Bình luận tường thuật tập trung vào các câu chuyện trong văn chương Kinh Thánh và tìm cách đọc những câu chuyện ấy với những hiểu biết rút ra từ lĩnh vực bình luận văn chương hiện đại ngoài đời. Mục tiêu là xác định tác động mà các câu chuyện được kỳ vọng sẽ gây ra cho độc giả của chúng.
Trong nghiên cứu Tân Ước, bình luận tường thuật được thực hành chủ yếu với bốn sách Tin Lành và sách Công Vụ. Không ai nghi ngờ rằng các sách này thuật lại những câu chuyện, nhưng những hiểu biết bình luận văn chương liên quan đến truyện kể và nghệ thuật kể chuyện đôi khi đã bị bỏ qua bởi các học giả nghiên cứu các sách ấy.
Dưới sự chi phối của học thuật bình luận lịch sử, các sách trong Kinh Thánh thường được xem như nguồn tài liệu cho việc tái dựng lịch sử hơn là những tác phẩm văn chương tự thân. Bằng cách sử dụng các phương pháp như bình luận nguồn, bình luận thể loại, và bình luận biên tập, các học giả Tin Lành đã có thể học biết về đời sống và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu, cũng như hiểu thêm về những mối quan tâm của các tín hữu đầu tiên, là những người đã soạn ra các văn bản mà nay chúng ta có về Ngài. Tuy nhiên, vào thập niên 1980, mối quan tâm của các học giả này đã mở rộng để bao gồm việc khảo sát chức năng của các văn bản ấy như văn chương - nghĩa là, như những hình thức truyền thông có tác động đến những người tiếp nhận hoặc trải nghiệm chúng.
Phần lớn, bình luận tường thuật không trở thành lĩnh vực dành cho những ai bác bỏ tiến trình hoặc kết luận của bình luận lịch sử, nhưng lại thu hút những người cho rằng ngoài bình luận lịch sử thì cũng cần có một cách tiếp cận khác nữa. Dẫu rằng các sách Tin Lành có thể hoạt động như những ghi chép mang tính lịch sử quan trọng, thì chúng cũng có thể hoạt động như những câu chuyện khơi gợi trí tưởng tượng, thúc giục sự ăn năn, khích lệ sự thờ phượng, và nhiều điều khác nữa. Nói cách khác, bình luận lịch sử có thể được xem như cách nhìn các tường thuật Kinh Thánh như cửa sổ giúp chúng ta học biết về một thời và một nơi khác; còn bình luận tường thuật thì xem cùng những văn bản ấy như tấm gương mời gọi độc giả tham gia vào việc kiến tạo ý nghĩa. Đối với nhà bình luận tường thuật, các văn bản định hình cách độc giả hiểu chính mình và hoàn cảnh hiện tại của họ.
1. MỘT VÀI NGUYÊN TẮC CĂN BẢN#
Khi các học giả Kinh Thánh tìm đến lý thuyết văn chương ngoài đời để được hướng dẫn, họ có thể gặp phải một sự hỗn tạp khó chịu của nhiều tiếng nói. Lĩnh vực bình luận văn chương hiện đại bao gồm một loạt hệ thống và phương pháp rộng lớn, vốn được xây dựng trên những quan niệm chú giải đa dạng về ngôn ngữ và sự truyền thông. Bình luận tường thuật được thực hành trong nghiên cứu Tân Ước là một ngành học tổng hợp, vay mượn từ nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm bình luận hùng biện, cấu trúc luận, và bình luận phản ứng độc giả. Phương pháp này vẫn đang trong tiến trình phát triển, nhưng một số nguyên tắc được chấp nhận rộng rãi có thể được nhận diện.
1.1. Tác Giả Hàm ý#
Bình luận tường thuật tìm cách giải nghĩa các văn bản dựa trên tác giả hàm ý của chúng hơn là dựa trên tác giả thật sự trong lịch sử. “Tác giả hàm ý” được các nhà bình luận tường thuật hiểu là quan điểm từ đó tác phẩm dường như đã được viết ra, một quan điểm mà độc giả phải tái dựng dựa trên những gì họ tìm thấy trong câu chuyện. Trong nghiên cứu ngoài đời, khái niệm tác giả hàm ý lần đầu tiên được phát triển bởi các nhà bình luận hình thức, những người muốn giải nghĩa câu chuyện theo chính điều kiện của nó mà không viện dẫn đến bất cứ yếu tố nào bên ngoài văn bản. Thông tin tiểu sử liên quan đến ý định hoặc tính cách của tác giả không nên bị áp đặt lên câu chuyện. Chúng ta có thể biết rằng Jonathan Swift quan tâm đến mối quan hệ giữa Tin Lành và Công Giáo ở Ireland, nhưng vì vấn đề này không được đề cập rõ ràng trong Gulliver’s Travels, nên ý nghĩa của tác phẩm ấy không nên bị giới hạn bởi một ứng dụng quá hẹp như vậy. Thật ra, trong nghiên cứu văn chương, một “tác phẩm kinh điển” theo định nghĩa là một tác phẩm tiếp tục mang ý nghĩa trong những thời điểm và bối cảnh mà tác giả ban đầu không hề hình dung tới.
Khái niệm tác giả hàm ý có ý nghĩa quan trọng trong việc giải nghĩa những tác phẩm có nhiều tác giả hoặc là vô danh. Ngay cả một tác phẩm không có tác giả thật sự - chẳng hạn như một câu chuyện được hình thành qua thời gian bằng cách được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác - cũng có thể được nghiên cứu theo quan điểm của tác giả hàm ý của nó. Dù tiến trình hình thành một tường thuật diễn ra thế nào, nó vẫn luôn bày tỏ những giá trị, niềm tin, và nhận thức nhất định có thể được mô tả như là đại diện cho tác giả hàm ý của nó.
