1. CÁC SÁCH TIN LÀNH VÀ KINH THÁNH#
Các sách Tin Lành có liên hệ thế nào với Kinh Thánh của dân Israel? Lời xưng nhận Cơ Đốc sớm nhất mà chúng ta biết đã tuyên bố rằng sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu đã xảy ra “theo như lời Kinh Thánh”:
“Vì tôi đã truyền cho anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi chúng ta, theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; và hiện ra cho Sê-pha, rồi cho mười hai sứ đồ.” (1 Cô-rinh-tô 15:3–4)
Lời xưng nhận truyền thống này, được Phao-lô tiếp nhận từ cộng đồng Cơ Đốc đầu tiên và truyền lại cho tín hữu tại Cô-rinh-tô, hẳn đã được hình thành trong khoảng thời gian rất ngắn (có lẽ ba năm) giữa sự đóng đinh của Chúa Giê-xu và sự kêu gọi Phao-lô làm sứ đồ. Như vậy, ngay từ buổi ban đầu, phong trào Cơ Đốc đã đặt sự rao giảng của mình trong sự liên tục với Kinh Thánh của Israel và giải nghĩa hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong mối liên hệ với câu chuyện của Israel.
Những môn đồ đầu tiên của Chúa Giê-xu, vốn là người Do Thái đang trông đợi sự hiện đến của vương quốc Đức Chúa Trời, đã tìm cách hiểu ý nghĩa của những sự kiện lạ lùng xảy ra giữa vòng họ bằng cách suy gẫm Kinh Thánh của Israel, mà về sau Hội Thánh gọi là Cựu Ước. Niềm tin căn bản của họ là Đức Chúa Trời đã hành động theo cách bất ngờ để làm trọn những lời hứa đã phán cùng Israel, để hoàn tất toàn bộ lịch sử về sự đối xử của Ngài với dân này. Với đôi mắt được biến đổi, họ đọc và đọc lại Kinh Thánh, khám phá nơi đó những hình bóng về ân điển của Đức Chúa Trời mà họ đã được kinh nghiệm. Các bản văn Kinh Thánh, đến lượt mình, đã cung cấp một kho tàng hình ảnh và phạm trù, từ đó lời rao giảng Tin Lành được hình thành. Như vậy, ngay từ giai đoạn sớm nhất của phong trào Cơ Đốc - thậm chí ngay trong đời sống của chính Chúa Giê-xu - Kinh Thánh đã là phần không thể thiếu trong việc hình thành bản sắc và giáo huấn của cộng đồng môn đồ Ngài.
2. HAI VẤN ĐỀ BAN ĐẦU#
Trong những cách cụ thể nào các tác giả Tân Ước đã lệ thuộc vào Cựu Ước? Trước khi khảo sát câu hỏi này, cần làm sáng tỏ hai vấn đề liên quan đến việc xác định dữ liệu thích hợp.
2.1. “Cựu Ước” Là Gì?#
Những chỗ trong chương này nói đến “Cựu Ước” hay thậm chí “Kinh Thánh của Israel” đều sử dụng một lối viết tắt che giấu những vấn đề phức tạp liên quan đến một lịch sử mơ hồ. Trước hết, có những khó khăn trong việc dùng chính cụm từ “Cựu Ước.” Vì trong thế kỷ thứ nhất chưa hề có “Tân Ước,” nên thật ra cũng không thể có “Cựu Ước.” Trong thảo luận lịch sử, “Cựu Ước” là một cách gọi sai thời, mặc dù việc thay thế bằng “Hebrew Bible” hay “Hebrew Scriptures” (Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ) cũng không giải quyết được vấn đề. Một mặt, chỉ đơn giản gọi là “Hebrew Scriptures” có thể quá dễ dàng che giấu giả định rằng một tập hợp “Kinh Thánh” đã được định hình vào khoảng giữa thế kỷ thứ nhất. Điều này vẫn còn tranh luận, dù có thể giả định rằng trong giai đoạn ấy bộ quy điển Cựu Ước đã được cố định trên thực tế.
Tuy nhiên, các tác giả Tân Ước vẫn có thể gọi các sách và đoạn văn Cựu Ước là “Kinh Thánh” (γραφή, graphē; ví dụ Ma-thi-ơ 21:42; Lu-ca 4:21; Rô-ma 4:3; 1 Phi-e-rơ 2:6), và điều này cho thấy thẩm quyền của Kinh Thánh đã được xác lập ngay cả khi phạm vi của quy điển chưa được định rõ. Đáng chú ý, phần lớn những đoạn được trích bởi các tác giả Tân Ước đều nằm trong phạm vi quy điển về sau của các rabbi, mặc dù đôi khi có những trưng dẫn mà nguồn gốc không chắc chắn hoặc ngoài quy điển (ví dụ 1 Cô-rinh-tô 2:9; 9:9).
Mặt khác, việc dùng cụm từ “Hebrew Bible” trong thảo luận về cách Hội Thánh đầu tiên sử dụng Cựu Ước lại gặp khó khăn ở chỗ: trong các tác phẩm Tân Ước, các tín hữu Cơ Đốc thường trích dẫn từ Cựu Ước Hy Lạp, tức là bản Bảy Mươi (Septuagint, LXX), vốn đã có từ thế kỷ thứ ba và thứ hai trước Công nguyên. Đối với nhiều tín hữu đầu tiên, “Kinh Thánh” không phải bằng tiếng Hê-bơ-rơ.
