguyên tắc bình luận đã được xác lập để quyết định nguyên bản thật sự đã nói gì.

Chỉ với sự phát minh ra chữ in rời cách đây năm trăm năm thì mới có thể sản xuất hàng loạt sách vở với độ chính xác tuyệt đối, mỗi bản giống hệt nhau. Trong thời cổ, việc sao chép chính xác tuyệt đối gần như không thể. Khi một tác giả viết sách, ông hoặc bà phải cho chép tay; ai khác muốn có một bản thì phải tự chép hoặc thuê một người chép chuyên nghiệp. Do đó, để lấy một ví dụ từ Tân Ước, ai đã viết sách Tin Lành theo Ma-thi-ơ hẳn đã soạn văn bản cho cộng đồng của mình. Nếu những người khác trong cộng đồng muốn có một bản cho riêng mình, họ phải trải qua quá trình chép tay cực nhọc, từng chữ một. Hoặc nếu một tín hữu từ cộng đồng lân cận muốn có một bản, họ cũng phải làm như vậy. Chúng ta có thể giả định rằng các tín hữu từ nhiều nơi khác nhau thật sự muốn có những bản sao của những tác phẩm quý giá như thế. Điều này dẫn đến sự lan rộng của nhiều bản sao, được chép bởi các tín hữu khác nhau từ nhiều nơi, phần lớn là cá nhân chứ không phải người chép chuyên nghiệp, với khả năng khác nhau cho công việc này.

Khó khăn khi chép tay một bản văn dài như sách Ma-thi-ơ, hoặc ngay cả những bản ngắn hơn, là hầu như không thể làm mà không mắc lỗi. (Ai nghi ngờ điều này thì hãy thử chép tay sách Tin Lành Ma-thi-ơ, một bản văn khoảng ba mươi bốn trang trong Kinh Thánh NRSV của tôi.) Hơn nữa, bất cứ ai chép lại không phải từ nguyên bản, mà từ một bản sao của nguyên bản, thì chẳng những sẽ tạo ra lỗi mới, mà còn sao chép lại những lỗi do người chép trước đã tạo ra. Như thế, lỗi lầm cứ nhân lên từ bản này sang bản khác. Đôi khi, dĩ nhiên, người chép có thể phát hiện một lỗi trong bản sao mình đang dùng (chẳng hạn, khi người chép trước vô tình bỏ sót một chữ hay cả một câu - một việc khá thường gặp trong các bản sao chép của chúng ta). Khi điều này xảy ra, người chép bản mới có thể cố gắng sửa lỗi. Tiếc thay, nếu không có nguyên bản để đối chiếu, thì sự “sửa chữa” ấy có thể không khôi phục lại được cách đọc của nguyên bản, mà lại đưa vào một lỗi mới, rồi sẽ được người chép kế tiếp sao lại. Và cứ thế tiếp diễn. Bản sao của bản sao của bản sao, mỗi bản mang theo lỗi riêng của nó và lỗi của bản mà nó được sao ra.

Hơn nữa, chúng ta biết từ việc nghiên cứu các bản sao chép cổ rằng các lỗi không phải lúc nào cũng là vô tình. Đôi khi những người chép cảm thấy muốn thay đổi bản văn mà họ đọc. Chẳng hạn, những người chép gặp một câu như Ma-thi-ơ 24:36 - câu cho biết rằng chẳng ai, ngay cả Con Đức Chúa Trời, biết khi nào sự cuối cùng sẽ đến - có thể cảm thấy khó chịu trước ý tưởng rằng Chúa Cứu Thế không biết thời điểm Ngài trở lại (điều này đặc biệt gây khó cho những người chép tin chắc rằng Đấng Christ chính là Đức Chúa Trời). Điều này có thể khiến một người chép sửa đổi bản văn. Thật vậy, trong trường hợp này, điều đó thường dẫn đến sự sửa đổi: một số bản sao chép của chúng ta bỏ đi những chữ “ngay cả Con” trong Ma-thi-ơ 24:36. Những người sao chép đã làm sự thay đổi này chắc hẳn xem đó là một “sửa chữa” hay một “cải thiện,” nhưng những nhà bình luận văn bản, vốn quan tâm đến việc biết chính xác Ma-thi-ơ đã viết gì, thì gọi đó là một “sự hư hoại.”

Cho đến đây chúng ta mới chỉ nói cách tổng quát về việc những người chép vô tình hay cố ý sửa đổi các bản văn Tân Ước mà họ sao chép. Nhưng thực tế cụ thể thì sao? Thật sự có nhiều lỗi như thế chăng? Để nhận ra mức độ của vấn đề, vài dữ kiện căn bản có thể hữu ích. Hiện nay, chúng ta có hơn 5.360 bản sao chép toàn bộ hay một phần Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp (ngôn ngữ mà tất cả các sách của Tân Ước nguyên thủy được viết ra). Những bản sao chép này có kích thước từ những mảnh nhỏ bằng thẻ tín dụng cho đến những tập dày bao gồm cả hai mươi bảy sách của Tân Ước. Niên đại của chúng trải dài từ đầu thế kỷ thứ hai cho đến thế kỷ thứ mười sáu (một số bản vẫn được chép tay ngay cả sau khi kỹ thuật in bằng chữ rời đã được phát minh). Điều đáng chú ý là trong hàng ngàn bản sao chép này, ngoại trừ những mảnh nhỏ nhất, không có hai bản nào hoàn toàn giống nhau trong mọi chi tiết.

Chính các bản sao chép ấy cho thấy rõ ràng rằng những người chép đã thay đổi bản văn, và có nhiều thay đổi như thế. Vậy có bao nhiêu khác biệt giữa các bản sao chép còn lại của chúng ta? Dù ước lượng thường đặt con số vào hàng trăm ngàn, không ai biết chính xác vì chưa ai có thể đếm hết. Điều chúng ta có thể nói chắc chắn là số khác biệt giữa các bản sao chép nhiều hơn số chữ trong toàn bộ Tân Ước.

Điều này không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn bế tắc khi tìm cách xác định bản văn nguyên thủy của Tân Ước. Thật ra, phần lớn tuyệt đối những khác biệt trong các bản sao chép của chúng ta là không đáng kể, không liên quan, và dễ giải thích. Lỗi thường gặp nhất là khác biệt về chính tả; nhiều lỗi khác là do vô tình bỏ sót chữ hay cụm từ bởi những người chép bất cẩn.

Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp trong đó cách diễn đạt của một đoạn văn khác biệt đáng kể giữa các bản sao chép của chúng ta, và những khác biệt ấy lại quan trọng cho việc giải nghĩa. Trong những tình huống này, các nhà bình luận văn bản phải cân nhắc các lập luận cho một dạng bản văn so với dạng khác, rồi đưa ra phán quyết xem đâu là bản văn nguyên thủy và đâu là sự hư hoại do người chép về sau gây ra.