Vì vậy, đối với các nhà bình luận tường thuật, những câu hỏi như sách Tin Lành của Lu-ca có được viết bởi một người bạn đồng hành của Phao-lô hay không, hoặc vị Tin Lành gia ấy có lấy một phần tài liệu từ sách Tin Lành của Mác hay từ một tài liệu Q đã thất lạc, đều không liên quan. Những câu hỏi này có ý nghĩa đối với các nhà bình luận lịch sử, là những người muốn đưa ra phán đoán về độ tin cậy lịch sử của tác phẩm của Lu-ca hoặc muốn xác định ý định thần học của người biên tập sách Tin Lành ấy. Nhưng chúng không có ý nghĩa trong việc thưởng thức và hiểu sách Tin Lành của Lu-ca như một tác phẩm văn chương hoàn chỉnh, vốn trong mọi trường hợp phải được giải nghĩa từ quan điểm của tác giả hàm ý.
1.2. Độc Giả Hàm ý#
Bình luận tường thuật tìm cách xác định những tác động mà các câu chuyện được kỳ vọng sẽ gây ra cho độc giả hàm ý của chúng, mà không xét đến mọi tác động có thể xảy ra đối với độc giả thật sự. Khái niệm độc giả hàm ý song song với khái niệm tác giả hàm ý. Độc giả hàm ý là người hiện thực hóa tiềm năng ý nghĩa trong một văn bản, người đáp ứng với nó theo những cách phù hợp với kỳ vọng mà chúng ta có thể gán cho tác giả hàm ý của nó.
Khái niệm độc giả hàm ý là một cấu trúc mang tính gợi ý, cho phép các nhà bình luận giới hạn tính chủ quan trong phân tích của họ bằng cách phân biệt giữa phản ứng riêng của họ đối với một tường thuật và những phản ứng mà văn bản dường như mời gọi. Hầu hết chúng ta đều đã biết cách làm điều này trong đời sống hằng ngày. Chúng ta có thể bị xúc phạm bởi một câu chuyện mà ta cho là thiếu tế nhị và nói: “Tôi đáng lẽ phải thấy nó buồn cười, nhưng tôi không cảm thấy như vậy.” Hoặc chúng ta có thể thấy chán một tiểu thuyết và nói: “Tôi đáng lẽ phải thấy nó đáng sợ, nhưng tôi không cảm thấy như vậy.” Trong những trường hợp như vậy, chúng ta xác định rằng mình được kỳ vọng sẽ phản ứng với các văn bản ấy khác với cách chúng ta thật sự phản ứng. Về mặt văn chương, chúng ta có thể nhận diện cách mà độc giả hàm ý sẽ đáp ứng, dù phản ứng của chúng ta với tư cách độc giả thật sự có thể khác.
Dựa trên cơ sở nào chúng ta đưa ra những xác định như vậy? Chúng ta không cần tác giả phải nói thẳng rằng ông hay bà ấy kỳ vọng chúng ta thấy câu chuyện buồn cười hay đáng sợ. Thay vào đó, nhận thức của chúng ta về phản ứng kỳ vọng được xây dựng trên sự nhận biết rằng những câu chuyện được viết ra để gây cười hoặc gây sợ thường được kể theo những cách đặc thù. Tương tự, các nhà bình luận tường thuật tin rằng việc chú ý đến những dấu hiệu văn chương giúp họ xác định những tác động mà văn chương Tân Ước được kỳ vọng sẽ gây ra cho độc giả hàm ý của nó.
Các nhà bình luận tường thuật khác với các nhà bình luận lịch sử ở chỗ những người sau thường tìm cách xác định tác động mà một văn bản được dự định gây ra cho một nhóm độc giả thật sự cụ thể, tức là cộng đồng mà văn bản ấy ban đầu được gửi đến. Sự tập trung vào độc giả nguyên thủy thường định nghĩa ý nghĩa của văn bản với mức độ cụ thể hơn so với cách tiếp cận của bình luận tường thuật. Khi các nhà bình luận tường thuật xác định những tác động mà một văn bản được kỳ vọng gây ra cho độc giả hàm ý của nó, họ thường khám phá ra một phạm vi ý nghĩa có thể có nhiều ứng dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau. Do đó, bình luận tường thuật thường cởi mở hơn với tính đa nghĩa (nhiều tầng ý nghĩa) so với bình luận lịch sử, mặc dù khái niệm độc giả hàm ý cũng đặt ra giới hạn cho điều này.
Nếu bình luận lịch sử định nghĩa ý nghĩa dựa trên tác động dự định của một văn bản đối với một nhóm độc giả cụ thể, thì một số trường phái bình luận phản ứng độc giả lại tìm cách định nghĩa ý nghĩa theo những cách bao quát mọi tác động có thể mà một văn bản có thể gây ra cho những người đọc nó trong bất kỳ bối cảnh hay tình huống nào. Bình luận tường thuật chiếm vị trí trung gian trên phổ này, tìm cách định nghĩa phạm vi tiềm năng ý nghĩa cho độc giả hàm ý của văn bản.
1.3. Tiến Trình Chuẩn Mực của Việc Đọc#
Khi khảo sát những tác động kỳ vọng của văn bản trên độc giả hàm ý, các nhà bình luận tường thuật đưa ra một số giả định về tiến trình chuẩn mực của việc đọc. Họ giả định, chẳng hạn, rằng tường thuật phải được đọc tuần tự và trọn vẹn, với mọi phần đều liên hệ đến toàn bộ tác phẩm. Do đó, chúng ta không thể xác định tác động kỳ vọng của một đoạn trong sách Tin Lành của Lu-ca bằng cách xem đoạn ấy như một khối văn bản biệt lập, mà chỉ có thể xác định bằng cách xét vai trò của đoạn ấy trong toàn bộ câu chuyện. Và chúng ta có thể giả định rằng độc giả mong muốn sự nhất quán và sẽ tạo ra những liên kết cần thiết để giải quyết những căng thẳng bề ngoài trong văn bản theo hướng giải nghĩa nhất quán nhất.
Tiến trình đọc chuẩn mực cũng giả định rằng độc giả biết một số điều. Để xác định tác động mà sách Tin Lành của Lu-ca được kỳ vọng gây ra cho độc giả, chúng ta phải giả định rằng họ biết người Sa-ma-ri là ai, một viên đội trưởng làm gì, một đồng đê-na-ri-út trị giá bao nhiêu, và những điều tương tự. Mặt khác, việc xác định tác động kỳ vọng của một tác phẩm thường tùy thuộc vào giả định rằng độc giả không biết một số điều. Chẳng hạn, độc giả của sách Tin Lành của Mác không được kỳ vọng đã đọc sách Tin Lành của Lu-ca, và do đó độc giả hàm ý của sách Mác không nghĩ về Chúa Giê-xu như một người được sinh ra từ trinh nữ.