Những vấn đề khác lại xuất hiện khi các trích dẫn Tân Ước từ Cựu Ước khác biệt với bản văn hiện có trong Bản Masoret của Hebrew Bible hoặc với LXX. Những dị biệt về hình thức văn bản giữa hai giao ước cho thấy trước hết sự hiểu biết hạn chế của chúng ta về các bản Hê-bơ-rơ có sẵn trong thế kỷ thứ nhất. Thật vậy, thủ bản đầy đủ nhất còn tồn tại, Leningrad Codex, chỉ được chép vào đầu thế kỷ thứ mười một. Thêm vào đó, chứng cứ từ các Cuộn sách Biển Chết ít nhất cũng đặt ra câu hỏi: đến mức nào có thể giả định rằng bản văn MT đã được cố định trong thời kỳ Cơ Đốc giáo sơ khai. Thứ hai, rõ ràng LXX tự nó cũng là đối tượng của những lần hiệu đính liên tục, khiến cho khó biết chắc phiên bản nào của Cựu Ước Hy Lạp đã được dùng trong việc viết, chẳng hạn, Lu-ca-Công vụ. Vì vậy, khi chúng ta nói đến Cựu Ước, câu hỏi đặt ra là: Hình thức văn bản nào của Cựu Ước?
Một yếu tố phức tạp khác liên quan đến ảnh hưởng có thể có của các Targum, hoặc ít nhất là các truyền thống targumic - tức là những bản dịch giải thích Kinh Thánh Hê-bơ-rơ sang tiếng A-ram nhằm mục đích giảng dạy trong nhà hội. Vì tiếng A-ram là ngôn ngữ chung tại vùng Cận Đông, nên việc đọc công khai Hebrew Bible hẳn đã được theo sau bằng sự dịch miệng (hoặc diễn giải) sang tiếng A-ram. Trải qua thời gian, những truyền thống giải thích này được cố định và lưu giữ dưới dạng văn bản. Dù câu hỏi về hình thức chính xác của tài liệu targumic có sẵn trong thế kỷ thứ nhất vẫn còn tranh luận, khả năng vẫn tồn tại rằng các tác giả Tân Ước đã sử dụng Cựu Ước trong những hình thức A-ram đang hình thành.
Ví dụ, trưng dẫn Kinh Thánh trong Thi-thiên 68:18 ở Ê-phê-sô 4:8 phản ánh gần với Targum về Thi-thiên hơn là bản Hê-bơ-rơ hay Hy Lạp: “Ngài đã ban ơn cho loài người” (thay vì “Ngươi đã nhận lễ vật nơi loài người”) giống với targumic: “Ngươi đã ban [tức là Luật pháp] làm lễ vật cho loài người.” Một ví dụ khác đáng chú ý là bản targumic của Lê-vi Ký 22:28: “Hỡi dân ta, con cái Israel, vì Cha chúng ta ở trên trời là Đấng nhân từ, thì các ngươi cũng phải nhân từ ở dưới đất” - một cách đọc có thể được vang vọng trong Lu-ca 6:36: “Hãy thương xót, như Cha các ngươi hay thương xót.”
Như vậy, có nhiều yếu tố làm phức tạp bất kỳ cuộc thảo luận trực tiếp nào về việc sử dụng Cựu Ước bởi các tác giả Tân Ước. Những yếu tố này bao gồm cả vấn đề về tình trạng của quy điển Cựu Ước trong thế kỷ thứ nhất và nhiều khía cạnh liên quan đến các bản văn mà các tác giả Tân Ước có và dùng. Họ trích dẫn các bản văn theo nhiều cách khác nhau, cho thấy sự tự do chọn lựa từ nhiều hình thức văn bản sẵn có những cách đọc thích hợp nhất cho mục đích trước mắt; theo cách này, họ trở thành tiền lệ lịch sử cho các nhà giảng đạo và giáo sư ngày nay, là những người chọn lựa từ nhiều bản dịch tiếng Anh của Kinh Thánh cách diễn đạt của một đoạn văn phù hợp nhất với mục tiêu giảng dạy và truyền đạt. Cũng cần lưu ý khả năng rằng các tác giả Tân Ước đã trích dẫn một số đoạn từ ký ức. Hơn nữa, như chúng ta sẽ thấy, các tác giả Tân Ước đã định hình các trích dẫn từ Cựu Ước - thậm chí sửa đổi ngôn ngữ của Cựu Ước - để thực hiện công tác giải nghĩa ngay trong cách họ trích dẫn bản văn.
2.2. Những Hình Thức Lệ Thuộc#
Hầu như mọi tác phẩm của Tân Ước đều mang dấu vết lệ thuộc vào Cựu Ước, nhưng mô hình của sự lệ thuộc ấy có thể rất đa dạng.