Để minh họa tầm quan trọng tiềm tàng của những khác biệt như thế, chúng ta có thể xét đến vài ví dụ nổi tiếng và đáng chú ý.

  • Tác giả sách Tin Lành Mác có kết thúc câu chuyện ở 16:8 với việc những người đàn bà bỏ chạy khỏi mộ trống của Chúa Giê-xu trong sợ hãi, chẳng nói gì với ai về điều họ đã thấy? Hay tác giả đã viết thêm mười hai câu cuối được tìm thấy trong một số bản sao chép nhưng lại vắng trong những bản khác, những câu trong đó Chúa Giê-xu phục sinh hiện ra với các môn đồ và phán rằng những ai tin Ngài sẽ có thể cầm rắn độc và uống thuốc độc mà không bị hại?

  • Tác giả sách Tin Lành thứ tư có viết câu chuyện nổi tiếng về người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm, hay đó là một sự thêm vào về sau bởi một người chép có thiện ý? Câu chuyện này xuất hiện trong nhiều bản sao chép muộn giữa chương 7 và 8, nhưng không có trong bất kỳ bản sao chép sớm nào.

  • Tại lễ báp-têm của Chúa Giê-xu trong sách Tin Lành Lu-ca, tiếng phán từ trời nguyên thủy có nói: “Ngươi là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đường” (chính xác như lời trong sách Mác), hay là: “Ngươi là Con ta, ngày nay ta đã sanh ngươi” (như cách diễn đạt trong một số bằng chứng văn bản sớm nhất)? Bản văn sau, vốn là trích dẫn Thi Thiên 2, đã được chấp nhận bởi nhiều Cơ-đốc nhân ở thế kỷ thứ hai, là những người chối bỏ thần tính của Chúa Giê-xu bằng cách khẳng định rằng Ngài chỉ được “nhận làm” Con của Đức Chúa Trời tại lễ báp-têm.

  • Cuối cùng, tác giả thư I Giăng có bao gồm “Johannine comma” nổi tiếng (5:7–8), đoạn duy nhất trong toàn bộ Kinh Thánh khẳng định rõ ràng quan điểm Ba Ngôi của các Cơ-đốc nhân về sau - rằng Đức Chúa Trời gồm ba ngôi vị và “ba ngôi ấy là một” chăng? Dù đoạn này có trong Kinh Thánh tiếng La-tinh và đã đi vào bản King James Version, nó không xuất hiện trong bất kỳ bản sao chép bằng tiếng Hy Lạp nào của Tân Ước trước thế kỷ thứ mười bốn.

2. LÝ THUYẾT VÀ THỰC HÀNH CỦA BÌNH LUẬN VĂN BẢN
#

Vì tất cả các bản sao chép còn lại của chúng ta đều có lỗi, nên các học giả phải quyết định cách diễn đạt nguyên thủy của bản văn từng trường hợp một. Tiến trình đưa ra quyết định này dựa trên toàn bộ bằng chứng thường được gọi là phương pháp “tổng hợp.” Nói đơn giản, bằng chứng văn bản được phân loại hoặc là “ngoại tại” - nghĩa là dựa trên loại bản sao chép nào ủng hộ cách đọc này hay cách đọc kia; hoặc là “nội tại” - nghĩa là dựa trên khả năng một cách đọc xuất phát từ tác giả nguyên thủy hay từ một lỗi do người chép đưa vào.

2.1. Bằng Chứng Ngoại Tại
#

Vì cách duy nhất mà chúng ta tiếp cận lời của các tác giả Tân Ước là qua những bản sao chép có lỗi của họ, nên điều quan trọng là phải hiểu các nhà bình luận dùng những bằng chứng trong các tài liệu này thế nào khi cố gắng tái dựng bản văn nguyên thủy. Trước hết cần biết về các loại bằng chứng bản sao chép hiện có.

a. Các bản sao chép Hy Lạp
#

Hơn 5.360 bản sao chép bằng tiếng Hy Lạp của toàn bộ hay một phần Tân Ước có niên đại, như chúng ta đã thấy, từ đầu thế kỷ thứ hai cho đến thế kỷ thứ mười sáu. Tuy nhiên, rất ít bản thuộc thời kỳ sớm, tức là trước khoảng năm 400.

Các bản sao chép Hy Lạp thường được chia thành ba loại chính.

  • Các bản papyri, tức là những bản viết trên giấy cói, là những bằng chứng văn bản sớm nhất hiện có, phần lớn có niên đại từ thế kỷ thứ hai đến thế kỷ thứ năm;

  • Các bản majuscules được viết trên da thuộc hoặc da dê bằng chữ uncial - tương tự như chữ “in hoa” trong tiếng Anh - từ khoảng thế kỷ thứ tư đến thế kỷ thứ chín;

  • Các bản minuscules được viết trên da thuộc hoặc da dê, nhưng bằng chữ nhỏ - tương tự như chữ “in thường” trong tiếng Anh - từ sau thế kỷ thứ chín.

b. Các bản dịch sớm
#

Ngoài những bằng chứng văn bản Hy Lạp, chúng ta còn có một số lượng lớn các bản sao chép Tân Ước bằng những ngôn ngữ khác. Từ thế kỷ thứ hai trở đi, các tín hữu đã nhận thấy nhu cầu dịch Kinh Thánh sang những ngôn ngữ khác cho những người không đọc hay nói tiếng Hy Lạp. Những bản dịch sớm nhất có lẽ là sang tiếng Syriac và tiếng La-tinh, có thể từ cuối thế kỷ thứ hai hoặc đầu thế kỷ thứ ba; sau đó Tân Ước được dịch sang tiếng Coptic, và cuối cùng sang tiếng Armenian, Ethiopic, Georgian, Gothic, cùng các ngôn ngữ khác. Giống như Tân Ước Hy Lạp, mỗi bản dịch này còn lại trong nhiều bản sao chép, và tất cả, một lần nữa, đều có vẻ chứa lỗi.

