Skip to main content

Chương 13: Vai Trò của Độc Giả trong Việc Giải Nghĩa Tân Ước

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God
Table of Contents

1. VÌ SAO LẠI LÀ “ĐỘC GIẢ” TRONG SỰ NGHIÊN CỨU TÂN ƯỚC?
#

Một chương bàn về độc giả trong sự nghiên cứu Tân Ước thoạt nhìn có vẻ không thích hợp trong một tập sách dành cho sự giải nghĩa Tân Ước đương đại. Sau hết, đã có những độc giả Tân Ước từ buổi ban đầu: “Độc giả thì các ngươi hằng có cùng mình.” Há chẳng phải độc giả hiện diện trong mọi phương pháp giải nghĩa Kinh Thánh, vì chính độc giả chọn một phương pháp nào đó - dù là bình luận văn bản, bình luận lịch sử, cấu trúc luận, v.v. - rồi áp dụng nó trên những đoạn văn cụ thể sao? Chẳng phải Aristotle đã nghiên cứu ảnh hưởng của văn bản trên độc giả trong tác phẩm Rhetoric của ông sao?

Gần đây, tuy nhiên, độc giả đã trở thành tâm điểm trong các cuộc thảo luận về lý thuyết văn chương cũng như về sự giải nghĩa Kinh Thánh. Thật vậy, có những nhà bình luận nói đến một phong trào giải phóng độc giả. Vậy độc giả từ trước đến nay chưa được tự do làm gì? Câu trả lời của ngày càng nhiều nhà lý thuyết văn chương là: “tạo nghĩa.” Đọc không chỉ là sự tiếp nhận mà còn là sự sản xuất; độc giả không phải chỉ khám phá nhưng còn sáng tạo ra ý nghĩa. Ít nhất, sẽ chẳng có ý nghĩa nào cả nếu không có độc giả đang đọc. Điều ở trong văn bản chỉ là tiềm năng cho ý nghĩa. Ý nghĩa không được thực hiện bởi tác giả tại điểm khởi sinh của văn bản, nhưng bởi độc giả tại điểm tiếp nhận văn bản. Nếu chúng ta so sánh văn bản với một cái giếng, thì chúng ta nên ví ý nghĩa với điều gì: với nước trong giếng, với cách thức múc nước, hay với sự uống nước? Trong chương này tôi sẽ khảo sát một số phương pháp giải nghĩa đương đại đặt vai trò ưu tiên cho “sự đáp ứng” của độc giả. Trước hết tôi sẽ xét đến những lý do, cả văn chương lẫn triết học, cho sự nổi bật và tự do mới mẻ của độc giả.

1.1. Đọc như Một Quá Trình Mang Nặng Lý Thuyết: Giải Thích Triết Học
#

Gốc rễ triết học của bình luận phản ứng độc giả (Reader Response Criticism) rốt cuộc trở về với “Cuộc cách mạng Copernicus” của Kant. Trong khi Descartes định nghĩa tri thức như là một “tâm trí” nắm bắt một “đối tượng,” thì Kant lập luận rằng người biết đóng góp điều gì đó cho đối tượng của tri thức. Tâm trí không chỉ phản chiếu mà còn kiến tạo đối tượng của nó, xử lý những cảm giác bên ngoài bằng những khái niệm riêng của tâm trí. Như Copernicus đã gợi ý rằng mặt trời không xoay quanh trái đất nhưng trái đất xoay quanh mặt trời, thì Kant cũng gợi ý rằng tâm trí không tương ứng với thế giới, nhưng thế giới tương ứng với tâm trí. Tâm trí chủ động tham dự vào sự kiến tạo tri thức. Đây là tinh túy trong sự bình luận siêu hình học của Kant, tức cuộc tìm kiếm cho sự mô tả chân thật - một sự giải nghĩa khái niệm duy nhất đúng - về thực tại tối hậu. Nhưng trong khi Kant tin rằng mọi người đều giải nghĩa thế giới bằng cùng một tập hợp phạm trù, thì ngày nay hầu hết các triết gia cho rằng không có một khuôn khổ khái niệm nào duy nhất đem lại chân lý tuyệt đối hay cái nhìn từ mắt Đức Chúa Trời về thế giới. Điều người ta múc được từ giếng của thế giới tùy thuộc vào loại gàu mà người ta dùng.