- Trong những cách mà các bản văn Tân Ước liên hệ với Kinh Thánh của Israel, rõ ràng nhất là trích dẫn trực tiếp, có thể có hoặc không có công thức dẫn nhập. Ví dụ, trong Lu-ca 3:3–6, chức vụ của Giăng được cho là tiếp nối lời tiên tri trong Ê-sai 40:3–5:
“Người đi khắp miền xung quanh sông Giô-đanh, giảng báp-têm ăn năn để được tha tội, như có chép trong sách lời của đấng tiên tri Ê-sai rằng: ‘Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường cho Chúa, Sửa đường lối Ngài cho thẳng. Mọi nơi thấp sẽ được lấp, Mọi núi và gò sẽ bị hạ xuống; Chỗ quanh queo sẽ làm ngay thẳng, Chỗ gồ ghề sẽ làm bằng phẳng; Hết thảy loài xác thịt sẽ thấy sự cứu của Đức Chúa Trời’”. (Lu-ca 3:3–6)
Theo quan điểm của Lu-ca, Giăng được hiểu rõ nhất như là sứ giả của Ê-sai (xem Lu-ca 1:17, 76); tác giả sách Phúc Âm này đặt Giăng và chức vụ của ông trong viễn tượng cứu rỗi lai thế học của Ê-sai. Lời trích dẫn của Lu-ca về “Tin Lành” của Ê-sai theo sát LXX nhưng không hoàn toàn. Ví dụ, Lu-ca thay “sửa đường lối Ngài cho thẳng” thay cho nguyên văn “sửa đường lối của Đức Chúa Trời chúng ta cho thẳng.” Điều này cho phép cách đọc nhận diện Đấng đến chính là Chúa Giê-xu - Đấng đã được gọi là “Chúa” trong tường thuật của Lu-ca (1:43, 76; 2:11). Thêm nữa, chữ ὁδός (hodos, “đường lối”) trong 3:5 đã thay cho πεδίον (pedion, “chỗ bằng phẳng”) trong LXX. Lu-ca đã dùng cách diễn đạt này, “đường lối” (1:76, 79), và sau đó sẽ dùng để chỉ Hội Thánh (Công vụ 9:2). Tác giả sách Phúc Âm dùng thuật ngữ này để chỉ một dân tộc đồng hóa với mục đích của Đức Chúa Trời; ở đây trong Lu-ca 3, đoạn Ê-sai này được huy động để phát triển chủ đề ấy.
Về sau trong sách Lu-ca, Chúa Giê-xu trích dẫn Cựu Ước mà không có công thức dẫn nhập hay lời tuyên bố ứng nghiệm Kinh Thánh: “Lạy Cha, tôi phó linh hồn tôi trong tay Cha” (Lu-ca 23:46; so sánh Thi-thiên 31:5). Trong trường hợp này, hình thức văn bản mà Lu-ca dựa vào không rõ ràng, vì bản trong Lu-ca vừa giống vừa khác với cả MT lẫn LXX. Dù thế nào, lời xưng “Cha” đã được thêm vào. Điều đáng chú ý là “Cha” là cách xưng hô bình thường của Chúa Giê-xu đối với Đức Chúa Trời trong sách Lu-ca; ở đây nó càng làm nổi bật ý thức của Chúa Giê-xu về mối liên hệ không gián đoạn với Đức Chúa Trời.
Trong những trường hợp khác, sự lệ thuộc của tác giả Tân Ước vào Cựu Ước được thể hiện qua những bản tóm lược lịch sử và giáo huấn của Cựu Ước. Bài giảng của Phao-lô trong Công vụ 13:16–41 là một ví dụ đáng chú ý. Ở đây, trong bối cảnh một thính giả rõ ràng là người Do Thái (“Hỡi người Israel và những kẻ kính sợ Đức Chúa Trời,” câu 16), Phao-lô nhanh chóng điểm qua lịch sử Israel từ cuộc Xuất Ai Cập cho đến hiện tại, nhấn mạnh đặc biệt đến sự quan phòng và hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời xuyên suốt câu chuyện của Israel.
Theo cách này, bài giảng được dùng để (1) khẳng định rằng sự xuất hiện của Chúa Giê-xu - Đấng Cứu Thế - cho Israel là một phần trong chuỗi dài những hành động của Đức Chúa Trời nhằm cứu chuộc Israel, và thật ra là sự ứng nghiệm lời hứa của Ngài; và (2) nhấn mạnh nhu cầu thính giả của Phao-lô (và của Lu-ca) phải đáp ứng tích cực với Tin Lành tha tội. Nghĩa là, qua việc ôn lại lịch sử cứu rỗi, Lu-ca đặt sứ mạng hiện tại của Hội Thánh, đặc biệt của Phao-lô, trong câu chuyện liên tục về sự can thiệp của Đức Chúa Trời cho Israel, đồng thời giải nghĩa câu chuyện ấy bằng cách cho thấy nó đã đạt đến cao điểm trong sự ban cho sự tha thứ qua Chúa Giê-xu.
Những bản tóm lược khác về lịch sử và giáo huấn Cựu Ước cũng xuất hiện rải rác trong Tân Ướ, ví dụ trong 1 Cô-rinh-tô 10:1–13 và trong cấu trúc tường thuật của sách Khải Huyền.
- Ảnh hưởng của Cựu Ước cũng được thấy trong việc sử dụng các cảnh mẫu trong tường thuật Tân Ước. Các cảnh mẫu (type-scenes) là một hình thức lặp lại trong tường thuật Kinh Thánh, gồm những tình tiết được cấu thành từ một chuỗi mô-típ cố định, thường gắn liền với những chủ đề lặp lại. Chúng tái hiện những sự kiện tương tự - chẳng hạn như lời báo tin về sự ra đời hay sự thử thách trong đồng vắng - bằng cách dựa vào một kho tàng hành động chung. Trong trường hợp báo tin về sự ra đời, ví dụ, những yếu tố điển hình gồm: lời báo tin về sự ra đời, tên của đứa trẻ, và tương lai của đứa trẻ.
Một ví dụ khác được tìm thấy trong Giăng 4:1–42, minh họa cảnh mẫu “sự đính hôn bên giếng nước.” Trong trường hợp này, mô hình kể lại cuộc gặp gỡ của những người sẽ trở thành vợ chồng, rồi đóng vai trò trung tâm trong lịch sử cứu rỗi. Như với các cảnh mẫu nói chung, trong trường hợp này, thính giả không chỉ nhận ra sự tương đồng của tình tiết này với những cảnh quen thuộc khác, mà còn phát hiện những khác biệt nhỏ nhưng đầy ý nghĩa, đem lại những ý nghĩa mới. Do đó, trong văn bản Giăng, điều đáng chú ý là, trái với mong đợi trong một cảnh mẫu như vậy, Chúa Giê-xu lại ban nước cho người đàn bà, thay vì nhận nước từ bà.