Người ta có thể so sánh các bản sao chép khác nhau của bất kỳ bản dịch nào để xác định hình thức sớm nhất của bản dịch ấy, rồi lấy hình thức đó dịch ngược lại sang tiếng Hy Lạp, và trên cơ sở đó quyết định dạng bản văn Hy Lạp nào đã có sẵn cho dịch giả nguyên thủy. Dĩ nhiên, đây là một tiến trình khó nhọc và mang tính học thuật, nhưng nó đem lại những kết quả hữu ích cho các học giả vốn quan tâm đến việc biết những bản sao chép Hy Lạp nào đã có trong thời kỳ sớm khi các bản dịch được thực hiện - một thời kỳ mà, tiếc thay, rất ít bản sao chép Hy Lạp thực sự còn tồn tại.

c. Các trích dẫn của Giáo phụ
#

Sau cùng, chúng ta có rất nhiều tác phẩm Cơ-đốc từ thế kỷ thứ hai trở đi; các tác giả của những tác phẩm này thường xuyên trích dẫn Tân Ước, khiến cho về lý thuyết có thể tái dựng cách diễn đạt của những bản sao chép mà chính họ đã dùng. Loại bằng chứng ngoại tại này đặc biệt đầy bất định, vì không phải lúc nào cũng dễ phân biệt một tác giả đang trích dẫn nguyên văn hay chỉ đang diễn ý; hơn nữa, những tác phẩm sớm này cũng chỉ được truyền lại cho chúng ta qua các bản sao chép do những người chép về sau sao lại, và đôi khi họ đã thay đổi các trích dẫn trong văn bản để phù hợp với cách diễn đạt của Kinh Thánh mà chính họ biết. Tuy nhiên, khi loại bằng chứng này được nghiên cứu cẩn thận, nó có thể trở nên rất giá trị; khác với những người chép của các bản sao chép Hy Lạp còn lại và các bản dịch sớm, các tác giả giáo phụ có thể được xác định rõ ràng về thời gian và địa điểm. Chúng ta biết chính xác phần lớn họ sống ở đâu và khi nào; vì vậy, những trích dẫn của họ có thể cho thấy với mức độ chắc chắn tương đối cách bản văn Tân Ước đã bị thay đổi trong những thời kỳ và địa điểm khác nhau.

Làm thế nào để những dữ kiện rời rạc này được dùng nhằm xác định bản văn nguyên thủy ở những chỗ có khác biệt giữa các bằng chứng văn bản? Qua nhiều năm, các học giả đã xây dựng một số nguyên tắc bình luận, trong đó có những nguyên tắc hữu ích hơn những nguyên tắc khác. Những nguyên tắc này có thể được diễn đạt dưới dạng những câu hỏi mà một nhà bình luận văn bản sẽ đặt ra cho một đoạn văn được chứng thực theo nhiều cách khác nhau giữa các bằng chứng văn bản.

  1. Có bao nhiêu bằng chứng văn bản ủng hộ mỗi cách đọc?

Đối với một số nhà bình luận, đây là câu hỏi quan trọng nhất; những người khác thì lại hoàn toàn bỏ qua. Những người ủng hộ nguyên tắc này lập luận rằng nếu một đoạn văn được diễn đạt theo cùng một cách trong ba trăm bản sao chép nhưng lại khác đi trong chỉ ba bản, thì nhiều khả năng bản văn đa số là nguyên thủy, còn ba bằng chứng văn bản kia chỉ đơn giản đã chứa một lỗi.

Vấn đề với lối suy luận này là nó bỏ qua một đặc điểm quan trọng của bằng chứng bản sao chép. Tất cả các bằng chứng văn bản của chúng ta đều được sao chép từ những bản khác. Giả sử vào một thời điểm nào đó trong thế kỷ thứ hai có hai bản sao chép với cách đọc khác nhau cho một câu. Một bản ở một vùng xa xôi và được sao chép ba lần trước khi bị hủy trong một trận hỏa hoạn. Bản kia ở một đô thị lớn với số lượng Cơ-đốc nhân đông đảo; nó được sao chép ba mươi lần, và mỗi bản sao từ nó lại được sao chép mười lần. Kết quả là sẽ có ba trăm lẻ một bản sao chép với một cách đọc và ba bản với cách đọc kia. Điều đó có nghĩa là ba trăm lẻ một bản đúng còn ba bản sai chăng? Không nhất thiết! Thật ra, sự khác biệt về số lượng bằng chứng văn bản cho hai cách đọc không phải là ba trăm lẻ một so với ba, mà là một so với một. Mỗi cách đọc đều bắt nguồn từ một bản sao chép duy nhất của cùng một thời kỳ. Vì lý do này, chỉ đơn giản đếm số lượng bản sao chép ủng hộ một cách đọc không phải là phương pháp tốt nhất để quyết định bản văn nguyên thủy.

  1. Cách đọc nào được bằng chứng văn bản cổ nhất ủng hộ?

Cùng một minh họa cho thấy tầm quan trọng của việc biết niên đại của các bằng chứng văn bản ủng hộ mỗi cách đọc khác nhau. Nếu có hai trăm bản sao chép từ thế kỷ thứ năm đến thế kỷ thứ mười sáu với một dạng bản văn, nhưng lại có hai bản từ thế kỷ thứ ba với dạng khác, thì dạng được hai bản kia ủng hộ có thể vượt trội hơn dạng được hai trăm bản kia giữ lại. Lý luận ở đây là vì các bản sao chép càng về sau càng dễ bị hư hoại (do người chép sao lại lỗi của người đi trước cũng như tạo ra lỗi mới của riêng mình), nên các bản sao chép sớm thường tốt hơn các bản muộn.

Dù lập luận này nhìn chung là đúng, nó cũng không hoàn toàn chắc chắn. Giả sử có hai bản sao chép với hai dạng bản văn khác nhau, một từ thế kỷ thứ ba và một từ thế kỷ thứ năm. Một nhà bình luận có thể tự nhiên nghĩ rằng bằng chứng văn bản thế kỷ thứ ba vượt trội hơn vì nó cổ hơn. Nhưng chúng ta không phải lúc nào cũng chắc chắn về niên đại của bản gốc mà mỗi bản sao chép dựa vào, tức là bản sao mà người chép đã dùng để tạo ra bản sao chép của nó. Chẳng hạn, hoàn toàn có khả năng bản sao chép thế kỷ thứ ba dựa trên một bản đã được làm mười năm trước đó, vẫn trong thế kỷ thứ ba, trong khi người chép bản sao của thế kỷ thứ năm lại có trong tay một bản rất cổ được lưu giữ trong thư viện hội thánh của ông, chẳng hạn từ thế kỷ thứ hai. Trong trường hợp này, thật trớ trêu, bản sao chép thế kỷ thứ năm sẽ tái hiện một dạng bản văn cổ hơn bản sao chép thế kỷ thứ ba! Vì lý do này, dù niên đại của một bản sao chép có thể quan trọng trong việc xác định chất lượng bản văn của nó, nhưng nó tuyệt đối không phải là một chỉ dẫn chắc chắn.

