1. BÌNH LUẬN TRUYỀN THỐNG-LỊCH SỬ: MỤC TIÊU, KHÓ KHĂN, VÀ TẦM QUAN TRỌNG#
Có thể một số người sẽ ngạc nhiên khi biết rằng những tường thuật và lời phán của Chúa Giê-xu được ghi lại trong Tân Ước không phải do các môn đồ viết ra ngay lúc các sự kiện xảy ra trong lịch sử. Thực ra, phải nhiều thập niên sau, bốn sách Tin Lành mới xuất hiện trong hình thức cuối cùng như chúng ta có ngày nay. Điều này có nghĩa là có một khoảng cách thời gian giữa các sự kiện trong đời sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Giê-xu với việc biên soạn các tài liệu làm chứng về những sự kiện ấy. Trong khoảng thời gian giữa chức vụ của Chúa Giê-xu và sự xuất hiện của các sách Tân Ước, những truyền thống về Ngài lưu hành chủ yếu dưới hình thức truyền khẩu, được chia sẻ giữa các tín hữu và với những người chưa tin, khi họ được nghe sứ điệp Tin Lành.
Bình luận truyền thống-lịch sử đặt câu hỏi: điều gì đã diễn ra trong giai đoạn trước khi các tài liệu này được viết ra? Các văn bản mà chúng ta có đã trở thành như hiện nay bằng cách nào? Những truyền thống truyền khẩu nào nằm phía sau các truyền thống được viết lại mà chúng ta hiện có? Hội Thánh đầu tiên đã ảnh hưởng hoặc định hình những câu chuyện về Chúa Giê-xu và các môn đồ Ngài ra sao? Như vậy, bình luận truyền thống-lịch sử bao gồm việc nghiên cứu bối cảnh xã hội và văn hóa của truyền thống được ghi trong văn bản Tân Ước (dù được truy nguyên về thời Chúa Giê-xu hay được xác định là của Hội Thánh đầu tiên), cùng với những vấn đề đã ảnh hưởng và thúc đẩy các tác giả Tân Ước đưa những truyền thống ấy vào, và đặt câu hỏi: thông điệp hay mục đích nào được phục vụ bởi việc các tác giả đặt những truyền thống ấy vào những điểm nhất định trong các tường thuật Tin Lành? Bình luận truyền thống-lịch sử mở rộng tầm nhìn, tập trung vào lịch sử và những thay đổi phía sau các truyền thống được chứa trong các sách Tân Ước. Nó vận hành với sự nhận biết về khoảng cách thời gian giữa các sự kiện thật và các văn bản kể lại chúng, cũng như về “đời sống” mà những truyền thống ấy đã có trong Hội Thánh đầu tiên trước khi được ghi chép lại.
1.1. Ý Định của Tác Giả và Sitz im Leben#
Ẩn chứa trong công việc của bình luận truyền thống-lịch sử là sự hiểu biết rằng các văn bản Tân Ước - đặc biệt là các sách Tin Lành - không đơn thuần là những tường thuật chi tiết từng bước về chức vụ của Chúa Giê-xu lịch sử. Các tác giả Tin Lành, chẳng hạn, không có ý định trình bày một cái nhìn đầy đủ, vô tư, hoặc mang tính báo chí về đời sống của Chúa Giê-xu ở Nazareth. Trái lại, giống như mọi tài liệu lịch sử ở một mức độ nào đó, nội dung của chúng được chọn lọc, sắp xếp, và nhấn mạnh dựa trên ý định - trong trường hợp này, đặc biệt là ý định thần học và về Đấng Christ - của các tác giả và cộng đồng của họ. Vì vậy, các sách Tin Lành cần được xem như những tài liệu được hình thành từ nhiều truyền thống khác nhau, thuật lại câu chuyện về Chúa Giê-xu đã được cộng đồng Hội Thánh đầu tiên định hình. Các văn bản Tân Ước như chúng ta có ngày nay, do đó, không được xem là hoàn toàn mang tính lịch sử (theo cách chúng ta thường dùng thuật ngữ này ngày nay). Thay vào đó, chúng là những tường thuật có nền tảng được hình thành từ các truyền thống truyền khẩu, lấy đời sống của Chúa Giê-xu làm điểm khởi đầu. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những truyền thống ấy là những tường thuật không đáng tin cậy về Chúa Giê-xu. Vấn đề về độ tin cậy của các truyền thống ban đầu - đặc biệt là truyền khẩu - sẽ được bàn chi tiết hơn trong phần sau của chương này.
Bình luận truyền thống sử dụng cụm từ tiếng Đức Sitz im Leben để chỉ bối cảnh hay tình huống lịch sử trong đó các truyền thống này được hình thành, tức là bối cảnh trong chức vụ của Chúa Giê-xu cũng như trong bối cảnh xã hội-văn hóa của các cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên. Sitz im Leben cũng có thể chỉ rõ hơn đến vai trò hoặc tác động mà một truyền thống cụ thể đã có trong tình huống lịch sử của nó. Sitz im Leben của cộng đồng mà một tác giả Tân Ước xuất thân từ đó và/hoặc hướng sách Tin Lành của mình đến cũng có thể được nhận biết qua những truyền thống về Chúa Giê-xu mà ông sử dụng.
1.2. Các Tiêu Chuẩn về Tính Xác Thực#
Các học giả khi thực hành bình luận truyền thống-lịch sử đã xây dựng nhiều tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá tính chân thật của một truyền thống về Chúa Giê-xu. Tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu là tiêu chuẩn khác biệt, vốn đặt trọng lượng cho những lời phán của Chúa Giê-xu thể hiện một quan điểm hoặc cách giải thích độc đáo so với những người đương thời hoặc so với Hội Thánh đầu tiên. Nghĩa là, tiêu chuẩn này loại bỏ những điều chung giữa Chúa Giê-xu và các nhóm tôn giáo khác trong thời Ngài, hoặc giữa Chúa Giê-xu và các môn đồ về sau, và xem sự độc đáo là dấu hiệu của tính xác thực. Nếu một truyền thống được chứng minh là phù hợp với những lời phán khác vốn đã được đánh giá là chân thật, thì nó tuân theo tiêu chuẩn nhất quán.