- Cuối cùng, sự lệ thuộc của các tác giả Tân Ước vào Cựu Ước cũng được nhận thấy qua những ám chỉ hoặc vang vọng ngôn ngữ. Ví dụ, trong 1 Cô-rinh-tô 11:7–10, Phao-lô ám chỉ đến câu chuyện sáng tạo trong Sáng-thế Ký 1–2 để hỗ trợ cho luận điểm rằng phụ nữ nên trùm đầu khi thờ phượng. Ám chỉ này rõ ràng (dù tính hợp lý của nó có thể bị tranh luận), nhưng không có trích dẫn trực tiếp nào từ văn bản Sáng-thế Ký. Khi chúng ta lắng nghe để nhận ra những vang vọng Cựu Ước trong các bản văn Tân Ước, chúng ta thấy cách mà những câu chuyện vĩ đại của Israel đã được tác giả sử dụng như một kho tàng biểu tượng và ẩn dụ, định hình sự hiểu biết và cách trình bày của tác giả về thế giới và về hành động cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Từ góc nhìn của phê bình văn học, chúng ta chú ý đến hiện tượng liên văn bản. Đây là khái niệm cho rằng mọi bản văn đều chứa đựng sự tương tác với những bản văn khác, và do đó tồn tại như một điểm nối trong một mạng lưới văn học và giải nghĩa rộng lớn hơn.
Một mặt, người ta có thể tìm hiểu cách một tác giả Tân Ước như Phao-lô đã cố ý dẫn dắt thính giả của mình vào một “phòng vang vọng,” để họ nghe trong bản văn hiện tại những âm hưởng của các bản văn khác. Như vậy, chúng ta thấy ông tự ghi mình vào truyền thống, đặt nền tảng cho nỗ lực thần học của mình trên tảng đá vững chắc của quá khứ Israel. Do đó, khi tìm cách hiểu một bản văn của Phao-lô, chúng ta có thể hỏi: Bản văn này được xây dựng trên những đoạn Cựu Ước nào?
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là qua hiện tượng liên văn bản, tác giả Tân Ước chỉ đơn giản đồng ý với và xây dựng trên một tác phẩm cũ. Thay vào đó, sự tương tác của ông với Cựu Ước có thể mang tính phỏng nhại, lặp lại một khuôn mẫu cũ hoặc vang vọng những ẩn dụ xưa để báo hiệu sự khác biệt ngay trong lòng của sự tương đồng. Trong tường thuật về sự giáng sinh (Lu-ca 1–2), ví dụ, Lu-ca không chỉ đơn giản nhấn mạnh đến khuôn mẫu và nội dung của câu chuyện về lời hứa của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham; ông giải nghĩa nó, chỉ ra sự ứng nghiệm trong Tin Lành về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu.
Mặt khác, người ta không thể chỉ đơn giản tìm hiểu về ý định của tác giả, như thể Phao-lô biết rõ ở mọi điểm ông lệ thuộc vào Cựu Ước và cố ý dệt sự lệ thuộc ấy vào bản văn. Độc giả - đặc biệt là những độc giả ngày nay ít được đào luyện trong Kinh Thánh của Israel, nhưng cũng bao gồm cả thính giả Cơ Đốc thế kỷ thứ nhất - có thể bỏ sót những âm hưởng Cựu Ước trong Phao-lô, nhưng họ cũng có thể nghe thấy những vang vọng mà Phao-lô không hề chủ ý đưa ra.
Dù mối liên hệ với một bản văn Cựu Ước tiền thân là rõ ràng hay ngầm ẩn, công tác giải nghĩa đòi hỏi phải chú ý cẩn thận đến cách mà các bản văn Tân Ước dựa vào tài liệu Kinh Thánh trước đó. Vì vậy, nghiên cứu Tân Ước gần đây đã ngày càng quan tâm đến những vấn đề văn học và thần học xoay quanh việc sử dụng Cựu Ước trong Tân Ước. Những vấn đề này đầy thách thức, bởi vì các chiến lược giải nghĩa mà các tác giả Tân Ước sử dụng thường tạo ra những cách đọc bất ngờ về các bản văn Kinh Thánh - bất ngờ vì một số cách đọc ấy khác biệt với điều mà nhiều nhà phê bình hiện đại cho là ý nghĩa nguyên thủy của bản văn Cựu Ước.
3. CÁC CÁCH TIẾP CẬN GIẢI NGHĨA#
Nói chung, có hai cách tiếp cận khác nhau đối với những câu hỏi này.
Một mặt, các nhà phê bình Tân Ước tiếp tục tinh chỉnh sự hiểu biết của họ về các phương pháp giải nghĩa của người Do Thái cổ đại và đặt các tác giả Tân Ước trong, hoặc đối nghịch với, những quy ước giải nghĩa của Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất.
Mặt khác, một số nhà phê bình Tân Ước lại lấy định hướng từ các phương pháp bình luận văn học về liên văn bản, cho rằng việc sử dụng Cựu Ước bởi các tác giả Tân Ước có thể được làm sáng tỏ bằng cách lắng nghe những ý nghĩa ẩn dụ được tạo ra khi một bản văn văn học vang vọng những tiếng nói từ các bản văn trước đó.