  1. Bằng chứng phân bố địa lý của mỗi cách đọc có rộng không?

Ít phức tạp hơn là vấn đề phân bố địa lý của một cách đọc. Nguyên tắc ở đây có thể được diễn đạt đơn giản. Nếu các bản sao chép ủng hộ hai dạng khác nhau của một đoạn văn, với một dạng chỉ giới hạn trong các bằng chứng văn bản được sao chép ở một vùng địa lý duy nhất (chẳng hạn như Ý), trong khi dạng kia lại xuất hiện trong các bằng chứng văn bản rải khắp vùng Địa Trung Hải (ví dụ: Bắc Phi, Alexandria, Sy-ri, Tiểu Á, xứ Gaul, và Tây Ban Nha), thì dạng thứ nhất nhiều khả năng chỉ là một biến thể địa phương được người chép trong vùng ấy sao lại, còn dạng kia nhiều khả năng cổ hơn vì được biết đến rộng rãi hơn. Nếu các bằng chứng văn bản ủng hộ một cách đọc vừa sớm vừa phân bố rộng, thì có thể lập luận mạnh mẽ rằng cách đọc ấy là nguyên thủy.

  1. “Chất lượng” của các bằng chứng văn bản ủng hộ ra sao?

Giống như trong một phiên tòa, có những bằng chứng văn bản đáng tin cậy hơn những bằng chứng văn bản khác. Nguyên tắc tổng quát của bằng chứng ngoại tại là: những bằng chứng văn bản được biết đến là tạo ra bản văn kém - khi trường hợp có thể được xác định với mức độ chắc chắn cao (dựa trên bằng chứng “nội tại” sẽ được bàn đến bên dưới) - thì cũng có khả năng tạo ra bản văn kém ở những chỗ mà bằng chứng nội tại mơ hồ hơn. Các bằng chứng văn bản, giống như con người, có thể đáng tin hoặc đáng nghi ngờ, và qua nhiều năm nghiên cứu cẩn thận, các học giả đã xác định rằng một số bản sao chép (chẳng hạn một số papyri, và một số majuscules như codex B) có thể được tin cậy hơn những bản khác.

  1. “Nhóm” bằng chứng văn bản nào ủng hộ các cách đọc khác nhau?

Các học giả từ lâu đã nhận thấy rằng một số bản sao chép có liên hệ chặt chẽ với nhau, theo nghĩa là chúng thường ủng hộ cùng một cách diễn đạt của bản văn trong nhiều đoạn. Do đó, các bằng chứng văn bản có thể được nhóm lại dựa trên sự giống nhau của chúng. Ngày nay có ba nhóm chính được công nhận rộng rãi:

  • Nhóm “Alexandrian,” bao gồm phần lớn những bản sao chép sớm nhất và “tốt nhất” xét theo chất lượng tổng thể, có thể bắt nguồn từ dạng bản văn được bảo tồn trong giới học giả tại Alexandria, Ai Cập;

  • Nhóm “Western,” vốn được đặt tên sai vì một số bản lại xuất phát từ phương Đông, là những bản sao chép liên hệ với codex D trong các sách Tin Lành và Công Vụ, dường như giữ lại một dạng bản văn sớm nhưng nhìn chung không đáng tin cậy;

  • Nhóm “Byzantine,” bao gồm phần lớn các bản sao chép muộn, hầu như đều được các học giả đánh giá là giữ một dạng bản văn kém.

Nguyên tắc chung cho hầu hết các nhà bình luận là: những cách đọc chỉ được chứng thực trong nhóm Byzantine hoặc chỉ trong nhóm Western thì rất đáng nghi ngờ, trong khi những cách đọc được tìm thấy trong nhóm Alexandrian thường được xem là đáng tin hơn, nhất là khi chúng cũng được chứng thực bởi các bằng chứng văn bản thuộc hai nhóm kia.

Tóm lại, thường thì số lượng bản sao chép ủng hộ một cách đọc nào đó không quan trọng (trừ khi chỉ có một bằng chứng văn bản duy nhất, trong trường hợp đó hầu như luôn có thể nghi ngờ rằng một người chép riêng lẻ đã mắc lỗi). Điều quan trọng hơn nhiều là biết niên đại của các bằng chứng văn bản ủng hộ: càng cổ càng tốt. Nhưng điều còn quan trọng hơn nữa là sự phân bố địa lý, chất lượng tổng thể, và nhóm văn bản của các bằng chứng văn bản ủng hộ một cách đọc. Những cách đọc được tìm thấy trong các bản sao chép cổ nhất, phổ biến rộng rãi nhất, và tốt nhất thì nhiều khả năng là nguyên thủy hơn các biến thể khác.

2.2. Bằng Chứng Nội Tại
#

Với bằng chứng “nội tại” chúng ta chuyển từ việc xem xét sức mạnh của sự ủng hộ bản sao chép cho một cách đọc sang việc đánh giá giá trị của các cách đọc khác nhau tự thân nó. Nếu một câu được tìm thấy trong hai hay nhiều dạng khác nhau trong truyền thống bản sao chép, thì dạng nào có thể được xem là sự hư hoại? Và dạng nào là nguyên thủy? Vì đây là hai câu hỏi khác nhau - dù cuối cùng dẫn đến cùng một kết quả - các học giả đã xác định hai loại bằng chứng nội tại căn bản. Loại thứ nhất xét đến “khả năng sao chép,” bằng cách hỏi xem cách đọc nào có nhiều khả năng hấp dẫn đến mối quan tâm và ý hướng của người chép (và do đó đã được họ tạo ra khi họ “chép lại,” và đôi khi thay đổi, bản văn); loại kia xét đến “khả năng nội tại” bằng cách hỏi xem cách đọc nào dường như phù hợp hơn với ngôn ngữ, văn phong, và thần học của tác giả Tân Ước, và do đó tự thân có nhiều khả năng là nguyên thủy hơn.

Trước hết chúng ta xét đến một loạt vấn đề liên quan đến khả năng sao chép. Như đã nói, phần lớn những thay đổi trong các bản sao chép của chúng ta không phải do sự cố ý sửa đổi của người chép, mà chỉ đơn giản là những tai nạn trong quá trình chép, chẳng hạn do mệt mỏi hay bất cẩn. Khả năng sao chép có thể được dùng để xác định những chỗ mà các thay đổi loại này đã xảy ra. Ngoài những lỗi chính tả, một trong những loại lỗi sao chép thường gặp nhất là vô tình bỏ sót chữ, cụm từ, hay thậm chí cả dòng. Loại lỗi này hoàn toàn dễ hiểu: việc chép một bản văn Hy Lạp vừa chậm vừa khó nhọc, lại phải làm từ những bản gốc thường khó đọc. Các bản sao chép Hy Lạp cổ nhất không có dấu câu hay phân đoạn; thật ra, thậm chí không có khoảng cách giữa các chữ. Do đó, khi người chép sao một chữ hay một cụm từ, mắt của ông đôi khi trở lại trang ở chỗ sai - chẳng hạn, dừng lại ở cùng một chữ được lặp lại sau đó trong câu. Khi tiếp tục chép từ điểm ấy, người chép vô tình bỏ sót toàn bộ phần văn bản nằm giữa hai lần xuất hiện của chữ đó. Chúng ta có những trường hợp người chép bỏ sót không chỉ cụm từ và dòng theo cách này, mà cả những trang nguyên vẹn!