Việc đọc chuẩn mực bao hàm một giao ước ngầm, theo đó độc giả đồng ý chấp nhận những động lực của thế giới câu chuyện được thiết lập bởi tác giả hàm ý. Nếu một câu chuyện có các loài vật biết nói, chúng ta được kỳ vọng sẽ tạm gác sự hoài nghi và chấp nhận rằng trong câu chuyện ấy mọi sự là như vậy. Trong thế giới câu chuyện của sách Tin Lành Lu-ca, Đức Chúa Trời phán ra tiếng từ trời, những phép lạ kỳ diệu là chuyện thường tình, và loài người tự do tương tác với các loài linh như thiên sứ và ma quỷ. Bình luận tường thuật phản đối mọi nỗ lực “giải huyền thoại” những yếu tố ấy bằng cách xác định những biến cố lịch sử thật sự nào có thể đã gợi hứng cho các câu chuyện. Thay vào đó, tác động kỳ vọng của câu chuyện chỉ có thể được xác định nếu chúng ta tiếp nhận quan điểm của độc giả chấp nhận những yếu tố ấy và các yếu tố khác của câu chuyện như thật, ít nhất là “thật” trong thế giới của câu chuyện.
Theo cùng hướng đó, bình luận tường thuật giải nghĩa các câu chuyện từ quan điểm của độc giả hàm ý, là những người được giả định chấp nhận hệ thống giá trị làm nền cho các câu chuyện họ đọc. Nhiều độc giả ngày nay sẽ bị xúc phạm bởi những câu chuyện mô tả cao bồi là tốt và người da đỏ là xấu, nhưng chúng ta nhận biết rằng phản ứng này được định hình bởi những nhận thức mà độc giả hàm ý của các câu chuyện ấy không được kỳ vọng chia sẻ. Chúng ta có quyền bình luận hoặc bác bỏ những câu chuyện bày tỏ giá trị và niềm tin trái ngược với chính mình, nhưng nếu muốn hiểu những câu chuyện ấy, chúng ta phải ít nhất giả vờ tiếp nhận những giá trị đó để xác định tác động mà chúng được kỳ vọng gây ra trên những độc giả được giả định suy nghĩ theo cách ấy.
Những giả định làm nền cho các sách Tin Lành Tân Ước bao gồm niềm tin rằng quan điểm của Đức Chúa Trời định nghĩa lẽ thật, và rằng Kinh Thánh Hê-bơ-rơ có thể là kim chỉ nam đáng tin cậy để xác định quan điểm thần thượng này. Vì bình luận tường thuật đòi hỏi các văn bản phải được giải nghĩa từ quan điểm đức tin mà độc giả của chúng được giả định nắm giữ, nên các nhà bình luận tường thuật có thể được yêu cầu tập trung trí tưởng tượng theo hướng ngược lại với hướng mà các nhà bình luận lịch sử phải theo. Trong khi các nhà bình luận lịch sử được kỳ vọng tạm gác những cam kết đức tin để giải nghĩa văn bản từ quan điểm của những sử gia khách quan, vô tư, thì các nhà bình luận tường thuật lại được kỳ vọng tạm tiếp nhận những cam kết đức tin để xác định cách mà văn bản được kỳ vọng tác động đến độc giả hàm ý của nó.
2. PHÂN TÍCH TƯỜNG THUẬT#
Trong thực hành, bình luận tường thuật là một tiến trình phức tạp, đòi hỏi sự chú ý đến nhiều động lực văn chương khác nhau. Chúng ta sẽ liệt kê một vài điểm quan trọng nhất, rồi xem xét cách mà việc lưu ý đến một số điểm này có thể ảnh hưởng đến sự giải nghĩa một đoạn Kinh Thánh điển hình.
2.1. Sắp Xếp Các Biến Cố#
Thứ tự mà một tường thuật thuật lại các biến cố là quan trọng, bởi vì độc giả được kỳ vọng sẽ xem xét mỗi tình tiết mới dưới ánh sáng của những gì đã xảy ra trước đó. Đôi khi các tường thuật thuật lại biến cố “không theo thứ tự” bằng cách trình bày hồi tưởng về những gì đã xảy ra trước (Mác 6:17–29), hoặc bằng cách bao gồm những lời tiên đoán hay ám chỉ báo trước những gì sẽ xảy đến (Lu-ca 2:34–35).
2.2. Thời Lượng và Tần Suất của Biến Cố#
Nhận thức của độc giả về các biến cố trong một tường thuật có thể bị ảnh hưởng bởi dung lượng dành cho việc thuật lại từng tình tiết, hoặc bởi số lần một biến cố nào đó được nhắc đến trong câu chuyện. Một tường thuật có thể lướt nhanh qua những biến cố diễn ra trong nhiều năm (Lu-ca 2:52), rồi lại thuật lại chi tiết những sự việc chỉ diễn ra trong vài phút hoặc vài giờ (Lu-ca 23:26–49). Tương tự, một tường thuật có thể chỉ với một lần nhắc đến cho biết rằng một điều gì đó xảy ra nhiều lần (Lu-ca 22:39), hoặc có thể nhắc đi nhắc lại nhiều lần về một điều chỉ xảy ra một lần (Lu-ca 9:22, 44; 18:31–34; 24:7).
2.3. Mối Liên Hệ Nguyên Nhân Kết Quả#
Khi tìm cách hiểu một tường thuật, độc giả đặc biệt chú ý đến những mối liên hệ được thiết lập giữa các biến cố được thuật lại. Những mối liên hệ điển hình bao gồm những chỉ dẫn rõ ràng hoặc ngầm định rằng một biến cố gây ra biến cố khác, hoặc ít nhất khiến cho biến cố kế tiếp có thể hoặc có khả năng xảy ra. Trong một số tác phẩm văn học (bao gồm các tường thuật Tân Ước), những mối liên hệ nhân quả như vậy có thể mang tính mục đích luận, nghĩa là các biến cố hiện tại không chỉ bị ảnh hưởng bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ, mà còn bởi những gì nhất định phải xảy ra trong tương lai (Lu-ca 24:26).