Tiêu chuẩn chứng thực nhiều nguồn đánh giá tính xác thực dựa trên sự hiện diện của một lời phán trong nhiều nhánh truyền thống khác nhau hoặc trong nhiều thể loại văn chương (chẳng hạn như dụ ngôn hoặc các tường thuật về sự thương khó). Các tiêu chuẩn khác bao gồm: sự xuất hiện tình cờ của những chi tiết lịch sử (như ghi chú địa lý hoặc nhận xét chính xác về văn hóa, vốn không phải là trọng tâm của tác giả nhưng được đưa vào vì sự hiểu biết về bối cảnh của Chúa Giê-xu; tiêu chuẩn này có thể cho thấy khả năng một nhân chứng trực tiếp là nguồn gốc của truyền thống ấy, và do đó đáng tin cậy hơn so với nguồn gián tiếp); sự hiện diện của một câu chuyện dù có khó khăn (nếu nó vẫn được giữ lại trong văn bản dù có sự mâu thuẫn hoặc vụng về, thì hẳn nó được xem là không thể thiếu và do đó là xác thực); các yếu tố nền tảng tiếng Aram trong một truyền thống (vì Chúa Giê-xu và những môn đồ đầu tiên nhiều khả năng đã nói tiếng Aram); tiêu chuẩn về sự bị khước từ và bị xử tử (những lời và hành động lịch sử nào của Chúa Giê-xu có thể giải thích rõ nhất việc Ngài bị bắt và bị đóng đinh? Một truyền thống mô tả Chúa Giê-xu như không làm hoặc không nói gì để khiến kẻ thù nổi giận thì không phù hợp với sự kiện lịch sử về cái chết của Ngài dưới tay chính quyền La Mã); sự hiện diện của thông tin chính xác hoặc không chính xác về bối cảnh Palestine thế kỷ thứ nhất (những lời phán của Chúa Giê-xu phù hợp với các tập tục đã biết của thời và vùng ấy thì có khả năng đáng tin cậy hơn); và những dấu hiệu cho thấy sự phát triển trong truyền thống Cộng Quan.
Như với bất kỳ tập hợp tiêu chuẩn nào, danh sách này không hề đầy đủ. Cũng không có tiêu chuẩn nào là không có hạn chế. Chẳng hạn, tiêu chuẩn khác biệt đã bị phê phán cách đúng đắn, vì yêu cầu phi thực tế rằng bất kỳ lời dạy nào của Chúa Giê-xu được xem là xác thực thì phải tách rời khỏi bối cảnh xã hội-văn hóa của Ngài (như thể tính Do Thái của Ngài không ảnh hưởng đến sự dạy dỗ và sứ mạng của Ngài) hoặc khỏi bối cảnh của các môn đồ, khi tiêu chuẩn này được áp dụng quá nghiêm ngặt cho mọi mảnh truyền thống. Tuy nhiên, giá trị của các tiêu chuẩn này nằm ở mục tiêu điều chỉnh và, theo một cách nào đó, chính thức hóa phương pháp đánh giá tính chân thật của một truyền thống về Chúa Giê-xu.
1.3. Khó Khăn và Ích Lợi của Bình Luận Truyền Thống-Lịch Sử#
Việc nghiên cứu các truyền thống truyền khẩu phía sau những văn bản viết của Tân Ước không phải là không có khó khăn.
Trước hết, nhiều truyền thống nằm phía sau các sách Tin Lành thường được hòa nhập khéo léo vào hình thức cuối cùng đến nỗi rất khó để tách biệt chúng một cách chắc chắn. Điều này có thể dẫn đến mức độ suy đoán quá cao cả trong việc nhận diện các truyền thống ban đầu lẫn trong việc xác định ý nghĩa của chúng, bởi vì các học giả hiện đại cách xa quá nhiều so với bối cảnh mà chúng xuất hiện.
Thứ hai, việc truyền thống-lịch sử đối diện với nguy cơ lý luận vòng vo, khi tình huống lịch sử được đề xuất vốn được rút ra từ việc giải thích một số đoạn văn trong Tân Ước lại thường được dùng để đánh giá độ tin cậy hoặc tính chân thật của những phần khác trong cùng một văn bản.
Thứ ba, trong nỗ lực tìm ra và giải thích các truyền thống ban đầu, các học giả có thể bỏ qua dòng chảy và hướng đi của văn bản, cố gắng đi phía sau những gì hiện diện trong văn bản để xác định những gì không hiện diện.
Thứ tư, bình luận truyền thống-lịch sử, giống như bất kỳ phương pháp nào đặt ưu tiên cho những câu hỏi phía sau văn bản, dễ dẫn đến sự phân mảnh, khi học giả chú ý quá nhiều đến các phần mà bỏ qua tổng thể. Trong tình huống này, cả ngữ cảnh gần và ngữ cảnh rộng của tường thuật đều bị bỏ qua để chia một văn bản vốn toàn vẹn thành những đơn vị nhỏ hơn.
Tuy nhiên, bất chấp những khó khăn ấy, bình luận truyền thống-lịch sử vẫn có nhiều điều quý giá để đóng góp cho việc nghiên cứu Tân Ước.
Quan trọng nhất, nó nhắc chúng ta rằng các sách Tin Lành và những văn bản Tân Ước khác không được tạo ra trong khoảng trống. Chúng được biên soạn trong bối cảnh Hội Thánh đầu tiên, nơi lưu hành những câu chuyện và truyền thống về đời sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Giê-xu, đồng thời giải quyết những vấn đề quan trọng trong đời sống của các tín hữu đầu tiên, giúp họ hiểu được đức tin mới mẻ của mình.
Nó cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nhận biết khoảng cách thời gian giữa Chúa Giê-xu trong lịch sử và những truyền thống viết về Ngài mà chúng ta hiện có. Những thập niên ấy đã tạo cơ hội cho các truyền thống truyền khẩu về Chúa Giê-xu được lan truyền trong sự làm chứng của Tin Lành, được truyền lại cho thế hệ sau, và được áp dụng vào những tình huống cụ thể trong đời sống của các cộng đồng nơi chúng lưu hành.
Bình luận truyền thống-lịch sử cũng làm nổi bật vai trò của bối cảnh xã hội và văn hóa của một cộng đồng trong việc ảnh hưởng đến những văn bản mà cộng đồng ấy sản sinh.
Sau cùng, phương pháp này giúp ích cho độc giả hiện đại trong việc giải nghĩa các văn bản Tân Ước. Nó làm điều này bằng cách nhắc chúng ta rằng chúng ta cách xa bối cảnh của chúng, và dạy chúng ta về những khía cạnh - cả trong văn bản lẫn phía sau văn bản - của những thực tại vốn ban đầu không dễ hiểu đối với chúng ta, chẳng hạn như các vấn đề xã hội, phong tục tôn giáo, cùng những niềm tin và giả định của thời kỳ dẫn đến việc biên soạn các văn bản ấy.