Ngược lại, nếu mắt của người chép trở lại trang ở một lần xuất hiện sớm hơn của một chữ, ông có thể vô tình lặp lại tất cả những gì mình đã chép. Dù những loại lỗi vô tình này thật thú vị vì cho thấy việc chép văn bản khó khăn đến mức nào, nhưng nhìn chung chúng không quan trọng trong việc xác định bản văn nguyên thủy. Chúng có thể dễ dàng được phát hiện và loại bỏ như những sự hư hoại.

Thú vị hơn nhiều là những thay đổi mà dường như người chép đã làm một cách cố ý. Dựa trên cả lẽ thường lẫn dữ liệu thực tế, các học giả đã chứng minh rằng người chép có xu hướng tạo ra một số loại cách đọc nhất định hơn là những loại khác. Nghĩa là, khi người chép thay đổi bản văn, họ dường như đã làm theo những cách có thể nhận ra được. Nguyên tắc căn bản trong khả năng sao chép là câu châm ngôn nổi tiếng, thoạt đầu có vẻ hơi ngược đời: “Cách đọc khó hơn thì được ưu tiên xem là nguyên thủy.” Lý luận đằng sau nguyên tắc này là: những người chép Cơ-đốc, vốn có lợi ích gắn bó với các bản văn họ sao chép, thường có xu hướng làm cho một đoạn văn dễ hiểu hơn chứ không khó hiểu hơn. Nghĩa là, nếu và khi người chép thật sự suy nghĩ về việc mình đang làm, thì trung bình họ có nhiều khả năng tạo ra một bản văn có ý nghĩa rõ ràng hơn là một bản văn khó hiểu.

Một nghiên cứu cẩn thận về các bản sao chép Tân Ước cho thấy rằng người chép thường xuyên thực hiện nhiều loại thay đổi để “cải thiện” ý nghĩa của bản văn. Giống như nhiều tín hữu ngày nay, người chép thường bối rối hoặc khó chịu trước sự hiện diện của những đoạn song song trong Tân Ước, đặc biệt là trong các sách Tin Lành, nơi cùng một câu chuyện lại được diễn đạt theo những cách khác nhau (đôi khi mâu thuẫn). Khi người chép quen thuộc hơn với một bản văn trong một sách Tin Lành nào đó, họ đôi khi sửa đổi bản văn của những sách khác để làm cho chúng giống nhau từng chữ. Chẳng hạn, trong Lu-ca 3:16, Giăng Báp-tít tuyên bố: “Ta làm phép báp-têm cho các ngươi bằng nước.” Một số người chép dường như quen thuộc với lời tuyên bố dài hơn của Giăng trong Ma-thi-ơ 3:11, và đã thêm cụm từ cuối thích hợp vào bản sao của Lu-ca để Giăng nói rõ ràng hơn: “Ta làm phép báp-têm cho các ngươi bằng nước để ăn năn.” Ba câu sau đó, chúng ta đọc thấy việc Giăng quở trách Hê-rốt “vì cớ Hê-rô-đia, vợ của anh người.” Một số bản sao chép đã chỉnh cho giống với đoạn song song trong Mác 6:17 và Ma-thi-ơ 14:3 bằng cách thêm tên của người anh. Bản văn được điều chỉnh nay có Giăng quở trách Hê-rốt “vì cớ Hê-rô-đia, vợ của anh Phi-líp.”

Đôi khi người chép thay đổi một câu bằng cách làm cho nó giống với một cụm từ vốn không có trong đoạn song song, nhưng lại quen thuộc trong cách dùng phổ biến của Cơ-đốc nhân. Chẳng hạn, điều này xảy ra trong Lu-ca 3:10, khi đoàn dân hỏi Giăng: “Vậy chúng tôi phải làm gì?” Một số người chép, có lẽ theo bản năng phản ánh sự quen thuộc của họ với cảnh nổi tiếng về viên cai ngục thành Phi-líp trong Công Vụ 16:30, đã thêm một mệnh đề mà họ cho là tự nhiên, để giờ đây Giăng được hỏi: “Vậy chúng tôi phải làm gì để được cứu?

Đôi khi người chép thêm một chi tiết sinh động hoặc một cách diễn đạt hùng biện vào bản văn họ sao chép. Một ví dụ xảy ra trong một bản sao chép, codex D nổi tiếng, ở Lu-ca 3:16. Tại đây, thay vì ghi rằng “Giăng đáp, nói cùng mọi người,” bản văn lại diễn đạt ấn tượng hơn: “Giăng, biết điều họ đang nghĩ, bèn nói…” Thường xuyên hơn nữa, người chép đôi khi “cải thiện” một đoạn bằng cách thay đổi ngữ pháp. Điều này đặc biệt phổ biến trong những đoạn giữ lại cú pháp Hy Lạp bất thường hoặc sai, nhưng cũng xảy ra ở những chỗ mà sự thay đổi dường như chỉ giúp cho ý nghĩa rõ ràng hơn. Trong lời trích dẫn Ê-sai 40 ở Lu-ca 3:5, Giăng nói rằng “các đường quanh quẹo sẽ làm thành đường thẳng.” Chữ “đường” thật ra không có trong bản văn Hy Lạp, nhưng giống như những chỗ khác có tính từ “thẳng,” nó phải được thêm vào trong các bản dịch tiếng Anh từ ngữ cảnh. Khó khăn là ở chỗ tính từ (“thẳng”) thì số ít, còn danh từ đi trước nó lại số nhiều (“các đường quanh quẹo”). Ngữ pháp không sai, nhưng dường như đã làm một số người chép bối rối, nên họ đã thay đổi bản văn đơn giản bằng cách làm cho tính từ cũng ở số nhiều, để các đường quanh queo không biến thành một đường thẳng duy nhất, mà thành “các đường thẳng.”