Hai cách tiếp cận này - lịch sử và văn học - không hề loại trừ nhau; thật vậy, sự giải nghĩa sáng tỏ nhất là khi chúng được sử dụng cùng nhau theo cách bổ trợ lẫn nhau.
3.1. Những Giả Định Căn Bản#
Không có một phương pháp cố định nào để phân tích việc sử dụng Cựu Ước bởi các tác giả Tân Ước, nhưng có thể phác thảo một số giả định và nguyên tắc căn bản.
Trước hết, cần luôn ghi nhớ rõ rằng đối với Hội Thánh trong thế kỷ thứ nhất và sang thế kỷ thứ hai, chưa hề có Tân Ước; do đó, cũng không có Cựu Ước được xem như phần đầu tiên và chưa hoàn tất của Kinh Thánh. Thay vào đó, ἡ γραφή (hē graphē, “Kinh Thánh”) đơn giản chỉ về các bản văn thánh của Israel mà ngày nay chúng ta gọi là Cựu Ước. (Những dấu hiệu đầu tiên về việc hình thành một tập hợp mới các tác phẩm có thẩm quyền chỉ xuất hiện trong tầng lớp muộn nhất của chính Tân Ước, như trong 2 Phi-e-rơ 3:15–16, vốn giả định rằng một tập hợp các thư tín của Phao-lô đang lưu hành trong Hội Thánh.) Do đó, đối với các tác giả Tân Ước, lập luận thần học phải dựa trên Cựu Ước như nền tảng thẩm quyền. Phao-lô, ví dụ, liên tục biện luận dựa trên Kinh Thánh, trong khi rất hiếm khi trực tiếp dựa vào truyền thống về sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu.
Như đã lưu ý, văn bản và quy điển của Cựu Ước chưa được cố định chính xác trong thế kỷ thứ nhất. Nguyên tắc làm việc này để ngỏ câu hỏi: các tác giả Tân Ước khác nhau có thể đã biết những hình thức văn bản nào.
Trong Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất, có nhiều phương pháp và truyền thống giải nghĩa khác nhau được biết và thực hành. Những truyền thống này phần nào cạnh tranh với nhau. Không nên nói về “giải nghĩa Do Thái” hay thậm chí “giải nghĩa rabbi” như thể đó là một hiện tượng đồng nhất. Phương pháp giải nghĩa theo lối ẩn dụ triết học của Philo (một triết gia Do Thái-Hy Lạp ở Alexandria thế kỷ thứ nhất) phát triển song song với phương pháp giải nghĩa mang tính khải huyền của các nhóm giáo phái trong Cuộn sách Biển Chết, vốn cần được phân biệt với truyền thống giải nghĩa halakhic của Do Thái giáo Pharisi-rabbi đang hình thành. Thật vậy, chính Philo đặt phương pháp giải nghĩa của mình đối nghịch với cả những người quá thiên về thuộc linh hóa Kinh Thánh lẫn những người chỉ chú ý đến nghĩa đen của Kinh Thánh.
Các tác giả Tân Ước đại diện cho một sự phát triển giải nghĩa mang tính sáng tạo riêng biệt, xuất hiện trong Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất đồng thời với những cộng đồng giải nghĩa khác. Là người Do Thái và là người ngoại liên hệ với Do Thái giáo thế kỷ thứ nhất, các tín hữu đầu tiên đã chia sẻ những giả định và thực hành của các cộng đồng Do Thái khác.
Ví dụ, giống như những người chịu trách nhiệm về Cuộn Sách Biển Chết, một số tác giả Tân Ước đã làm việc với một lối giải nghĩa lai thế học, cho phép các bản văn cổ được đọc như có liên hệ trực tiếp với những sự kiện đương thời: “Ấy là điều mà đấng tiên tri Giô-ên đã nói …” (Công vụ 2:16). Tuy nhiên, đặc biệt trong cách giải nghĩa mang tính Christ học của họ - tức là khuynh hướng đọc các bản văn Cựu Ước qua đôi mắt giải nghĩa được định hình bởi đời sống, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, cùng với kinh nghiệm về Ngài như Chúa Phục Sinh - các tín hữu đầu tiên đã phân biệt sự giải nghĩa của họ với các tác giả Do Thái đồng thời.
Bên cạnh đó, ngay trong Tân Ước cũng có những chiến lược giải nghĩa khác nhau. Ma-thi-ơ không đọc Kinh Thánh theo cùng cách như tác giả Hê-bơ-rơ. Lu-ca đặt Kinh Thánh dưới thẩm quyền bao trùm của “mục đích của Đức Chúa Trời.” Và còn nhiều nữa. Do đó, bất kỳ sự phân tích nào về việc sử dụng Cựu Ước trong Tân Ước đều phải lưu ý đến khuynh hướng và mối quan tâm giải nghĩa của từng tác giả Tân Ước riêng biệt.
- Một hệ quả của những quan sát này là việc sử dụng Cựu Ước bởi các tác giả Tân Ước hiếm khi có thể được giải thích đơn giản bằng cách tìm ra những điểm song song trong các nguồn đương thời, dù những điểm song song ấy có thể cung cấp một đối chiếu thú vị. Khả năng này đặc biệt quan trọng nếu có thể thấy rằng tác giả Tân Ước đang tham gia vào một truyền thống giải nghĩa liên tục của một số tài liệu Cựu Ước.