2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC TRUYỀN THỐNG TỪ CHÚA GIÊ-XU ĐẾN CÁC SÁCH TIN LÀNH#
2.1. Vấn Đề Cộng Quan (The Synoptic Problem)#
Mặc dù có liên quan đến các văn bản Tân Ước khác, phần lớn công việc của bình luận truyền thống-lịch sử tập trung vào các sách Tin Lành và sự phát triển của chúng từ truyền khẩu sang văn bản viết. Đặc biệt, bình luận truyền thống-lịch sử thường được áp dụng cho ba sách Tin Lành Cộng Quan. Khi nghiên cứu các sách Cộng Quan, người ta dễ dàng nhận thấy số lượng lớn những đoạn văn giống nhau, thậm chí giống hệt từng chữ. Sự hiện diện của những đoạn giống nhau trong Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca gợi ý rằng có một loại nguồn chung nào đó giữa ba sách này. Thuật ngữ “vấn đề Cộng Quan” được các học giả đặt ra để chỉ khó khăn trong việc giải thích mối quan hệ chính xác giữa ba sách Tin Lành, tức là chúng đã chia sẻ những đoạn văn ấy bằng cách nào. Đây là một vấn đề quan trọng đối với bình luận truyền thống-lịch sử vì nó đặt ra những câu hỏi trung tâm, chẳng hạn: sách Tin Lành nào là truyền thống nền tảng cho các sách khác? Mỗi tác giả đã sử dụng những truyền thống hay nguồn có sẵn cho mình như thế nào?
Có nhiều giả thuyết nhằm giải thích tiến trình phía sau mối quan hệ Cộng Quan. Một quan điểm, được nhiều học giả Tân Ước ngày nay chấp nhận, có thể được tóm tắt như sau: Mác dường như là sách Tin Lành được viết sớm nhất; trên cơ sở này, các học giả gọi đó là “ưu tiên của Mác” (Markan priority). Hơn nữa, nhiều học giả giải thích sự giống nhau (cả về nội dung lẫn cấu trúc và trật tự tường thuật) giữa Mác, Ma-thi-ơ, và Lu-ca bằng cách cho rằng cả Ma-thi-ơ và Lu-ca đã dùng sách Tin Lành của Mác làm nguồn cho sách của mình. Sự hiện diện của những đoạn văn có trong cả Ma-thi-ơ và Lu-ca nhưng không có trong Mác khiến một số học giả cho rằng có một nguồn chung thứ hai. Để giải thích những đoạn giống nhau này, các học giả đã giả định một nguồn gọi là “Q” (viết tắt từ chữ Đức Quelle, nghĩa là “nguồn”), được cho là chứa những lời phán của Chúa Giê-xu, một số trong đó được tìm thấy trong Ma-thi-ơ và Lu-ca.
Một khó khăn trong việc tái dựng này là cho đến nay chưa có tài liệu nào được tìm thấy phù hợp với mô tả về Q. Như vậy, Q hoàn toàn chỉ là giả thuyết, được rút ra từ việc so sánh và giải thích các đoạn văn Cộng Quan. Dù một số học giả đã đi xa đến mức xây dựng một tài liệu Q từ tất cả những lời phán được cho là đã có trong một nguồn gốc ban đầu nhưng đã thất lạc, thì nỗ lực này cũng chỉ là một giả thuyết mang tính học thuật, về việc tài liệu ấy có thể đã trông như thế nào. Việc tái dựng mối quan hệ Cộng Quan này không phải không có người phản đối. Một số học giả Tân Ước phủ nhận sự tồn tại của Q, hoặc bất đồng về trật tự phụ thuộc giữa các sách Cộng Quan. Theo hướng này, có những đề xuất khác: (1) xem Ma-thi-ơ hoặc Lu-ca là sách Tin Lành đầu tiên được viết, với Mác sử dụng sách đầu tiên ấy (dù là Ma-thi-ơ hay Lu-ca) làm nguồn, rồi sau đó Ma-thi-ơ hoặc Lu-ca dùng Mác; hoặc (2) xác định Ma-thi-ơ là sách Tin Lành đầu tiên được viết, với Lu-ca dùng Ma-thi-ơ (nhưng không dùng Mác), rồi Mác dùng cả Ma-thi-ơ và Lu-ca để biên soạn một phiên bản ngắn hơn cho cộng đồng của mình.
2.2. Sách Tin Lành Giăng#
Khi nghiên cứu các truyền thống ban đầu trong các sách Tin Lành, sách Tin Lành Giăng đặt ra một loạt câu hỏi đặc thù. Rõ ràng Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca có mối liên hệ nào đó, nhưng sách Giăng nằm ở đâu trong phương trình này? Dù cả bốn sách Tin Lành đều chia sẻ một số sự kiện và cùng trình bày cấu trúc tổng quát về đời sống, sự chết, và sự sống lại của Chúa Giê-xu, thì sách Giăng lại nổi bật khác biệt, đặc biệt cả về văn phong lẫn nội dung. Những khác biệt trong Giăng rất dễ nhận thấy, nhưng điều đó có ý nghĩa gì đối với các truyền thống làm nền tảng cho sách này?
Sách Giăng thường được xem là sách Tin Lành cuối cùng được viết ra, và nó mang tính thần học và về Đấng Christ rõ ràng hơn, việc sử dụng các truyền thống để phục vụ ý định của tác giả cũng minh bạch hơn so với các sách Cộng Quan. Một mặt, điều này gây khó khăn cho việc áp dụng bình luận truyền thống-lịch sử, vì các chất liệu ban đầu được hòa nhập trôi chảy hơn trong sách Giăng. Mặt khác, việc sách này gần như chắc chắn được biên soạn vào nửa sau thế kỷ thứ nhất lại giúp ích cho công việc này, bởi vì chúng ta biết nhiều hơn về Sitz im Leben của Hội Thánh đầu tiên sau khi đền thờ tại Jerusalem bị phá hủy, so với trước biến cố trọng yếu ấy.
Do đó, một phần công việc của bình luận truyền thống-lịch sử khi áp dụng cho sách Tin Lành Giăng là khám phá những truyền thống ban đầu song song hoặc điều chỉnh những truyền thống được dùng trong các sách Cộng Quan, cũng như đề xuất những lý do cho sự thay đổi của các truyền thống chung ấy và sự hiện diện của những truyền thống mới hoặc khác biệt.