Có lẽ những loại thay đổi thú vị nhất mà người chép đã thực hiện trong bản văn là những thay đổi mang tính thần học. Đôi khi người chép sửa đổi bản văn để loại bỏ một chỗ gây khó khăn về giáo lý (như trong Ma-thi-ơ 24:36, đã đề cập ở trên), hoặc để thêm vào một ý niệm có ý nghĩa thần học. Động cơ này có thể nằm sau sự thay đổi mà một số người chép bản Syriac của Lu-ca 3:4 đã làm. Trong những bản sao chép này, thay vì ghi rằng “Hãy dọn đường cho Chúa, sửa đường Ngài cho thẳng,” thì Giăng được nói là đã rao: “Hãy dọn đường cho Chúa, sửa đường của Đức Chúa Trời chúng ta cho thẳng.” Cách đọc đã được sửa đổi này thật đáng chú ý vì nó làm cho lời rao của Giăng phù hợp hơn với đoạn Ê-sai 40 mà ông trích dẫn. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là cách bản văn đã sửa đổi này hoạt động trong bối cảnh sách Tin Lành Lu-ca. Trong bản văn nguyên thủy, Giăng được mô tả là công bố sự đến của Chúa Giê-xu, tức là Chúa. Nhưng đối với những người chép các bản Syriac này, Chúa Giê-xu không chỉ là Chúa; Ngài giờ đây được gọi là “Đức Chúa Trời chúng ta.”

Xét đến những loại thay đổi mà người chép dường như có khả năng thực hiện (không chỉ dựa trên lẽ thường mà còn trên bằng chứng mà chúng ta có), khả năng sao chép có thể được trình bày như những nguyên tắc hướng dẫn để quyết định cách đọc nào là sự hư hoại và cách đọc nào là bản văn nguyên thủy. Người chép có nhiều khả năng làm cho hai đoạn song song giống nhau hơn là khác nhau; họ có nhiều khả năng làm cho một đoạn thêm sinh động hơn là bớt đi; họ có nhiều khả năng cải thiện ngữ pháp của một đoạn hơn là làm nó tệ hơn; họ có nhiều khả năng làm cho một đoạn phù hợp với quan điểm thần học của họ hơn là mâu thuẫn với nó. Do đó, nhà bình luận văn bản có thể áp dụng một nguyên tắc chung khi xét đến khả năng sao chép: cách đọc khó hơn - nghĩa là cách đọc ít được điều chỉnh cho giống nhau, ít sinh động, ít đúng ngữ pháp, hoặc ít “chính thống” về thần học - thì được ưu tiên xem là nguyên thủy.

Trong khi xét đến khả năng sao chép, chúng ta hỏi cách đọc nào có nhiều khả năng được tạo ra bởi người chép trong tiến trình sao chép, thì khi xét đến khả năng nội tại, chúng ta hỏi cách đọc nào có nhiều khả năng được tạo ra bởi chính tác giả của sách Tân Ước, nghĩa là cách đọc nào phù hợp với ngôn ngữ, văn phong, và thần học của tác giả. Những câu hỏi được đặt ra bởi sự cân nhắc này gần gũi hơn với các vấn đề truyền thống của việc giải nghĩa. Câu hỏi đầu tiên là về ngôn ngữ. Một trong những cách để xác định tác giả của các bản văn cổ là dựa trên sở thích về từ vựng của người viết, khi điều này có thể được biết. Chẳng hạn, các Thư Tín Mục vụ thường được đánh giá là không phải của Phao-lô, phần lớn vì chúng có số lượng quá nhiều những từ xuất hiện trong đó nhưng không hề có trong các thư khác Phao-lô, là những thư không bị tranh cãi (hơn một phần ba toàn bộ từ vựng của các Thư Tín Mục vụ). Những lập luận tương tự có thể được áp dụng cho các vấn đề bình luận văn bản. Nếu có hai cách đọc khác nhau của một đoạn, với một cách chứa những từ đặc trưng của một tác giả và cách kia chứa những từ không hề xuất hiện trong các tác phẩm khác của tác giả ấy, thì cách sau ít có khả năng là nguyên thủy.

Tương tự với các lập luận về văn phong. Mỗi tác giả đều có một cách diễn đạt đặc trưng. Hơn nữa, hầu hết thời gian, những quy ước về văn phong phần nào là vô thức. Chẳng hạn, rất hiếm khi tác giả suy nghĩ nhiều về loại mệnh đề phụ hay liên từ mà họ dùng, hoặc về độ dài điển hình của câu văn. Một khi một người đã phát triển năng lực văn chương, thì những hình thức văn phong này đến một cách tự nhiên. Vì mỗi người đều có văn phong hơi khác nhau, nên đôi khi có thể nhận ra dấu vết của một người biên tập khi tác phẩm của một tác giả đã bị người khác sửa đổi. Nguyên tắc căn bản này đem lại ích lợi cho bình luận văn bản. Đôi khi xảy ra trường hợp một đoạn xuất hiện trong hai dạng khác nhau trong truyền thống bản sao chép của chúng ta, với một dạng phù hợp với văn phong được chứng thực ở những chỗ khác của một tác giả, còn dạng kia thì không. Trong những trường hợp như thế, khả năng nội tại nghiêng về cách đọc thứ nhất.

Sau cùng, và có lẽ là quan trọng nhất, mỗi tác giả của một sách Tân Ước đều có một quan điểm thần học riêng biệt, mà về lý thuyết có thể được khám phá qua sự giải nghĩa cẩn thận các tác phẩm của họ. Có những trường hợp, đặc biệt trong một số dị bản có ý nghĩa lớn về mặt giải nghĩa được lưu giữ trong truyền thống bản sao chép, trong đó các cách đọc khác nhau lại ủng hộ những quan điểm thần học khác nhau. Khả năng nội tại đòi hỏi rằng quan điểm thần học nào phù hợp nhất với quan điểm có thể được xác định từ tác giả thì nhiều khả năng là nguyên thủy.

Tóm lại, các nhà bình luận văn bản không chỉ quan tâm đến việc xác định cách đọc nào có nhiều khả năng đã hấp dẫn (và do đó được tạo ra bởi) người chép, mà còn phải xác định cách đọc nào có nhiều khả năng đã được tạo ra bởi chính các tác giả của các sách Tân Ước. Khả năng nội tại liên quan đến việc xác định bản văn nguyên thủy dựa trên ngôn ngữ, văn phong, và thần học của một tác giả nhất định.

3. ÁP DỤNG CÁC NGUYÊN TẮC
#

Tại điểm này trong cuộc thảo luận, một độc giả tinh ý có thể thắc mắc điều gì xảy ra khi những loại bằng chứng khác nhau mà chúng ta đã bàn đến lại mâu thuẫn với nhau, hoặc trong trường hợp tệ nhất, dường như phủ định lẫn nhau. Chẳng hạn, nhà bình luận văn bản phải làm gì khi cách đọc phù hợp nhất với ngôn ngữ và văn phong của một tác giả (và do đó có nhiều khả năng là nguyên thủy dựa trên khả năng nội tại) lại cũng là cách đọc được điều chỉnh gần nhất cho giống với một đoạn song song (và do đó ít có khả năng là nguyên thủy dựa trên khả năng sao chép)? Hoặc, mở rộng câu hỏi hơn nữa, các nhà bình luận giải quyết thế nào khi bằng chứng ngoại tại rõ ràng nghiêng về một phía, còn bằng chứng nội tại lại nghiêng về phía kia?