Một ngõ cụt mà mối quan tâm đến sự song song đã dẫn đến là việc sử dụng thuật ngữ “midrash.” Dù nó thường xuyên được dùng để mô tả cách đọc sáng tạo Kinh Thánh của các tác giả Tân Ước, “midrash” thực ra giải thích rất ít. Thuật ngữ này đơn giản có nghĩa là “giải nghĩa,” và rất khó để đưa ra một định nghĩa chính thức cho nó. Khi một tác giả Tân Ước giải nghĩa một bản văn theo cách đặc biệt, việc gọi cách sử dụng này là “midrash” thường khiến tiến trình giải nghĩa bị dừng lại quá sớm. Thật ra, chúng ta cần đặt ra những câu hỏi thực chất về cách mà sự giải nghĩa của tác giả Tân Ước vận hành: Điều gì khiến cho những kết nối sáng tạo này có thể xảy ra? Những hiệu quả nào được tạo ra trong lập luận đang triển khai của tác giả? Và độc giả được mời gọi đáp ứng như thế nào?
3.2. Những Câu Hỏi Căn Bản#
Dựa trên những suy xét này, có thể đề nghị một danh sách câu hỏi căn bản cần đặt ra khi nghiên cứu các bản văn Tân Ước cụ thể:
Những đoạn Cựu Ước nào được trích dẫn hoặc ám chỉ trong đoạn Tân Ước này? Có một khuôn mẫu nào đặc trưng cho sự chọn lựa của tác giả Tân Ước không - ví dụ, Ma-thi-ơ thường trích dẫn các đoạn tiên tri, hoặc Lu-ca thiên về Ê-sai, Thi-thiên, và Sáng-thế Ký?
Văn bản trích dẫn trong Tân Ước có tương ứng chính xác với truyền thống văn bản nào của đoạn Cựu Ước không? Nó theo MT hay LXX, hay không theo cả hai? Có vẻ như tác giả Tân Ước đã sửa đổi trích dẫn không? Nếu có, có lý do rõ ràng nào cho sự sửa đổi này không?
Nội dung nguyên thủy của đoạn văn trong bối cảnh Cựu Ước là gì? Sự giải nghĩa của tác giả có phản ánh sự nhận biết về bối cảnh nguyên thủy ấy không?
Có thể học được gì về các truyền thống giải nghĩa của đoạn văn trong những nguồn Do Thái cổ ngoài Tân Ước - ví dụ, trong chính Cựu Ước, trong Cuộn Sách Biển Chết, trong các tác phẩm của Philo, trong các Targum, trong các văn bản rabbi, v.v.? Việc sử dụng đoạn văn của tác giả Tân Ước có phản ánh hình thức hoặc nội dung của những truyền thống giải nghĩa này không?
Đoạn Cựu Ước ấy hoạt động thế nào trong lập luận hoặc tường thuật của tác giả Tân Ước? Nói cách khác, tác giả Tân Ước dùng đoạn văn ấy để làm gì?
Việc sử dụng đoạn văn ấy gợi ý gì về sự hiểu biết của tác giả Tân Ước đối với mối liên hệ giữa Israel và Hội Thánh?
4. MỘT VÍ DỤ: LU-CA 3:7–9#
Việc Lu-ca sử dụng Cựu Ước nổi bật nhất trong phần nói về Giăng là trích dẫn trực tiếp Ê-sai 40:3–5 trong Lu-ca 3:4–6. Tầm quan trọng của Cựu Ước, đặc biệt là truyền thống tiên tri, trong những câu mở đầu của Lu-ca 3 cũng được nhấn mạnh bởi các dấu mốc địa chính trị trong 3:1–2 và bởi lời tuyên bố rằng “có lời Đức Chúa Trời phán cùng Giăng” (3:2). Không rõ ràng bằng, nhưng vẫn hiện diện dồi dào, là việc sử dụng ngôn ngữ và hình ảnh Cựu Ước trong sự mô tả tiếp theo về chức vụ của Giăng; ở đây, trọng tâm được thu hẹp vào những lời cảnh báo mà Giăng công bố cho đoàn dân đến gặp ông:
“Giăng bèn nói cùng đoàn dân đến chịu phép báp-têm bởi mình rằng: ‘Hỡi dòng dõi rắn lục kia, ai đã dạy các ngươi tránh khỏi cơn thạnh nộ sẽ đến? Vậy hãy kết quả xứng đáng với sự ăn năn; chớ tự nói trong lòng rằng: Áp-ra-ham là tổ phụ chúng ta; vì ta nói cho các ngươi rằng Đức Chúa Trời có thể khiến những hòn đá nầy trở nên con cháu Áp-ra-ham được. Hiện nay cái rìu đã để kề rễ cây; vậy, cây nào không sanh trái tốt thì phải chặt và quăng vào lửa’”. (Lu-ca 3:7–9)
Giăng công bố hai lời cảnh báo cho dân chúng, cả hai đều nối tiếp ngay sau lời tuyên bố rằng địa vị đặc quyền của họ như con cháu Áp-ra-ham nay không còn chắc chắn. Trước hết, ông nhắc họ rằng họ có thể bị thay thế: “Đức Chúa Trời có thể khiến những hòn đá nầy trở nên con cháu Áp-ra-ham được.” Với những lời này, Giăng đã sử dụng nhiều hình ảnh mạnh mẽ bắt nguồn từ Kinh Thánh của Israel.