2.4. Xung Đột#
Hầu như mọi tường thuật đều chứa yếu tố xung đột, vốn thúc đẩy cốt truyện và lôi cuốn độc giả vào việc phân định những khuynh hướng đối nghịch. Cách mà các xung đột này được phát triển và giải quyết có ảnh hưởng lớn đến trải nghiệm của độc giả đối với câu chuyện. Chẳng hạn, một xung đột bị bỏ ngỏ thường tác động trực tiếp đến độc giả, khiến họ phải tự quyết định mình sẽ làm gì nếu vấn đề được giao cho họ. Do đó, độc giả của Lu-ca 15:25–32 không được cho biết người con cả đáp lại lời cha mình về việc tiếp nhận người em hoang đàng như thế nào, nhưng được kỳ vọng tự hỏi: “Nếu ta là người ấy thì ta sẽ làm gì?”
2.5. Nhân Vật#
Cách mà nhân vật được trình bày trong một tường thuật đặc biệt quan trọng để xác định tác động mà tường thuật được kỳ vọng gây ra cho độc giả. Nhân vật có thể đơn giản và dễ đoán, như những người Pha-ri-si trong phần lớn các câu chuyện Tin Lành, hoặc có thể bày tỏ nhiều đặc điểm đa dạng, như các môn đồ của Chúa Giê-xu, được mô tả là sáng suốt trong một trường hợp (Lu-ca 8:10) nhưng lại thiếu hiểu biết trong trường hợp khác (Lu-ca 9:44–45). Nhân vật có thể giữ nguyên tính cách suốt câu chuyện, hoặc có thể phát triển và thay đổi để đáp ứng với những gì xảy ra khi câu chuyện tiến triển.
2.6. Cách Khắc Họa Nhân Vật#
Các nhà bình luận tường thuật quan tâm không chỉ đến việc chúng ta biết gì về nhân vật trong một câu chuyện, mà còn đến cách chúng ta biết điều đó. Nhận thức của độc giả về nhân vật có thể được hình thành bởi lời bình của người kể chuyện (Lu-ca 1:6), bởi tường thuật về lời nói, hành động, hoặc nhận thức của chính nhân vật (Lu-ca 1:8–12), hoặc bởi tường thuật về lời nói, hành động, hoặc nhận thức của những người khác (Lu-ca 1:22).
2.7. Sự Đồng Cảm#
Tác động mà một tường thuật gây ra trên độc giả thường được xác định bởi sự đồng cảm mà họ cảm nhận với những nhân vật cụ thể trong câu chuyện. Sự đồng cảm có thể mang tính thực tế, khi độc giả tin rằng họ thật sự giống như những nhân vật ấy; hoặc mang tính lý tưởng, khi nhân vật có những phẩm chất hoặc kinh nghiệm mà độc giả mong muốn noi theo. Sự đồng cảm thật sự của độc giả với nhân vật thì không thể đoán trước, nhưng những dấu hiệu văn chương đôi khi cho thấy những nhân vật mà độc giả được kỳ vọng sẽ đồng cảm. Chẳng hạn, khi Chúa Giê-xu kể dụ ngôn Người Sa-ma-ri nhân lành (Lu-ca 10:30–37), việc Ngài xác định rõ ràng rằng khán giả của Ngài là một thầy dạy luật (10:25) khuyến khích độc giả nghe câu chuyện từ quan điểm này và đồng cảm với những nhân vật trong câu chuyện mà người ấy có khả năng đồng cảm nhất (thầy tế lễ và người Lê-vi, vốn cũng là những nhà lãnh đạo tôn giáo như thầy dạy luật).
2.8. Quan Điểm#
Các tường thuật thường trình bày nhiều quan điểm khác nhau về những gì đang diễn ra trong câu chuyện, và độc giả được kỳ vọng xem một số quan điểm là đáng tin cậy hơn những quan điểm khác. Trong các tường thuật Tân Ước, quan điểm của Đức Chúa Trời là chuẩn mực cho lẽ thật, và quan điểm của người kể chuyện luôn đáng tin cậy. Khi Đức Chúa Trời phán rằng Chúa Giê-xu là “Con yêu dấu” (Lu-ca 3:22), hoặc khi người kể chuyện trong sách Tin Lành của Lu-ca nói rằng Chúa Giê-xu “đầy dẫy Đức Thánh Linh” (Lu-ca 4:1), độc giả không được kỳ vọng phải nghi ngờ liệu những điều ấy có thật hay không. Tương tự, quan điểm của các thiên sứ, các tiên tri, và chính Chúa Giê-xu đều được cho là đáng tin cậy trong sách Tin Lành của Lu-ca, bởi vì chúng luôn đồng thuận với quan điểm được bày tỏ bởi Đức Chúa Trời và người kể chuyện. Nhưng khi đoàn dân xưng Chúa Giê-xu là một tiên tri (Lu-ca 7:16), độc giả có thể được kỳ vọng xem xét quan điểm này với sự mơ hồ, vì đoàn dân cũng nghĩ rằng Chúa Giê-xu là Giăng Báp-tít sống lại từ cõi chết, một quan điểm rõ ràng là sai (Lu-ca 9:7, 19).
2.9. Bối Cảnh#
Không gian, thời gian, và bối cảnh xã hội của các biến cố có thể quan trọng đối với cách độc giả hiểu những gì được thuật lại trong một tường thuật. Độc giả có thể phản ứng khác nhau với câu chuyện nếu một biến cố xảy ra trên núi (Lu-ca 9:28–36) hoặc trên thuyền (Lu-ca 5:3–11), vào ngày Sa-bát (Lu-ca 6:1–5) hoặc buổi chiều tối (Lu-ca 4:40), trong chốn riêng tư (Lu-ca 6:12), hoặc giữa đoàn dân đông (Lu-ca 6:17–18).