Chúng ta thật may mắn vì không phải đối diện với hàng ngàn trường hợp như thế. Thật ra, hầu như ai làm việc trong lĩnh vực này cũng thừa nhận rằng phần lớn các vấn đề văn bản đều dễ dàng được giải quyết, đến mức có sự đồng thuận về đa số các dị bản được lưu giữ trong các bản sao chép của chúng ta. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là không còn vấn đề quan trọng nào. Trái lại, nhiều vấn đề còn lại là quan trọng; trong hầu hết trường hợp, chúng vẫn tiếp tục là vấn đề chính vì các học giả bất đồng về cách đánh giá những loại bằng chứng khác nhau. Theo sự hiểu biết của tôi, tất cả các học giả bình luận văn bản ngày nay đều thừa nhận rằng lời tuyên bố về Ba Ngôi được tìm thấy trong “Johannine comma” (I Giăng 5:7–8) không phải là nguyên thủy của thư tín. Hơn nữa, phần lớn đều đồng ý rằng mười hai câu cuối trong nhiều bản sao chép (và các bản dịch tiếng Anh) của Mác là một sự thêm vào về sau, cũng như câu chuyện người đàn bà phạm tội tà dâm trong các bản sao chép muộn của Giăng. Tuy nhiên, có ít học giả hơn sẵn sàng thừa nhận rằng tiếng phán tại lễ báp-têm của Chúa Giê-xu trong Lu-ca đã nói: “Ngày nay ta đã sanh ngươi.” Trong trường hợp này, bằng chứng không rõ ràng, và các học giả cân nhắc những loại lập luận khác nhau theo cách khác nhau.

Điều này có nghĩa là bình luận văn bản không phải là một loại khoa học khách quan (như thể bất kỳ ngành lịch sử nào có thể như thế!), mà là việc đánh giá bằng chứng lịch sử một cách có lương tâm và hợp lý nhất có thể. Các lập luận phải được đưa ra cho bản văn nguyên thủy từng trường hợp một, khi các học giả chọn ưu tiên cách đọc được tìm thấy trong một số bản sao chép hơn là trong những bản khác. Lý tưởng nhất, các quyết định sẽ dựa trên một lập luận tổng hợp, chú trọng đến những vấn đề nặng ký nhất của một trường hợp. Chúng ta có thể minh họa tiến trình này bằng cách đánh giá kỹ hơn hai vấn đề văn bản được tìm thấy trong Lu-ca 3:1–20.

Chúng ta đã thấy rằng một vấn đề thần học đã được đặt ra khi Lu-ca 3:4 bị thay đổi từ “Sửa đường Ngài cho thẳng” thành “Sửa đường của Đức Chúa Trời chúng ta cho thẳng.” Bản văn sau nhấn mạnh thần tính của Đấng Christ theo cách đặc biệt phù hợp với những người chép Cơ-đốc thời kỳ đầu. Nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện, và có thể có một số bằng chứng ngược lại, vì bản văn ngắn hơn (“đường Ngài”), mà tôi đã lập luận là nguyên thủy, cũng được tìm thấy trong các đoạn song song ở Mác 1:3 và Ma-thi-ơ 3:3. Hơn nữa, bản văn dài hơn, mà tôi cho rằng hấp dẫn về mặt thần học đối với người chép, lại phù hợp hơn với Ê-sai 40:3, câu được trích dẫn ở đây. Vì nó trung thành hơn với bản văn Cựu Ước và ít được điều chỉnh cho giống với các sách Tin Lành Cộng Quan khác, thì chẳng phải bản văn dài hơn có nhiều khả năng là nguyên thủy hơn sao?

Thật ra, đây sẽ là những lập luận nội tại tốt cho cách đọc mà tôi đã bác bỏ như một sự hư hoại. Nhưng hóa ra, trong trường hợp này, giữa các học giả hầu như không có tranh luận về bản văn nguyên thủy. Lu-ca, dĩ nhiên, đã nhận câu chuyện này từ Mác (người ghi “đường Ngài” thay vì “đường của Đức Chúa Trời chúng ta”). Chúng ta biết rằng có thể có lý do để người chép thay đổi bản văn (nhằm đề cao niềm tin của họ về thần tính của Chúa Giê-xu), nhưng có lý do nào để Lu-ca làm như vậy không? Điều đáng chú ý ở đây là trong toàn bộ tường thuật của mình, Lu-ca không hề đưa ra một chỉ dấu chắc chắn nào cho thấy ông hiểu Chúa Giê-xu là “Đức Chúa Trời.” Quả thật, Chúa Giê-xu là Con Đức Chúa Trời; nhưng đối với Lu-ca, Ngài không bao giờ chỉ đơn giản là Đức Chúa Trời. Do đó, cách đọc dài hơn vừa phù hợp với quan điểm của những người chép Cơ-đốc thời kỳ đầu (thần tính của Chúa Giê-xu: một lập luận sao chép), vừa không phù hợp với quan điểm của Lu-ca (một lập luận nội tại). Vì Lu-ca sẽ phải cố ý thay đổi bản văn để đưa quan điểm này vào (nghĩa là ông không chỉ đơn giản sao lại Mác, mà phải sửa đổi bản văn trước mắt để thêm quan điểm thần học mới), nên dường như khó có khả năng rằng sự thay đổi thành “đường của Đức Chúa Trời chúng ta” là do Lu-ca thực hiện.

Sự phán đoán này trở nên hoàn toàn chắc chắn khi xét đến bằng chứng ngoại tại cho cả hai cách đọc. Cần nhớ rằng sự ủng hộ ngoại tại tốt đòi hỏi một cách đọc phải được chứng thực trong những bằng chứng văn bản sớm nhất, phân bố địa lý rộng nhất, và tốt nhất. Trong trường hợp này, dị bản trái ngược với thần học của Lu-ca (“đường của Đức Chúa Trời chúng ta”) chỉ được tìm thấy trong một bản La-tinh và ba bản Syriac. Tất cả các nguồn giá trị nhất của chúng ta - tức toàn bộ truyền thống bản sao chép Hy Lạp - đều chứng thực cách đọc kia; do đó nó được tìm thấy trong những bằng chứng văn bản sớm nhất (cũng như hầu hết các bằng chứng văn bản muộn nhất!) và tốt nhất, và được chứng thực khắp vùng Địa Trung Hải, nơi các bản sao chép được sao chép. Loại bằng chứng ngoại tại áp đảo này hầu như không thể giải thích được nếu cách đọc ấy không phải là nguyên thủy. Tại đây chúng ta thấy cách mà sự kết hợp của các lập luận, cả nội tại lẫn ngoại tại, có thể cùng nhau xác định với mức độ chắc chắn tương đối bản văn nguyên thủy của Lu-ca.