2.3. Truyền Thống Truyền Khẩu và Bình Luận Thể Loại (Form Criticism)#
Có nhiều tranh luận về tiến trình truyền đạt các truyền thống liên quan đến Chúa Giê-xu trước khi chúng được đưa vào các sách Tin Lành. Tầm quan trọng của truyền khẩu trong việc chia sẻ truyền thống trong thế giới cổ đại là điều khó phủ nhận. Phần lớn Hội Thánh đầu tiên không biết chữ, cũng như đa số dân chúng thời ấy, với ước tính có thể lên đến 90 phần trăm. Do đó, cách duy nhất mà hầu hết các tín hữu đầu tiên có thể tiếp cận các câu chuyện về Chúa Giê-xu là qua việc chúng được kể lại trong bối cảnh công cộng. Tuy nhiên, các học giả có ý kiến khác nhau về việc những câu chuyện và lời phán này đã được truyền khẩu bao lâu trước khi bắt đầu được ghi chép trên giấy cói. Thêm vào đó, tiến trình từ truyền khẩu đến việc ghi chép các truyền thống về Chúa Giê-xu chắc chắn là một tiến trình dần dần. Chúng ta không nên tưởng tượng rằng Hội Thánh đầu tiên đã tiếp nhận văn bản viết để rồi loại bỏ truyền khẩu như thể nó không đủ. Đã có một khoảng thời gian (mà độ dài cũng còn tranh luận) khi cả truyền thống truyền khẩu và truyền thống viết về Chúa Giê-xu cùng tồn tại song song.
Vấn đề truyền khẩu là một điểm quan trọng đối với bình luận truyền thống-lịch sử, bởi vì việc truyền đạt truyền khẩu các truyền thống về Chúa Giê-xu đã tạo nên nền tảng cho việc truyền đạt sau này dưới dạng văn bản. Điều này có nghĩa là việc lan truyền câu chuyện về Chúa Giê-xu bằng miệng đã có ảnh hưởng đến cách nó được lan truyền bằng chữ viết. Những câu hỏi liên quan đến vai trò của các nhân chứng trực tiếp về Chúa Giê-xu trong việc bảo đảm và truyền lại truyền thống đáng tin cậy về sự dạy dỗ và chức vụ của Ngài hiện đang được quan tâm đặc biệt.
Ngoài việc thảo luận về thời điểm chuyển từ ưu thế của truyền khẩu sang ưu thế của văn bản viết, còn có nhiều đề xuất liên quan đến bối cảnh và cách thức mà các truyền thống này được truyền đạt. Ở một đầu của phổ quan điểm là các nhà bình luận thể loại (form critics), trong đó Rudolf Bultmann là đại diện. Bultmann xem việc truyền đạt truyền khẩu các truyền thống về Chúa Giê-xu như một tiến trình linh động. Theo ông, Hội Thánh đầu tiên không quan tâm đến việc bảo tồn các truyền thống ban đầu về Chúa Giê-xu, mà chính Hội Thánh là nguồn gốc của các truyền thống ấy. Kerygma, tức là sự giảng dạy Tin Lành của Hội Thánh đầu tiên, là yếu tố tạo nên các truyền thống về Chúa Giê-xu mà chúng ta thấy trong các sách Tin Lành. Lý thuyết của Bultmann phản ánh sự hoài nghi của ông đối với việc mô tả Chúa Giê-xu lịch sử trong các sách Tin Lành, một sự hoài nghi dựa trên quan điểm rằng các tín hữu đầu tiên không quan tâm đến đời sống và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu ở Nazareth, mà quan tâm đến việc các truyền thống về Ngài có ý nghĩa thế nào cho bối cảnh và tình huống lịch sử của chính họ.
Trái ngược với quan điểm của các nhà bình luận thể loại về tiến trình truyền đạt truyền thống, một số học giả khác đã đề xuất một bối cảnh có cấu trúc hơn cho việc truyền đạt các truyền thống ban đầu về Chúa Giê-xu. Dựa vào hệ thống truyền đạt truyền thống được các thầy rabbi sử dụng, họ chủ trương rằng bối cảnh hợp lý nhất cho việc chia sẻ các truyền thống ban đầu về Chúa Giê-xu là mang tính giáo huấn. Điều này bao gồm việc giảng dạy chính thức bởi các lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên, và việc học thuộc lòng những lời phán của Chúa Giê-xu.
Tách mình khỏi cả bối cảnh kerygma không có cấu trúc do các nhà bình luận thể loại đề xuất, lẫn bối cảnh giáo huấn có cấu trúc như vừa nêu, Kenneth Bailey cho rằng việc truyền đạt truyền khẩu các truyền thống ban đầu về Chúa Giê-xu diễn ra trong một môi trường “không chính thức nhưng được kiểm soát.” Dựa vào thực tế truyền khẩu trong đời sống làng quê Trung Đông đương đại làm điểm tham chiếu, ông gợi ý rằng cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên đã cho phép sự linh động và uyển chuyển của truyền khẩu, đồng thời vẫn coi trọng tính chính xác về các sự kiện và lời phán được gán cho Chúa Giê-xu. Bailey nhấn mạnh tầm quan trọng của cộng đồng trong việc bảo tồn truyền thống, chứ không phải sáng tạo ra nó (trái ngược với nhiều nhà bình luận thể loại ban đầu).
Một số công trình nghiên cứu gần đây nhất về bối cảnh truyền đạt các truyền thống về Chúa Giê-xu đến từ Richard Bauckham. Ông đặc biệt quan tâm đến vai trò của các nhân chứng trực tiếp về Chúa Giê-xu trong tiến trình hình thành các sách Tin Lành. Bauckham khảo sát những bằng chứng được đưa ra bởi các nhà bình luận thể loại, Gerhardsson, và Bailey, rồi thảo luận về điểm mạnh và điểm yếu của họ. Trọng tâm trong lập luận của ông là sự thách thức đối với giả định (được các nhà bình luận thể loại cổ vũ và phổ biến rộng rãi) rằng truyền thống về Chúa Giê-xu đã phát triển qua một thời gian dài trước khi đạt đến hình thức văn bản trong các sách Tin Lành. Nhận định của ông rằng các nhân chứng trực tiếp đã đóng vai trò quan trọng trong việc truyền đạt những truyền thống này khiến ông xem bối cảnh ấy mang tính chính thức hơn so với điều mà Bultmann hoặc Bailey cho phép, trong khi vẫn tránh được những vấn đề mà đề xuất của Gerhardsson tạo ra.
Tất cả những đề xuất này đều liên quan đến bản chất của truyền thống truyền khẩu so với truyền thống văn bản. Một số quan điểm về truyền khẩu trong nghiên cứu Tân Ước đã đưa ra giả định về độ tin cậy hoặc tính chính xác của truyền thống truyền khẩu dựa trên sự linh động của nó. Những quan điểm này thường đối lập với cách nhìn nhận văn bản viết như chính xác và đáng tin cậy hơn, khiến cho văn bản viết được ưu tiên như nguồn lịch sử đáng tin cậy. Tuy nhiên, sự đối lập này là hời hợt và đơn giản hóa. Trước hết, trong thế giới cổ đại, truyền thống truyền khẩu không bị xem là thấp kém; trái lại, việc truyền đạt bằng miệng là phổ biến và được chấp nhận. Thêm nữa, sự tin tưởng vào tính ổn định của chữ viết là sai chỗ, vì chữ viết cũng có thể bị thay đổi như lời nói, điều mà bình luận biên tập (redaction criticism) đã chứng minh rất rõ. Liên quan đến độ tin cậy của truyền thống truyền khẩu, Bailey đã cho thấy thực sự có những nguyên tắc và quy tắc phải được tuân thủ trong việc truyền đạt truyền khẩu trong một nền văn hóa coi trọng nó.