2.10. Biểu Tượng#
Các tường thuật thường sử dụng lối nói bóng và ngôn ngữ biểu tượng mà độc giả được kỳ vọng hiểu theo cách vượt quá sự áp dụng theo nghĩa đen nhất (Lu-ca 17:37). Do đó, “vác thập tự giá” có thể biểu thị đời sống từ bỏ chính mình, vốn là dấu hiệu của tất cả những ai theo Chúa Giê-xu, chứ không chỉ dành cho những người chịu tử đạo thật sự qua sự đóng đinh (Lu-ca 9:23). Bối cảnh cũng có thể được thấm nhuần ý nghĩa biểu tượng, chẳng hạn một tiệc cưới có thể biểu thị niềm vui hay sự hân hoan (Lu-ca 5:34), và mùa đông có thể trở thành biểu tượng cho những gian khổ trong cơn đau đớn tận thế (Mác 13:18; Lu-ca 21:29–31).
2.11. Lối Nói Mỉa Mai#
Các tường thuật được cho là có tính mỉa mai khi chúng chứa những dấu hiệu văn chương cho thấy độc giả được kỳ vọng giải nghĩa câu chuyện theo cách trái ngược với cách giải nghĩa ban đầu tưởng chừng hiển nhiên. Chẳng hạn, một dụ ngôn mỉa mai trong sách Tin Lành của Lu-ca trình bày một người Pha-ri-si cảm tạ Đức Chúa Trời vì ông không giống như một người thâu thuế nào đó, mà không nhận ra rằng chính người thâu thuế mới là người được Đức Chúa Trời xem là công bình (Lu-ca 18:9–14).
2.12. Liên Văn Bản#
Đôi khi các tường thuật giả định rằng độc giả đã quen thuộc với những văn bản khác, và vì thế tự do vay mượn từ các mô-típ mà những văn bản ấy sử dụng. Độc giả của sách Tin Lành Lu-ca được giả định là quen thuộc với các tác phẩm trong Cựu Ước, và có thể được kỳ vọng nhận ra những ám chỉ đến các tác phẩm ấy ngay cả khi không có trích dẫn rõ ràng. Do đó, độc giả hàm ý của Lu-ca có thể được kỳ vọng hiểu việc Chúa Giê-xu khiến con trai của một người góa phụ sống lại trong 7:11–17 như một phép lạ gợi nhớ đến những phép lạ mà Ê-li và Ê-li-sê đã làm trong 1 Các Vua 17:17–24 và 2 Các Vua 4:32–37.
2.13. Mẫu Hình Cấu Trúc#
Phản ứng của độc giả đối với một tường thuật cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những mẫu hình diễn ngôn qua đó câu chuyện được kể. Những mẫu hình này có thể mang tính thi ca, sử dụng sự lặp lại, nhịp điệu, vần, hoặc điệp âm. Chúng cũng có thể mang hình thức sắp xếp hợp lý nội dung dựa trên một sơ đồ tổng quát, cụ thể hóa, hoặc tương tự. Chẳng hạn, trong sách Tin Lành của Lu-ca, bốn lời phán bắt đầu bằng chữ “Phước” (6:20–22) được đối chiếu với bốn lời phán bắt đầu bằng chữ “Khốn” (6:24–26).
3. MỘT VĂN BẢN MẪU: Lu-ca 3:1–20#
3.1. Một Vài Đặc Điểm Văn Chương#
Phần tường thuật của Lu-ca mà các bản Kinh Thánh hiện đại gọi là “chương 3” bắt đầu với câu chuyện về chức vụ của Giăng Báp-tít đối với dân Y-sơ-ra-ên. Một số đặc điểm văn chương của câu chuyện này rất đáng chú ý.
Về sự sắp xếp các biến cố, câu chuyện không kết thúc như chúng ta thường mong đợi, tức là với việc Giăng làm báp-têm cho Chúa Giê-xu, nhưng lại kết thúc bằng việc Giăng bị Hê-rốt bỏ tù (3:19–20). Dù việc Chúa Giê-xu chịu báp-têm hẳn đã xảy ra trước khi Giăng bị bắt, chúng ta chỉ được thuật lại điều đó sau này (3:21). Một tác động của việc thuật lại các biến cố theo thứ tự này là tạo ra một sự ngắt quãng rõ rệt cho độc giả giữa câu chuyện của Giăng và của Chúa Giê-xu. Câu chuyện về chức vụ của Chúa Giê-xu không bắt đầu cho đến khi chức vụ của Giăng về cơ bản đã kết thúc. Do đó, chúng ta được khuyến khích xem công việc của hai người này như bổ túc cho nhau hơn là cạnh tranh nhau.
Về bối cảnh, thời điểm cho chức vụ của Giăng được xác định rất chính xác (3:1–2), trong khi không gian chỉ được mô tả đơn giản là “khắp miền xung quanh sông Giô-đanh” (3:3). Hơn nữa, việc xác định thời điểm còn bao gồm những tham chiếu đến nhiều vùng địa lý, cho chúng ta biết ai là những người cai trị tại La Mã, Giu-đê, Ga-li-lê, Y-tu-rê và Tra-chô-nít, cùng A-bi-lên. Độc giả của Lu-ca được kỳ vọng nhận ra rằng những gì được thuật lại ở đây mang ý nghĩa trọng đại cho lịch sử - không chỉ cho lịch sử của những người sống quanh vùng sông Giô-đanh, mà còn cho lịch sử của cả thế giới (so sánh 3:6).
Biểu tượng được thể hiện rõ trong những lời từ sách Ê-sai mà người kể chuyện trích dẫn để mô tả công việc của Giăng (3:4–6). Độc giả của Lu-ca không tưởng tượng rằng Giăng thật sự kêu gọi san bằng núi hay lấp đầy thung lũng, nhưng nhận ra rằng những hình ảnh này tượng trưng cho điều ông muốn nói về sự ăn năn: một sự sắp xếp lại đời sống con người để chuẩn bị cho việc tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời (3:6). Nhưng các biểu tượng vốn dĩ mơ hồ và mời gọi độc giả suy xét nhiều cách áp dụng khác nhau. Ở những chỗ khác trong Lu-ca, ngôn ngữ nâng lên và hạ xuống được dùng cho sự đảo lộn xã hội (1:52), cho sự hiếu khách trong cộng đồng (14:11), và cho sự xưng công bình của cá nhân trước mặt Đức Chúa Trời (18:14). Theo hướng này, độc giả hàm ý của Lu-ca có lẽ được kỳ vọng sẽ dịch lại những biểu tượng này vào các bối cảnh thích hợp cho thế giới riêng của họ bên ngoài câu chuyện. Do đó, độc giả của Lu-ca được mời gọi suy xét xem đâu là những thung lũng, núi non, chỗ quanh co, hay đường gồ ghề trong đời sống họ cần được biến đổi.