Năm câu sau đó lại xuất hiện một vấn đề văn bản thú vị khác, khó giải quyết hơn đôi chút. Lu-ca 3:9 xuất hiện trong nhiều dạng khác nhau trong các bản sao chép của chúng ta; ở đây chúng ta chỉ giới hạn vào một vấn đề văn bản. Giăng Báp-tít có nói rằng “mỗi cây không sanh trái tốt thì sẽ bị chặt và quăng vào lửa,” hay bản văn nguyên thủy đã bỏ tính từ, để Giăng nói về “mỗi cây không sanh trái”? Trong trường hợp này, sự đồng thuận chung giữa các nhà bình luận văn bản là cách đọc dài hơn (“trái tốt”) là nguyên thủy. Nhưng có thể lập luận mạnh mẽ rằng sự đồng thuận này là sai. Việc khảo sát một số điểm ủng hộ cách đọc ngắn hơn sẽ giúp chúng ta thấy lại cách mà những lập luận bình luận văn bản khác nhau có thể phối hợp với nhau.

Bằng chứng ngoại tại áp đảo nghiêng về cách đọc dài hơn. Đây có lẽ là lý do chính khiến các học giả thường ưu tiên nó: nó được chứng thực trong hầu hết các bằng chứng văn bản của chúng ta. Nhưng điều đáng chú ý là bằng chứng văn bản Hy Lạp sớm nhất lưu giữ đoạn này, từ thế kỷ thứ ba, dường như chứng thực cách đọc ngắn hơn. Hơn nữa, nó cũng được tìm thấy trong những trích dẫn đoạn này trong các tác phẩm của Origen - nhà thần học Alexandrian thế kỷ thứ ba - một trong những bằng chứng văn bản tốt nhất của chúng ta về bản văn Tân Ước trong giai đoạn truyền thừa sớm nhất. Nó cũng xuất hiện sớm hơn đôi chút trong các tác phẩm của Irenaeus - giám mục thành Lyons ở Gaul (cuối thế kỷ thứ hai). Sau cùng, nó được chứng thực trong một số bản sao chép La-tinh. Như vậy, trong khi cách đọc dài hơn có nhiều tài liệu ủng hộ hơn, thì cách đọc ngắn hơn lại có những bằng chứng văn bản sớm nhất và tốt nhất; và những bằng chứng văn bản này hoàn toàn không bị giới hạn tại một nơi, mà rải rác khắp vùng Địa Trung Hải.

Thật khó để áp dụng khả năng nội tại cho những cách đọc này, vì cả hai đều có vẻ hợp lý trong bối cảnh của Lu-ca. Ngược lại, khả năng sao chép lại rất đáng chú ý. Thứ nhất, cách đọc dài rõ ràng là cách mà người chép sẽ biết từ những đoạn song song; không chỉ lời giảng của Giăng trong Ma-thi-ơ 3:10, mà còn cả lời của chính Chúa Giê-xu trong Ma-thi-ơ 7:19, đều nói về tín hữu sanh “trái tốt.” Nếu cách đọc ít được điều chỉnh cho giống nhau có nhiều khả năng là nguyên thủy hơn, thì tính từ này có lẽ nên được xem là một sự thêm vào của người chép. Thứ hai, cách đọc dài ít có khả năng bị hiểu sai hơn, điều này cũng cho thấy nó ít có khả năng là nguyên thủy. Và thứ ba, như tôi đã gợi ý, ta có thể dễ dàng hình dung một lý do khác khiến người chép chọn sửa đổi đoạn này, nếu bản văn ngắn là nguyên thủy: theo dạng ngắn của bản văn, Giăng nói rằng chỉ những cây không sanh bất kỳ trái nào mới bị hủy diệt trong ngày thạnh nộ tận thế. Nhưng còn những cây sanh “trái xấu” hay “trái hư nát” thì sao? Chúng chẳng phải cũng sẽ bị đoán phạt sao?

Điểm mấu chốt là ta có thể dễ dàng hình dung người chép thêm tính từ “tốt” vào bản văn nếu nó vốn không có ở đó. Nhưng động cơ nào khiến họ bỏ nó đi nếu nó vốn có? Cần lưu ý rằng trong các đoạn song song ở Ma-thi-ơ, từ này không hề bị người chép bỏ đi, điều đó cho thấy họ không thấy nó khó hiểu chút nào. Với hoàn cảnh rằng bản văn ngắn được chứng thực trong những bằng chứng văn bản sớm nhất, vốn cũng là những bằng chứng văn bản tốt nhất, chúng ta có thể nghiêng về việc xem nó là nguyên thủy.

=====

Như đã rõ, bình luận văn bản ở một mức độ nào đó là một ngành học phức tạp và đòi hỏi nhiều công sức. Chỉ những ai có kiến thức tốt về ngôn ngữ Hy Lạp, là ngôn ngữ mà Tân Ước được viết ra, mới có thể đi sâu vào những vấn đề do các bản sao chép Tân Ước và các dị bản của bản văn gây ra. Mặt khác, những phương pháp mà các học giả dùng để phân định giữa các giá trị cạnh tranh của những dị bản này tự thân không quá khó, và nên trở thành những nguyên tắc làm việc quen thuộc cho bất kỳ ai thật sự nghiêm túc trong việc giải nghĩa Tân Ước. Những nguyên tắc này được sử dụng trong các chú giải bình luận tốt hơn, và ngay cả sinh viên chỉ có một phần giới thiệu ngắn gọn như tôi đã trình bày ở đây cũng có thể tự mình đánh giá cách chúng được áp dụng.

Tóm tắt ngắn gọn những nguyên tắc đó: những cách đọc được lưu giữ trong các bằng chứng văn bản sớm nhất, phân bố rộng rãi nhất, và tốt nhất thì nhiều khả năng là nguyên thủy; cũng vậy, những cách đọc được đánh giá trên nhiều phương diện là “khó hơn” thì cũng nhiều khả năng là nguyên thủy; và sau cùng, những cách đọc phù hợp với ngôn ngữ, văn phong, và quan điểm thần học của tác giả thì cũng nhiều khả năng là nguyên thủy.

LẮNG NGHE TÂN ƯỚC