Dù chúng ta nhìn nhận tiến trình truyền đạt này thế nào, sự quan tâm đến các truyền thống truyền khẩu liên quan đến Chúa Giê-xu là trọng tâm của công việc bình luận truyền thống-lịch sử. Ẩn chứa trong nghiên cứu này là niềm tin rằng - dù chúng ta nhận diện hay giải thích chúng ra sao - các truyền thống truyền khẩu chính là “mắt xích” nối liền giữa Chúa Giê-xu ở Nazareth và những văn bản kể lại câu chuyện về Ngài.
3. VÍ DỤ THỰC TẾ BÌNH LUẬN TRUYỀN THỐNG-LỊCH SỬ: GIĂNG 4:1–42#
Sau khi đã tóm lược mục tiêu, khó khăn, và tầm quan trọng của bình luận truyền thống-lịch sử, cũng như đã bàn về vai trò của nó trong việc nghiên cứu các sách Tin Lành, giờ đây chúng ta tiến hành áp dụng loại bình luận này cho Giăng 4:1–42. Mục tiêu của phần này là thảo luận một số kết quả nghiên cứu của những người đã áp dụng bình luận truyền thống-lịch sử cho đoạn Kinh Thánh này, đặt ra những loại câu hỏi vốn thuộc phạm vi của phương pháp này.
Giăng 4:1–42 thuật lại cuộc gặp gỡ của Chúa Giê-xu với một người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nước. Khi rời khỏi miền Giu-đê để trở về Ga-li-lê, Chúa Giê-xu phải đi ngang qua Sa-ma-ri. Ngài dừng lại nghỉ bên một cái giếng, và xin một người đàn bà gần đó múc cho Ngài ít nước uống. Bà kinh ngạc vì Ngài lại nói chuyện với bà, bởi bà là người Sa-ma-ri còn Ngài là người Giu-đa. Sự thắc mắc của bà mở ra một cuộc đối thoại về “nước hằng sống” và “thờ lạy trong tâm thần và lẽ thật.” Trong tiến trình trò chuyện, bà nhận ra rằng Chúa Giê-xu là một đấng tiên tri, và có lẽ là Đấng Mê-si, rồi đi báo cho dân trong thành mình về cuộc gặp gỡ ấy. Trong khi đó, các môn đồ của Chúa Giê-xu trở về với thức ăn, tạo cơ hội cho Ngài dùng một bài học minh họa về “thức ăn” của công việc truyền giáo. Câu chuyện kết thúc với tường thuật về kết quả của sự làm chứng của người đàn bà, khi nhiều người Sa-ma-ri tin Chúa Giê-xu là “Cứu Chúa của thế gian.”
3.1. Nhận Diện Các Truyền Thống Ban Đầu#
Phần nào của đoạn Kinh Thánh này thuộc về truyền thống ban đầu, và phần nào có thể được gán cho sự biên soạn riêng của tác giả? Đây là câu hỏi đầu tiên và quan trọng nhất được đặt ra cho bất kỳ văn bản nào khi bình luận truyền thống-lịch sử được áp dụng. Các nhà bình luận truyền thống-lịch sử khảo sát Tân Ước và những đoạn liên quan để tìm manh mối giúp họ nhận diện chất liệu truyền thống được tác giả lồng vào sách Tin Lành, cũng như (có thể) cả những câu chuyện vốn đã được định hình bởi truyền thống ban đầu. Những yếu tố có thể cho thấy sự gián đoạn trong phần biên soạn riêng của tác giả và sự tiếp nhận một truyền thống ban đầu bao gồm sự vụng về trong dòng chảy của tường thuật hoặc sự xuất hiện của chất liệu khác biệt với mục tiêu hay phong cách chung của sách Tin Lành.
Liên quan đến việc nhận diện chất liệu truyền thống trong Giăng 4:1–42, chúng ta có thể tham khảo kết quả của hai nhà bình luận truyền thống nổi bật là Rudolf Bultmann và C. H. Dodd. Bultmann nhận thấy truyền thống ban đầu đứng phía sau một phần đáng kể của đoạn này. Chất liệu truyền thống bao gồm:
- những lời chú thích về thành Sa-ma-ri Sychar là nơi có giếng của Gia-cốp (4:4–9),
- sự bày tỏ tri thức siêu nhiên của Chúa Giê-xu (4:16–19),
- tường thuật về việc người đàn bà làm chứng cho dân trong thành mình (4:28–30),
- lời mô tả về sự hiếu khách của dân Sa-ma-ri (4:40).
Ông cũng cho rằng truyền thống ban đầu là nền tảng cho 4:20–26, vì nội dung liên quan đến tập tục Sa-ma-ri (song song với sự quan tâm đến giếng Gia-cốp trong 4:4–9), và sự xuất hiện của khái niệm Đấng Mê-si trong 4:25. Bultmann lập luận rằng sự liên kết giữa khái niệm Đấng Mê-si với khả năng bày tỏ tri thức siêu nhiên của Chúa Giê-xu nối tiếp Giăng 1:35–51. Ông cho rằng Giăng 1:35–51 xuất phát từ “Nguồn Dấu lạ” (Signs Source), một nguồn được một số học giả tin rằng đã chứa các tường thuật về những phép lạ của Chúa Giê-xu và đã lưu hành vào thời điểm sách Tin Lành được viết, rồi được Giăng sử dụng. Như vậy, “Nguồn Dấu lạ” gián tiếp đứng phía sau lời của người đàn bà trong 4:25.
Theo C. H. Dodd, phần mở đầu của câu chuyện trong 4:1–3 có sự vụng về cả về cú pháp lẫn trong mối liên hệ với lời trước đó trong 3:22, vốn cho thấy Chúa Giê-xu có làm phép báp-têm cho môn đồ. Những yếu tố này chỉ ra sự lồng ghép một truyền thống ban đầu rằng Chúa Giê-xu đã làm phép báp-têm, nhưng về sau một người biên tập đã chỉnh sửa, khiến nó trở thành một “lời lộn xộn.” Ông lập luận rằng chất liệu về hành trình này là tiền kinh điển (precanonical), phản ánh một truyền thống ban đầu nhấn mạnh việc Chúa Giê-xu rời khỏi Giu-đê và đến Ga-li-lê. Dodd cũng nhận thấy phần nông nghiệp khá đặc thù trong 4:31–38 là sự gắn thêm của tác giả một truyền thống hoàn toàn độc lập và tự tồn tại vào câu chuyện trước đó. Ngoài việc thiếu sự liên kết về nội dung với câu chuyện người đàn bà Sa-ma-ri, sự tập trung của 4:31–38 vào các vấn đề nông nghiệp (mùa gặt, thợ gặt, hoa lợi) là điều không đặc trưng cho sách Giăng, mà giống hơn với mối quan tâm của các sách Cộng Quan.