Một yếu tố mỉa mai được đưa vào khi Giăng, người có vai trò chuẩn bị cho dân Y-sơ-ra-ên tiếp nhận Đấng Mê-si (so sánh Công vụ 19:4), lại bị lầm tưởng chính mình là Đấng Mê-si (3:15). Sự mỉa mai này lại được nhân đôi sau đó trong tường thuật khi Đấng Mê-si thật sự đến mà lại bị lầm tưởng là Giăng Báp-tít (Lu-ca 9:7, 19).
Liên văn bản rõ ràng là một đặc điểm nổi bật của câu chuyện này, vì sách Ê-sai được trích dẫn một cách minh nhiên, giả định rằng độc giả của câu chuyện không chỉ quen thuộc với những lời ấy mà còn chấp nhận chúng là đáng tin cậy và có thẩm quyền (3:4–6; so sánh Isa 40:3–5). Những ám chỉ liên văn bản ít rõ ràng hơn cũng có thể được tìm thấy. Cụm từ “lời Đức Chúa Trời đến cùng Giăng” trong 3:2 gợi nhớ những lời tương tự rải rác khắp Cựu Ước (Giê 1:2; Ô-sê 1:1; Giô-ên 1:1; Giô-na 1:1; Mi-chê 1:1; Sô-phô-ni 1:1; A-ghê 1:1; Xa-cha-ri 1:1). Độc giả của Lu-ca được kỳ vọng quen thuộc với ngôn ngữ này và nhận ra rằng nó đánh dấu Giăng là một tiên tri (so sánh Lu-ca 1:76; 7:26). Và sự nhắc đến “miền xung quanh sông Giô-đanh” (3:3) được kỳ vọng gợi nhớ hình ảnh Cựu Ước về sông Giô-đanh như lối vào đất hứa (Giô-suê 3). Do đó, bối cảnh không gian của câu chuyện này được thấm nhuần ý nghĩa biểu tượng tinh tế qua một liên kết liên văn bản: phép báp-têm ăn năn của Giăng cho phép dân sự bước vào trong lĩnh vực của lời hứa Đức Chúa Trời và chuẩn bị họ để tiếp nhận điều lớn hơn những gì chính ông có thể ban cho (3:16).
Những quan sát văn chương này về Lu-ca 3:1–20 có thể thú vị, mỗi điểm đều có giá trị riêng, nhưng cuối cùng một phân tích bình luận tường thuật sẽ mong muốn tạo ra một sự đọc liên tục của văn bản, nhằm diễn đạt tác động tổng thể của nó. Để làm điều này với đoạn Kinh Thánh cụ thể này, việc chú ý đến hai vấn đề dường như là điều thiết yếu.
3.2. Mối Liên Hệ của Câu Chuyện với Toàn Bộ Tường Thuật#
Độc giả của Lu-ca không gặp Giăng Báp-tít lần đầu tiên trong câu chuyện này. Họ đã có những ấn tượng và kỳ vọng về ông từ những chi tiết được trình bày trước đó trong tường thuật về sự ra đời của ông (1:5–25, 57–80). Nhiều kỳ vọng ấy nay được ứng nghiệm. Độc giả đã nghe trước rằng Giăng sẽ là một tiên tri (1:76), và việc trình bày ông như người nhận được lời của Chúa xác nhận điều này (3:2). Độc giả đã nghe rằng ông sẽ dọn đường cho Chúa (1:76), và nay người kể chuyện trích dẫn lời của Ê-sai để chỉ ra rằng ông đang làm chính điều đó (3:4). Độc giả đã nghe rằng ông sẽ ban cho dân sự “sự hiểu biết về sự cứu rỗi bởi sự tha tội của họ” (1:77), và quả thật, Giăng nay đang chuẩn bị dân sự cho sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời (3:6) bằng cách ban cho họ phép báp-têm ăn năn “để được tha tội” (3:3).
Nhiều mối liên hệ cũng có thể được thấy giữa những gì được trình bày ở đây và những gì sẽ đến sau này trong tường thuật. Giăng cảnh báo dân sự đừng thay thế sự ăn năn bằng việc kêu cầu Áp-ra-ham (3:8), và sau này chúng ta sẽ nghe một người giàu có làm chính điều đó (16:24, 27, 30). Giăng đưa ra hình ảnh cây không sinh trái bị chặt bỏ (3:9), hình ảnh này sẽ lại được dùng trong các dụ ngôn của Chúa Giê-xu (13:6–9). Giăng khuyên chia sẻ của cải (3:11), một đặc điểm sau này sẽ đánh dấu các tín hữu tại Giê-ru-sa-lem trong sách Công vụ (2:44–45). Giăng bảo những người thâu thuế chỉ thu những gì thuộc về họ (3:12–13), và sau này chúng ta sẽ gặp một người thâu thuế hứa sẽ đền trả cho bất cứ ai mà ông đã gian lận (19:8).
Ngoài những mối liên hệ cụ thể này, Giăng Báp-tít trong đoạn này cũng được trình bày như người đưa ra những lời hứa hoặc tiên đoán về những biến cố sẽ đến. Giăng nói về một Đấng quyền năng hơn sẽ đến (3:16), một lời báo trước được ứng nghiệm theo một nghĩa nào đó gần như ngay lập tức khi Chúa Giê-xu chịu báp-têm và bắt đầu chức vụ của Ngài. Nhưng Giăng đặc biệt hứa rằng Đấng ấy sẽ làm báp-têm cho dân sự bằng Đức Thánh Linh, và phần lời hứa này chỉ được ứng nghiệm trong tập hai của tường thuật (Công vụ 2:4). Cuối cùng, Giăng cũng nói về Đấng đến như một quan án sẽ phân biệt lúa mì với rơm rạ (3:17), một hình ảnh mà độc giả của Lu-ca sẽ liên hệ với vai trò mà Chúa Giê-xu sẽ thực hiện vào thời kỳ cuối cùng (Công vụ 10:42). Lời của Giăng vì thế đưa ra một sự báo trước về những gì sẽ đến trong câu chuyện này, trong phần tiếp theo của nó, và trong một câu chuyện khác nữa chưa được kể.