Trước hết, Lu-ca tập hợp nhiều mô-típ phục vụ cho chủ đề lớn trong đoạn này: Áp-ra-ham là tổ phụ của nhiều dân tộc. Sự quan tâm đặc biệt của Lu-ca trong việc hướng chú ý đến chất liệu liên quan đến Áp-ra-ham đã được phát triển ngay trong tường thuật về sự giáng sinh - trước hết qua những lời nhắc đến “tổ phụ chúng ta là Áp-ra-ham” và sự quan tâm đến “giao ước” trong 1:55 và 73, nhưng cũng qua nhiều ám chỉ đến câu chuyện Áp-ra-ham trong Sáng-thế Ký 11–21. Trong Lu-ca 1–2, Lu-ca đang vật lộn với sự hiểu biết rằng Áp-ra-ham chưa được làm tổ phụ của nhiều dân tộc; qua việc sử dụng câu chuyện Áp-ra-ham, Lu-ca thúc giục niềm tin rằng lời hứa của Đức Chúa Trời nay đang được thực hiện qua hành động thần thượng, vừa gợi nhớ đến việc lập giao ước, vừa gom góp những khả năng của nó trong sự hoàn tất thần thượng. Giờ đây, Lu-ca hướng sự chú ý nhiều hơn đến câu hỏi về bản chất của những người thừa hưởng lời hứa của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham.
Nghĩa là, chính vì âm hưởng dày đặc của chất liệu liên quan đến Áp-ra-ham trong Lu-ca 1–2 mà chúng ta được khích lệ, khi đọc Lu-ca 3, để nghe thêm những vang vọng của câu chuyện xưa ấy. Như vậy, ngay khi Đức Chúa Trời đã đem lời hứa cho Áp-ra-ham đến chỗ thành tựu trong tường thuật giáng sinh của Lu-ca, thì Ngài cũng đang bày tỏ khả năng khiến phát sinh con cái - trước hết là những người con cho Ê-li-sa-bét và Ma-ri, và giờ đây, rộng hơn, là con cái cho Áp-ra-ham (so sánh Sáng-thế Ký 18:14).
Vậy ai là con cái của Áp-ra-ham? Lu-ca xây dựng trên ý niệm rằng con cái phản ánh cha mẹ mình, và do đó ông đưa ra một sự đối chiếu gây kinh ngạc giữa “con cái của rắn độc” và con cái của Áp-ra-ham. Lời tuyên bố “Chúng ta có Áp-ra-ham làm tổ phụ” vì thế không chỉ nói đến Áp-ra-ham như “tổ phụ sinh sản,” và chắc chắn cũng không chỉ nói đến Áp-ra-ham như “tổ tiên.” Con cái của Áp-ra-ham được nhận diện bởi điều gì đó khác, và nhiều hơn, là một cuộc thử nghiệm huyết thống. Điều quan trọng ở đây là tính cách và nếp sống của Áp-ra-ham, vốn phải được tái hiện trong đời sống của con cái Áp-ra-ham.
Để làm rõ điểm này, Lu-ca đan xen hai dòng chảy Cựu Ước vốn đã nổi bật trong tường thuật về Giăng - tức là sự cứu rỗi lai thế học trong Ê-sai và giao ước Áp-ra-ham. Điều này được thực hiện ngầm qua việc lặp lại từ ποιέω (poieō, “làm, thực hiện”) - mượn từ Ê-sai 40:3/Lu-ca 3:4 (ποιεῖτε, poieite, “hãy sửa”) - trong 3:8–14: “Hãy kết quả (ποιήσατε, poiēsate) xứng đáng với sự ăn năn” (c. 8); “cây nào không sanh trái (ποιοῦν, poioun) tốt” (c. 9); “Vậy chúng tôi phải làm (ποιήσωμεν, poiēsōmen) gì?” (c. 10); “hãy làm (ποιείτω, poieitō) như vậy” (c. 11); “Thưa thầy, chúng tôi phải làm (ποιήσωμεν, poiēsōmen) gì?” (c. 12); và “Còn chúng tôi, phải làm (ποιήσωμεν, poiēsōmen) gì?” (c. 14). Con cái thật của Áp-ra-ham là những người sống như con cái thật của Áp-ra-ham, tức là những người sửa đường lối Chúa cho ngay thẳng.
Việc Lu-ca có thể dùng Ê-sai theo cách này và mong rằng người khác sẽ nghe thấy những âm hưởng ấy trong tác phẩm của ông được gợi ý bởi mức độ ông lệ thuộc vào Ê-sai xuyên suốt tác phẩm. Trong sách Tin Lành thứ ba, người kể chuyện chỉ trích dẫn trực tiếp Ê-sai ba lần: trong 3:4–6 (Ê-sai 40:3–5); 4:18–19 (Ê-sai 61:1–2; 58:6); và 22:37 (Ê-sai 53:12). Nhưng những ám chỉ quan trọng xuất hiện ở nhiều chỗ khác: trong 2:30–32 (Ê-sai 52:10; 42:6; 49:6); 7:22 (Ê-sai 26:19; 29:18; 35:5–6; 61:1); 8:10 (Ê-sai 6:9–10); 19:46 (Ê-sai 56:7); 20:9 (Ê-sai 5:1–2), và đó mới chỉ là bắt đầu để đếm những âm hưởng phong phú của chất liệu Ê-sai trong sách Tin Lành thứ ba.
Vậy chúng ta phải hiểu thế nào về lời Giăng nhắc đến “những hòn đá”? Người ta có thể nghe thấy âm hưởng mờ nhạt của sự chọn lựa dân Đức Chúa Trời - tức là sự chọn lựa và hình thành một dân tộc, dân Đức Chúa Trời, trong cuộc Xuất Ai Cập và băng qua sông Giô-đanh, cùng với những hòn đá được dùng để ghi nhớ sự kiện này (so sánh Giô-suê 4). Hoặc có lẽ những hòn đá đơn giản chỉ là ẩn dụ cho sự vô tri vô giác (so sánh Lu-ca 19:40; Công vụ 17:29).