3.2. Xác Định Tính Xác Thực#
Vượt ra ngoài việc nhận diện các truyền thống ban đầu trong văn bản Tân Ước, bình luận truyền thống-lịch sử còn đánh giá xem chất liệu truyền thống trong sách Tin Lành có phản ánh những lời phán xác thực của Chúa Giê-xu hay không.
Trong trường hợp Giăng 4:10, 23, chẳng hạn, có hai quan sát: (1) không có sách Tin Lành nào khác trong Tân Ước ghi lại những lời dạy của Chúa Giê-xu liên quan đến “nước hằng sống,” và (2) những chủ đề này được nhấn mạnh xuyên suốt trong sách Giăng (ví dụ: Chúa Giê-xu biến đổi nước thường dùng cho sự tẩy sạch nghi lễ; xem Giăng 2:1–11; 7:37–39). Hai yếu tố này có thể cho thấy đây là sự xây dựng đặc thù của Giăng.
Ngược lại, sự chứng thực từ nhiều nguồn về những lời phán mang tính nông nghiệp của Chúa Giê-xu (trong các sách Cộng Quan và trong Giăng 4:31–38) gợi ý rằng phần này của tường thuật mang tính lịch sử.
3.3. So Sánh Các Truyền Thống Tin Lành#
Nhận xét của Dodd rằng Giăng 4:31–38 chứa nội dung không đặc trưng cho sách này dẫn đến một vấn đề khác mà bình luận truyền thống-lịch sử quan tâm, đó là việc so sánh các truyền thống Cộng Quan và Giăng. Mối quan hệ giữa những câu chuyện và lời phán của Chúa Giê-xu trong các sách Cộng Quan với những gì có trong Giăng là gì? Những truyền thống nào được cả bốn sách Tin Lành sử dụng? Những truyền thống nào là đặc thù của sách Giăng? Bình luận truyền thống-lịch sử chú trọng đến việc so sánh các truyền thống được dùng trong cả các sách Cộng Quan và sách Giăng để nhận diện những truyền thống đã hình thành cho các cộng đồng vốn sản sinh ra những sách Tin Lành độc lập.
Chúng ta đã lưu ý rằng loại hình ảnh nông nghiệp xuất hiện ở cuối Giăng 4 phổ biến hơn trong các sách Cộng Quan so với trong sách Giăng. Thêm vào đó, một số từ ngữ được dùng trong phần này cũng xuất hiện trong các sách Cộng Quan, nhưng không hề có ở nơi nào khác trong Giăng (chẳng hạn các động từ speirō “gieo,” therizō “gặt,” và danh từ kopos “lao khổ”). Dựa trên việc Chúa Giê-xu tái định nghĩa và khai triển các khái niệm về thức ăn và mối quan hệ gia đình, Dodd nhận thấy có một sự song song mờ nhạt về hình thức giữa Giăng 4:31–34 và Mác 3:31–35. Tuy nhiên, một sự song song mạnh mẽ hơn được tìm thấy trong Ma-thi-ơ 4:1–4 và Lu-ca 4:1–4, nơi Chúa Giê-xu cũng từ chối một sự cung cấp thức ăn để vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Tương tự, khi được các môn đồ dâng thức ăn, Chúa Giê-xu từ chối, vì sự nuôi dưỡng của Ngài đến từ việc làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời (Giăng 4:34). Dodd tin rằng những đặc điểm giống nhau này cho thấy cả ba đoạn đều xuất phát từ một truyền thống chung.
Các học giả bình luận truyền thống-lịch sử cũng nhanh chóng ghi nhận bất kỳ tường thuật hay lời phán nào trong Giăng không có trong các sách Cộng Quan (và ngược lại). Vấn đề này có liên quan đến bình luận truyền thống-lịch sử vì một trong những cách giải thích khả dĩ cho chất liệu đặc thù trong một sách Tin Lành là chất liệu ấy xuất phát từ một truyền thống hoàn toàn khác, không có sẵn cho các sách khác. Liên quan đến câu chuyện Chúa Giê-xu và người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng, rõ ràng ba sách Tin Lành kia không hề ghi lại. Tuy nhiên, dù câu chuyện này không có trong các sách Cộng Quan, chúng ta đã thấy rằng một số yếu tố trong tường thuật có khả năng được rút ra từ truyền thống chung với các sách khác. Việc câu chuyện Chúa Giê-xu gặp người đàn bà Sa-ma-ri này có xuất phát từ một truyền thống ban đầu vốn có cho tác giả sách Giăng nhưng không có cho các sách khác hay không thì khó xác định. Dù vậy, sự thật vẫn là tác giả Giăng đã chọn đưa tường thuật này vào sách của mình, trong khi các sách khác thì không.
Dù các sách Cộng Quan không chứa câu chuyện trong Giăng 4:1–42, chúng ta vẫn có thể so sánh những yếu tố trong cả bốn sách Tin Lành có liên quan đến đoạn này và có thể soi sáng cách chúng xử lý những vấn đề tổng quát hơn. Chẳng hạn, quan điểm của các sách Cộng Quan về người Sa-ma-ri so với sách Giăng ra sao? Cả Ma-thi-ơ lẫn Mác đều không cho thấy sự quan tâm nhiều đến người Sa-ma-ri, một khoảng trống cho thấy vấn đề quan hệ Do Thái–Sa-ma-ri không phải là mối bận tâm của cộng đồng họ. Trong sách Ma-thi-ơ, ngoại lệ là Ma-thi-ơ 10:5, nơi Chúa Giê-xu sai các môn đồ đi trong chuyến truyền giáo đầu tiên và dặn họ không vào các thành Sa-ma-ri; tuy nhiên, điều này không hẳn là sự thù nghịch đặc biệt đối với người Sa-ma-ri, vì Ngài cũng dặn họ không đến gần dân ngoại, bởi trọng tâm lúc ấy hoàn toàn là người Do Thái.