Độc giả, vì thế, được kỳ vọng xem Lu-ca 3:1–20 như phần thúc đẩy chính cho toàn bộ cốt truyện của tường thuật. Những gì xảy ra ở đây khởi động các biến cố mà phần còn lại của tác phẩm hai tập sẽ quan tâm - những biến cố “làm rúng động cả thế gian” (Công vụ 17:6). Bằng chứng cho điều này có thể được rút ra từ những đoạn như Công vụ 1:22 và 10:37, nơi chức vụ của Giăng Báp-tít được dùng để xác định thời điểm khởi đầu của những gì sẽ được hoàn tất qua Chúa Giê-xu và các môn đồ của Ngài.
Cốt truyện của tác phẩm hai tập của Lu-ca chủ yếu liên quan đến kế hoạch của Đức Chúa Trời để đem sự cứu rỗi cho mọi người. Có lẽ trở ngại lớn nhất cho kế hoạch này trong câu chuyện của Lu-ca là sự tự tin giả dối hoặc sự tự công bình của các nhà lãnh đạo tôn giáo, những người nghĩ rằng họ không cần sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời ban, và cũng không muốn thấy sự cứu rỗi ấy được ban cho người khác (5:30–32; 7:29–30; 18:9). Ngay trong đoạn này, chúng ta đã thấy chủ đề của tác phẩm hai tập được bày tỏ rõ ràng, đó là “mọi loài xác thịt đều sẽ thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời” (3:6). Nhưng cũng ngay từ đầu, tiềm năng cho xung đột đã được nêu ra qua lời cảnh báo lạ lùng của Giăng: “Chớ bắt đầu nói trong lòng rằng: ‘Chúng ta có Áp-ra-ham làm tổ phụ’” (3:8). Trong bối cảnh trực tiếp, lời cảnh báo này dường như vô nghĩa, vì chưa ai nói như vậy. Nhưng khi câu chuyện của Lu-ca tiếp tục, độc giả sẽ nhận ra rằng Giăng đã xác định ngay từ đầu một xung đột trọng tâm sẽ xuyên suốt toàn bộ tường thuật.
3.3. Nhận Diện Nhân Vật#
Độc giả của Lu-ca được giới thiệu một loạt nhân vật trong 3:1–20. Ở một cực là Giăng Báp-tít, người nhận được lời của Đức Chúa Trời (3:2), và ở cực kia là Hê-rốt, người mà người kể chuyện gán cho “những việc ác” (3:19). Độc giả rõ ràng được kỳ vọng xem Giăng là nhân vật chính (người hùng) và Hê-rốt là nhân vật phản diện (kẻ ác) trong phần này của câu chuyện. Nhưng còn đoàn dân thì sao, những nhân vật dường như chiếm vị trí trung lập đâu đó giữa hai cực này? Một mặt, đoàn dân đến cùng Giăng để chịu báp-têm (3:7) và dường như thật sự quan tâm đến việc học biết họ phải làm gì (3:10). Mặt khác, họ lại là đối tượng của những lời nghiêm khắc mà Giăng nói (3:7–9), và họ dường như không hiểu đúng khi tự hỏi liệu ông có phải là Đấng Mê-si không (3:15).
Đoàn dân thể hiện tiềm năng cho sự phát triển tích cực hoặc tiêu cực, và vì thế họ là những nhân vật trong đoạn này mà độc giả sẽ đồng cảm một cách thực tế nhất. Tuy nhiên, sự đồng cảm này không trọn vẹn. Việc độc giả của Lu-ca biết những điều mà đoàn dân không biết - chẳng hạn rằng Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si (2:11) - đặt họ vào một vị trí đặc quyền, cho phép họ giữ khoảng cách với đoàn dân. Dẫu vậy, độc giả của Lu-ca vẫn được kỳ vọng nghe lời của Giăng từ quan điểm của đoàn dân và cùng với họ hỏi rằng: “Vậy thì chúng ta phải làm gì?” Việc đưa ra ba câu trả lời mẫu cho câu hỏi này (3:11, 13, 14) lôi cuốn độc giả suy xét những câu trả lời khác có thể có. Nếu đây là điều Giăng nói với những người có dư của cải, với những người thâu thuế, và với những người lính, thì ông sẽ nói gì với chúng ta? Chúng ta phải dọn đường cho Chúa thế nào? Những “trái xứng đáng với sự ăn năn” nào được kỳ vọng nơi chúng ta? Đôi khi, bình luận tường thuật có thể phát hiện những “khoảng trống” trong một tường thuật mà độc giả được kỳ vọng nhận ra và tìm cách lấp đầy, dù bình luận tường thuật không thể dự đoán cách mà độc giả thật sự sẽ lấp đầy những khoảng trống ấy. Vì thế, trong trường hợp này, bình luận tường thuật có thể phát hiện những câu hỏi mà độc giả hàm ý của Lu-ca được kỳ vọng tự hỏi, dù nó không thể dự đoán những câu trả lời mà độc giả thật sự sẽ đưa ra khi họ tự hỏi những điều ấy.
Giăng Báp-tít cũng được trình bày như một nhân vật mời gọi sự đồng cảm của độc giả trong đoạn này. Ông đóng vai trò như một nhân vật mẫu cho điều được gọi là “sự đồng cảm lý tưởng.” Độc giả có thể không cảm thấy mình giống Giăng Báp-tít nhiều, nhưng giả định nền tảng của tường thuật là họ sẽ muốn giống ông. Đáng chú ý, sách Tin Lành của Lu-ca không hề nhắc đến việc Giăng mặc áo lông lạc đà hay ăn châu chấu và mật ong rừng (Mác 1:6), những chi tiết có thể khiến ông trở nên kỳ lạ và tạo khoảng cách với độc giả của Lu-ca. Thay vào đó, trong câu chuyện này, ông xuất hiện như một nguyên mẫu của một nhà truyền giảng Tin Lành điển hình. Ông rao giảng Phúc Âm (3:18) và ban cho dân sự sự cứu rỗi qua sự tha tội (3:3, 6).