Tuy nhiên, điều có lẽ đáng chú ý hơn là cách ba yếu tố này - khải tượng cứu rỗi của Ê-sai, huyết thống Áp-ra-ham, và mô-típ hòn đá - được kết hợp trong một đoạn Ê-sai khác, Ê-sai 51:1b–2:
“Hãy nhìn xem hòn đá mà các ngươi đã bị đục ra, và hầm đá mà các ngươi đã bị đào ra. Hãy nhìn xem Áp-ra-ham, tổ phụ các ngươi, và Sa-ra, người đã sinh ra các ngươi; vì khi ta gọi người, người chỉ có một, nhưng ta đã ban phước cho người và khiến người trở nên nhiều.”
Với một sự kết hợp tương tự của các hình ảnh, Giăng truyền đạt khả năng, thậm chí là ý định của Đức Chúa Trời, trong việc dựng nên một dân mới, khiến sự sống phát sinh từ chỗ vô tri vô giác - bao gồm cả những người trong đoàn dân đã ra gặp Giăng. Ông nhấn mạnh thêm tầm quan trọng căn bản của nếp sống, vốn xác định ai là con cái thật của Áp-ra-ham. Do đó, dù tình trạng của những “dòng dõi rắn lục” này là nghiêm trọng, nó không phải là vô vọng, vì Đức Chúa Trời có thể làm điều không thể và đem sự sống ra từ chỗ vô tri. Tuy nhiên, “con cái của Áp-ra-ham” sẽ là những người tiếp nhận mục đích của Đức Chúa Trời và hành động phù hợp (so sánh Lu-ca 16:24–31).
Một lời cảnh báo thứ hai theo sau - tức là viễn cảnh về sự phán xét. Giăng dùng hai hình ảnh sống động để truyền đạt tính cấp bách của sứ điệp mình. Trước hết, cây không kết quả sẽ bị chặt đi - một ẩn dụ về sự phán xét cũng được tìm thấy trong Ê-sai 10:33–34; Wisdom 4:3–5; Sirach 6:3, và về sau được Chúa Giê-xu sử dụng (Lu-ca 13:6–9). Cụm từ “hiện nay” nhấn mạnh sự cần thiết của phản ứng tức thì, vì sự phán xét của Đức Chúa Trời đã gần kề.
Ẩn dụ thứ hai mà Giăng dùng là lửa, một hình ảnh cũng quen thuộc từ Cựu Ước. Đặc biệt đáng chú ý là Ma-la-chi 4:1, nơi ngày của Chúa được ví như một lò lửa, trong đó “mọi kẻ kiêu ngạo và mọi kẻ làm ác” sẽ bị thiêu đi, đến nỗi “chẳng còn rễ, cũng chẳng còn nhánh”; và Ê-sai 66:24, được vang vọng mạnh mẽ hơn trong Lu-ca 3:17, là nơi nói rằng những kẻ phản nghịch Đức Chúa Trời sẽ bị phán xét bằng lửa không hề tắt. Trong mỗi trường hợp, những kẻ bị phán xét được xem là đối nghịch với mục đích của Đức Chúa Trời, và vì lý do đó họ bị chặt bỏ và thiêu trong lửa phán xét. Bằng cách liên kết những hình ảnh này với hiện tại như Giăng đã làm, và bằng cách nhấn mạnh rằng những ai thật sự đứng về phía mục đích của Đức Chúa Trời phải bày tỏ nếp sống thích hợp, Giăng làm nổi bật sự cần thiết của sự sẵn sàng ngay bây giờ. Ông khơi dậy một cơn khủng hoảng, khiến thính giả phải suy xét về bản chất của những nếp sống ấy, những kết quả ấy.
Ngay cả khi thu hẹp phạm vi khảo sát chỉ trong vài câu này, chúng ta vẫn có thể cảm nhận được mức độ mà Cựu Ước hiện diện trong “bầu không khí” khi đọc Lu-ca 3:1–20 như một tổng thể, và điều này cho thấy những gì chúng ta có thể tìm thấy xuyên suốt sách Lu-ca, và thật ra là cả Tân Ước. Trong trường hợp cụ thể này, những âm hưởng Cựu Ước hoạt động theo nhiều cách. Chúng giúp xác định danh tính của Giăng như một tiên tri, nối tiếp với các tiên tri xưa vốn được biết đến qua các bản văn Cựu Ước. Chúng cũng hữu ích trong việc thiết lập sự hiểu biết của Lu-ca về “thời điểm”: chức vụ của Giăng liên tục với công trình đang tiến hành của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời cũng tham dự vào thời điểm hoàn tất của công trình ấy.
Với những âm hưởng Cựu Ước này, Lu-ca tiếp tục sự khẳng định thần học mà ông đã bắt đầu một cách đầy ý nghĩa trong Lu-ca 1–2, gắn kết câu chuyện khởi đầu của phong trào Chúa Giê-xu một cách chắc chắn với tường thuật liên tục về mục đích cứu chuộc duy nhất của Đức Chúa Trời. Câu chuyện về mục đích của Đức Chúa Trời không hề bị quên lãng, cũng không bị tuyên bố là vô hiệu. Trái lại, câu chuyện ấy tiếp tục được viết ra, ở đây qua chính ngòi bút của Lu-ca, khi những lời hứa ấy được đưa đến chỗ thành tựu. Phong trào mà thính giả của Lu-ca tham dự, tức cộng đồng Cơ Đốc rộng lớn hơn, không gì khác hơn là sự bày tỏ của mục đích xưa kia của Đức Chúa Trời.