Sách Lu-ca trình bày nhìn chung tích cực, dù trong Lu-ca 9:51–55, một làng Sa-ma-ri từ chối tiếp đãi Chúa Giê-xu. Tuy nhiên, hãy lưu ý cách Chúa Giê-xu quở trách Gia-cơ và Giăng vì họ muốn báo thù bằng cách khiến lửa từ trời xuống. Phù hợp với cách tác giả Tin Lành này trình bày tích cực về dân ngoại, ba trong bốn đoạn nhắc đến người Sa-ma-ri đều mô tả họ như những mẫu mực về hành vi mà Đức Chúa Trời đòi hỏi. Dụ ngôn nổi tiếng về người Sa-ma-ri trong Lu-ca 10:25–37 cho thấy một người Sa-ma-ri vượt trội hơn một thầy tế lễ và một người Lê-vi trong việc chăm sóc một người Do Thái bị bỏ mặc gần chết. Được đưa ra để trả lời câu hỏi “Ai là kẻ lân cận tôi?” dụ ngôn này kêu gọi phá bỏ những bức tường chia cách và phán xét theo dân tộc, chứng minh rằng những người vốn được xem là đạo đức (các lãnh đạo tôn giáo Do Thái) không nhất thiết là như vậy, trong khi những người vốn bị loại trừ khỏi dân Đức Chúa Trời theo chuẩn mực xã hội Do Thái lại có thể hành động theo điều răn lớn nhất của Ngài (Lu-ca 10:27).
Trong một mô tả tích cực khác về người Sa-ma-ri, Lu-ca 17:11–19 kể câu chuyện Chúa Giê-xu chữa mười người phung gần Sa-ma-ri, và nhấn mạnh rằng chỉ có một người quay lại tạ ơn Chúa Giê-xu, và đó là một người Sa-ma-ri (17:16). Sau cùng, trong Công vụ 8:4–25, tác giả thuật lại sự thành công của công cuộc truyền giáo đầu tiên đến với người Sa-ma-ri, khi sự giảng dạy của Phi-lip, Phi-e-rơ, và Giăng dẫn đến sự tin nhận và ăn năn.
Trái ngược với sự quan tâm của tác giả Lu-ca và Công vụ về quan hệ Do Thái–Sa-ma-ri, trong sách Tin Lành Giăng câu chuyện duy nhất liên quan đến người Sa-ma-ri được tìm thấy ở Giăng 4. Tuy nhiên, câu chuyện này cùng với những đoạn khác trong sách cho thấy có những điểm tương đồng với cách Lu-ca xử lý vấn đề. Trước hết, người Sa-ma-ri trong Giăng 4 được trình bày một cách tích cực, khi sự làm chứng của người đàn bà cho dân trong thành về Chúa Giê-xu cuối cùng dẫn đến việc họ công nhận Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. Thứ hai, cũng như Lu-ca mô tả hành động của những người Sa-ma-ri tiêu biểu đối lập với người Do Thái, thì tác giả Giăng cũng mô tả “người Giu-đa” như những kẻ sai lạc trong việc đại diện cho dân Đức Chúa Trời trước thế gian (Giăng 8:31–59), thậm chí còn xúc phạm Chúa Giê-xu bằng cách gọi Ngài là người Sa-ma-ri và gắn điều đó với niềm tin rằng Ngài bị quỷ ám. Trong khi người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng nghe và tin lời Chúa Giê-xu, thì “người Giu-đa” lại chống đối mọi điều Ngài đại diện. Những mô tả tích cực về người Sa-ma-ri trong cả Lu-ca–Công vụ và sách Giăng có thể phản ánh tình huống trong các cộng đồng của họ - nơi việc chấp nhận người Sa-ma-ri và khả năng họ làm gương cho hành vi Cơ Đốc là những điểm được bàn luận và tranh cãi.
Sự so sánh cũng có thể được thực hiện liên quan đến hình thức hay phong cách mà các truyền thống được lồng vào mỗi sách Tin Lành. Chẳng hạn, cách trình bày lời phán của Chúa Giê-xu trong các sách Cộng Quan và trong Giăng khác nhau thế nào? Các học giả từ lâu đã nhận thấy sự hiện diện của những đoạn đối thoại dài trong sách Giăng, điều này trái ngược với cách trình bày thường ngắn gọn, dồn dập trong các sách Cộng Quan. Ở một khía cạnh nào đó, những lời phán trong các sách Cộng Quan dường như bổ sung hoặc làm rõ các sự kiện trong đời sống Chúa Giê-xu, trong khi trong sách Giăng, lời phán của Ngài thường là trọng tâm, và các tường thuật chủ yếu đóng vai trò làm bối cảnh cho đối thoại. Do bản chất của việc trình bày truyền thống ban đầu trong sách Giăng, đôi khi khó nhận diện các truyền thống này, vì chúng thường được hòa nhập nhiều hơn vào đối thoại của Chúa Giê-xu so với các sách Cộng Quan. Trong trường hợp Giăng 4:1–42, cuộc đối thoại giữa người đàn bà Sa-ma-ri và Chúa Giê-xu dẫn dắt phần đầu của tường thuật (4:7–26), trong khi phần sau chủ yếu được chi phối bởi lời phán của Ngài về lao khổ (4:31–38; lời của các môn đồ chỉ có ý nghĩa trong việc tạo bối cảnh cho bài độc thoại của Chúa Giê-xu).
3.4. Vấn Đề về Cộng Đồng Giăng (Johannine Community)#
Chúng ta đã tóm lược hai quan điểm chính về Sitz im Leben của sách Tin Lành Giăng, và ảnh hưởng của nó đối với độ tin cậy lịch sử của các truyền thống mà sách này dùng để vẽ nên chân dung Chúa Giê-xu. Một số người cho rằng chính cộng đồng của tác giả đã chịu trách nhiệm cho việc biên soạn sách, một cộng đồng được sáng lập bởi “môn đồ được Chúa yêu,” và quan điểm của cộng đồng ấy nay được phản ánh trong sách Tin Lành. Cuối cùng, họ lập luận rằng sách này truyền đạt nhiều hơn về cộng đồng Giăng hơn là về Chúa Giê-xu lịch sử. Ngược lại, một số người cho rằng một phiên bản của sách đã được biên soạn khá sớm, và do đó phản ánh những hoàn cảnh lịch sử thật về Chúa Giê-xu. Quan điểm sau này không phủ nhận rằng sách đã được định hình bởi cộng đồng của nó, nhưng tìm cách khẳng định tính sớm và đáng tin cậy của các truyền thống về Chúa Giê-xu được chứa trong sách. Một yếu tố hỗ trợ cho quan điểm trung dung này là sự hiện diện của mối quan tâm và kiến thức rõ ràng về Do Thái giáo Palestine trước năm 70 trong sách Giăng.