Thật vậy, sau này các giáo sĩ Cơ Đốc sẽ dường như noi theo Giăng khi họ bắt đầu công bố “sự ăn năn và sự tha tội” (24:47), và khi họ khuyên dân sự “hãy ăn năn và chịu báp-têm” (Công vụ 2:38) hoặc “làm những việc xứng đáng với sự ăn năn” (Công vụ 26:20; so sánh Lu-ca 3:8). Giống như Giăng, họ sẽ được kêu gọi tránh sự vinh hiển bị gán sai cho mình (Công vụ 10:25–26; 14:11–18). Giống như Giăng, họ sẽ phải mạnh mẽ đối diện với các vua chúa gian ác, để đem lời chứng trước mặt vua chúa và quan tổng đốc (21:12). Công việc của Giăng được mô tả trong nguyên văn Hy Lạp của Lu-ca 7:27 là “đi làm sứ giả trước mặt Chúa,” và những lời này cũng được dùng để mô tả công việc của các môn đồ Chúa Giê-xu trong Lu-ca 9:52 và 10:1. Dù độc giả của Lu-ca có thể biết rằng về mặt lịch sử Giăng Báp-tít không phải là một Cơ Đốc nhân, câu chuyện trong sách Tin Lành của Lu-ca trình bày ông theo cách cho phép ông trở thành một người hùng đối với độc giả Cơ Đốc. Ông là một nhân vật truyền cảm hứng mà các tín hữu sẽ mong muốn noi theo.
4. BÌNH LUẬN TƯỜNG THUẬT LÀM VÀ KHÔNG LÀM GÌ#
Bình luận tường thuật được hiểu tốt nhất như một chìa khóa trong số nhiều chìa khóa sẵn có cho những người giải nghĩa Kinh Thánh. Khi được sử dụng đúng cách, nó có thể mở ra một số cánh cửa và đem lại những hiểu biết nhất định mà có thể không đạt được bằng cách khác. Nhưng nó sẽ không mở mọi cánh cửa hay trả lời mọi câu hỏi mà người ta đặt ra về Kinh Thánh và về ý nghĩa của các văn bản Kinh Thánh.
Những phản đối đối với bình luận tường thuật thường tập trung vào những điều mà phương pháp này không thể làm. Các nhà bình luận lịch sử đôi khi phàn nàn rằng nó xem các văn bản chỉ như những câu chuyện thay vì như những ghi chép về những khoảnh khắc quan trọng trong lịch sử. Các nhà bình luận văn chương theo hướng độc giả có thể thấy khái niệm độc giả hàm ý quá hạn hẹp và cáo buộc các nhà bình luận tường thuật bỏ qua sự đa dạng phong phú của những phản ứng tiềm năng mà độc giả thật sự mang đến cho văn bản. Những lời bình luận như vậy dựa trên những quan sát chính xác về những gì bình luận tường thuật làm và không cố gắng làm, nhưng chúng bỏ lỡ trọng điểm nếu giả định rằng sự cam kết với bình luận tường thuật ngăn cản một người cũng nghiên cứu văn bản bằng những cách khác.
Những phản đối mang tính ý thức hệ đôi khi được đưa ra chống lại bình luận tường thuật với lý do rằng việc chấp nhận quan điểm của độc giả hàm ý ngăn cản đối thoại với những điều đáng phản đối trong văn bản. Do đó, nếu độc giả hàm ý của một sách Tin Lành được kỳ vọng có quan điểm gia trưởng hoặc chống Do Thái, thì nhà bình luận tường thuật sẽ buộc phải giải nghĩa văn bản từ quan điểm đó. Nhưng các nhà bình luận tường thuật không hề bị ép buộc phải cá nhân chấp nhận những cách giải nghĩa mà phương pháp của họ dẫn họ đến. Bình luận tường thuật chỉ đơn giản xác định cách mà chúng ta, với tư cách độc giả, được kỳ vọng sẽ bị tác động bởi văn bản nếu chúng ta đọc nó từ quan điểm mà văn bản giả định rằng chúng ta có. Việc chúng ta, với tư cách độc giả thật sự, chấp nhận, bỏ qua, hay chống lại phản ứng được kỳ vọng nơi độc giả hàm ý là vấn đề của sự lựa chọn cá nhân. Thật mỉa mai, những người ủng hộ “cách đọc kháng cự” vốn đưa ra lời cáo buộc này chống lại bình luận tường thuật thường chính họ cũng thực hành bình luận tường thuật, dù vô tình, để xác định điều mà họ muốn chống lại.
Những phản đối khác đối với bình luận tường thuật tập trung vào cách mà phương pháp này thật sự được thực hành. Chẳng hạn, các nhà bình luận tường thuật có thể bị cáo buộc là áp dụng một cách phi thời đại những khái niệm hiện đại vào văn chương cổ, hoặc xem các sách Tin Lành như thể chúng là tiểu thuyết hay tác phẩm hư cấu. Những lời phê bình như vậy có thể có giá trị. Bình luận tường thuật là một ngành học tương đối mới, và các thủ tục của nó vẫn đang được thử nghiệm trong lò luyện của học thuật. Chính các nhà bình luận tường thuật cũng đã nhận thấy rằng một số cách tiếp cận hiệu quả hơn những cách khác, và họ liên tục chỉnh sửa công việc của mình dựa trên những hiểu biết mới nảy sinh.
Đối với những người đã tiếp nhận bình luận tường thuật, sức hấp dẫn chính là cơ hội để nghiên cứu các câu chuyện Kinh Thánh theo chính điều kiện của chúng - như những câu chuyện, thay vì chỉ như những nguồn cho sự suy gẫm lịch sử hoặc thần học. Đối với hầu hết các tín hữu Cơ Đốc, nguồn sống và sức sống không thể thiếu của đức tin không phải là một sự tái dựng lịch sử còn nhiều nghi ngờ, cũng không phải là một tập hợp các nguyên tắc giáo lý rút ra từ Kinh Thánh. Nguồn ấy, đúng hơn, chính là những câu chuyện của Kinh Thánh, được ghi nhớ, trân trọng, và giải nghĩa trong hình thức tường thuật của chúng. Bằng cách tôn trọng đặc tính văn chương của những câu chuyện này, bình luận tường thuật có thể chú tâm đến điều mà nhiều người cho rằng phải là một chiều kích trong toàn bộ công tác thần học của việc giải nghĩa Kinh Thánh.