Một trong những câu hỏi hiển nhiên liên quan đến Sitz im Leben của truyền thống phía sau Giăng 4:1–42 là tình trạng quan hệ Do Thái–Sa-ma-ri trong thế kỷ thứ nhất. Tác giả sách Tin Lành đã gợi ý điều này ở cuối Giăng 4:9 với lời tuyên bố rằng người Giu-đa không giao thiệp với người Sa-ma-ri: “Người Giu-đa chẳng hề giao thông với người Sa-ma-ri”; lời chú thích này giải thích sự kinh ngạc của người đàn bà khi được Chúa Giê-xu nói chuyện.
Liên quan đến Sitz im Leben của cộng đồng Giăng, lời tuyên bố này phục vụ mục đích gì? Bultmann lập luận rằng sự thù nghịch giữa người Sa-ma-ri và người Giu-đa hẳn đã là điều quen thuộc với độc giả của tác giả ngay cả khi không có lời chú thích này, và câu chuyện nhấn mạnh lời yêu cầu của Chúa Giê-xu như “một sự từ bỏ quan điểm Do Thái” về quan hệ Do Thái–Sa-ma-ri. Nếu đúng như vậy, lời tuyên bố này có phải nhằm nhấn mạnh tính triệt để trong cách tiếp cận của Chúa Giê-xu?
Một lý do khác cho sự hiện diện của lời này có thể là tác giả muốn chuyển sự chú ý khỏi địa vị của bà như một phụ nữ, điều mà bà đã nêu trong câu hỏi ban đầu và cũng là vấn đề mà các môn đồ nhắc lại sau đó trong tường thuật (4:27). Sự hỗ trợ thêm cho đề xuất này là tác giả ngay lập tức rời khỏi vấn đề ấy để tập trung vào bài giảng về “nước hằng sống” trong Giăng 4:10–15. Bultmann cho rằng sự chuyển đổi đột ngột này là lạ lùng, vì mối quan hệ giữa người Giu-đa và người Sa-ma-ri là một vấn đề quan trọng đối với Hội Thánh đầu tiên. Tuy nhiên, trái với Bultmann, có thể lời tuyên bố rõ ràng trong Giăng 4:9b và việc tác giả không khai triển thêm vấn đề này cho thấy rằng sự căng thẳng (giữa người Giu-đa - và trong cộng đồng Giăng, các tín hữu Do Thái - với người Sa-ma-ri) đã được giải quyết trong cộng đồng của ông vào thời điểm ấy, và do đó chỉ đóng vai trò nhắc nhở độc giả về tình huống lịch sử trong thời Chúa Giê-xu.
Một chỉ dấu quan trọng khác về Sitz im Leben của cộng đồng vào thời điểm sách Tin Lành Giăng được viết có thể được tìm thấy trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-xu và người đàn bà Sa-ma-ri về sự thờ phượng trong Giăng 4:20–26. Lý thuyết được chấp nhận rộng rãi rằng sách Giăng phản ánh tình huống xung đột giữa cộng đồng Cơ Đốc và người Do Thái tôn giáo có thể liên quan ở đây. Vấn đề là các tín hữu Do Thái đang bị trục xuất khỏi các nhà hội vì họ thờ phượng Chúa Giê-xu như Đấng Mê-si, từ đó khơi dậy cuộc thảo luận về tầm quan trọng của việc tham gia nhà hội (và các thực hành nghi lễ Do Thái khác) đối với những người theo Chúa Giê-xu.
Cuộc đối thoại giữa người đàn bà Sa-ma-ri và Chúa Giê-xu về sự thờ phượng cho thấy rằng nơi chốn thờ phượng không quan trọng bằng bản chất của sự thờ phượng, tức là sự thờ phượng “trong tâm thần và lẽ thật.” Cũng như cuộc tranh luận giữa người Sa-ma-ri và người Do Thái thời Chúa Giê-xu về nơi của đền thờ thật không được Ngài xem là quan trọng, thì điều tương tự cũng đúng cho các môn đồ về sau và sự chống đối từ phía người Do Thái. Điều đáng chú ý nữa là đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đã bị phá hủy vào thời điểm sách được viết, và do đó bài giảng này cũng có thể được thiết kế như một thông điệp an ủi cho các tín hữu. Biến cố này không hề hủy hoại như có vẻ, vì theo lời Chúa Giê-xu, sự thờ phượng thật của Đức Chúa Trời không cần diễn ra tại những nơi được chỉ định như đền thờ Giê-ru-sa-lem hay núi Ga-ri-xim. Do đó, ý nghĩa của lời Chúa Giê-xu trong Giăng 4:23 - rằng giờ đến, và đã đến rồi, khi sự thờ phượng sẽ diễn ra “trong tâm thần và lẽ thật” - là sự thờ phượng này không gắn liền với một địa điểm cụ thể.
Một manh mối khác về Sitz im Leben của cộng đồng Giăng có thể được tìm thấy trong cách Chúa Giê-xu đối xử với người đàn bà Sa-ma-ri, điều vốn trái ngược hẳn với những gì người ta mong đợi (như phản ứng của bà cho thấy). Các tín hữu, là những người theo sự dạy dỗ và gương mẫu của Chúa Giê-xu, hẳn đã hiểu đoạn này như một lời khuyên ngầm về việc chấp nhận người Sa-ma-ri trong cộng đồng mình, và như một sứ mạng có chủ ý hướng đến người Sa-ma-ri (và dân ngoại?). Câu chuyện này cũng có thể là dấu hiệu cho thấy sự thành công của công cuộc truyền giáo đầu tiên đến với người Sa-ma-ri. Một mối liên hệ khác với thái độ khẩn trương của Cơ Đốc nhân (4:23a) và sứ mạng Cơ Đốc được tìm thấy trong bài giảng về mùa gặt ở 4:34–38, dường như là một lời nhắc nhở và khích lệ cho công cuộc truyền giáo. Như vậy, bằng việc đưa những lời phán này vào 4:23, 34–38, tác giả đã kết nối các truyền thống ban đầu với tình huống hiện tại của Cơ Đốc nhân. Ý nghĩa đối với độc giả của Giăng: sứ mạng truyền giáo đến với người Sa-ma-ri (và dân ngoại) đã được chính Chúa Giê-xu ủy thác.
Những mối quan tâm khác của bình luận truyền thống-lịch sử cũng có thể được theo đuổi. Chúng bao gồm sự hiện diện của các truyền thống Cựu Ước/Do Thái được lồng vào đoạn này cùng với khả năng rằng Chúa Giê-xu đã biết và sử dụng chúng trong chức vụ của Ngài, cũng như việc tác giả sách Tin Lành sử dụng các truyền thống ban đầu này để phát triển thần học về Đấng Christ độc đáo của mình (chẳng hạn Chúa Giê-xu như một tiên tri theo mẫu Môi-se và là Đấng Mê-si Do Thái). Nhưng chừng ấy cũng đủ để cho thấy mối quan tâm và những câu hỏi của phương pháp này trong việc nghiên cứu Tân Ước.