Sự so sánh với sự giải nghĩa văn chương là chính xác: chúng ta không nhận thức văn bản như chính nó, nhưng chỉ như văn bản được tâm trí con người kiến tạo và cấu trúc. Sự bình luận của Kant đã được các nhà lý thuyết văn chương hướng vào “siêu hình học” của ý nghĩa. Chủ nghĩa hiện thực trong giải nghĩa - quan niệm rằng có điều gì đó có trước sự đọc mà sự đọc phải tương ứng với nó - ngày càng khó bảo vệ. Thomas Kuhn, một triết gia khoa học, lập luận rằng mọi sự quan sát đều mang nặng lý thuyết. Mỗi nhà khoa học thuộc về một cộng đồng nào đó mà công cuộc nghiên cứu được định hướng bởi một “mẫu hình” hay khuôn khổ giải nghĩa đặc thù. Đối với Kuhn, bối cảnh của nhà khoa học trong một cộng đồng nhất định ảnh hưởng đến loại câu hỏi sẽ được đặt ra. Nhà phản hiện thực trong giải nghĩa khẳng định rằng có nhiều tập hợp phạm trù giải nghĩa đều hợp lệ như nhau để xử lý văn bản và sản xuất ý nghĩa. Nếu mọi sự đọc đều bị điều kiện lịch sử và mang nặng lý thuyết, thì chẳng có sự đọc nào là khách quan, và độc giả trở thành, hầu như mặc nhiên, yếu tố quyết định trong sự giải nghĩa.

1.2. Ba Thời Kỳ của Bình luận: Giải Thích Văn Chương
#

Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng như vậy. Bình luận văn chương chỉ dần dần mới nhận ra tầm quan trọng của những cuộc cách mạng triết học và khoa học này. Độc giả truyền thống, thiên về Descartes hơn là Kant, tin rằng sự khách quan trong giải nghĩa là có thể. David J. A. Clines nhận xét rằng sự chấm dứt của lối tư duy Descartes chỉ mới bắt đầu được cảm nhận trong ngành nghiên cứu Kinh Thánh: “Hầu hết các học giả đang hoạt động dường như viết như thể họ vẫn còn theo đuổi một cuộc tìm kiếm cho những ý nghĩa khách quan, xác định.” Vậy điều gì là cái gì đó độc lập với tâm trí hay độc lập với độc giả mà sự đọc đúng phải tương ứng? Phần lớn các nhà chú giải Kinh Thánh từ thời Cải chánh đều cho rằng đó là ý định của tác giả. Chính ý muốn của tác giả để nói điều này thay vì điều kia, với một chuỗi từ ngữ nhất định trong một bối cảnh lịch sử nhất định, được xem là yếu tố quyết định của ý nghĩa văn bản và là đối tượng của cuộc tìm kiếm của người giải nghĩa. Tóm lại, ý nghĩa văn bản xác định, tức ý nghĩa được neo giữ và cố định, là chức năng của hoạt động tác giả. Do đó, “thời kỳ thứ nhất” của bình luận thuộc về tác giả.

Cuộc cách mạng Copernicus của Kant đã làm phức tạp thêm cuộc tìm kiếm này. Cũng vậy, sự nhận thức tiếp theo rằng con người là những hữu thể lịch sử. Chúng ta, với tư cách độc giả, cách xa tác giả, cả về thời gian lẫn về khả năng hiểu biết. Và còn có một yếu tố thứ ba chen vào giữa độc giả và tác giả: ngôn ngữ.

Ba yếu tố này - tâm trí, thời gian, ngôn ngữ - đối với nhiều người, tạo thành một màn chắn không thể xuyên thấu. Nhưng đó là một màn chắn trên đó độc giả “chiếu” hình ảnh hay cấu trúc của điều họ nghĩ tác giả (và ý định của ông hay bà) giống như thế nào. Theo Roland Barthes, “tác giả” là một hư cấu tiện lợi đem lại ảo tưởng về một ý nghĩa ổn định và xác định. Thay vì là nguyên nhân, đối với Barthes, tác giả là một hệ quả của văn bản.

Tuy nhiên, một tác giả hư ảo chẳng tốt hơn việc không có tác giả nào cả. Barthes vì thế tuyên bố tác giả đã “chết,” vang vọng lời tuyên bố trước đó của Nietzsche về sự chết của Đức Chúa Trời. Thật vậy, hai cái chết này có liên hệ, vì cả hai đều là biến thể của chủ đề phản hiện thực. Feuerbach lập luận rằng “Đức Chúa Trời” chỉ là sự chiếu ra của tư tưởng loài người; Barthes, một cách tương tự, lập luận rằng “ý định của tác giả” là sự chiếu ra của việc đọc. Chính Nietzsche đã thấy rõ hệ quả của chủ nghĩa phản hiện thực này: nếu chúng ta không thể khám phá bản chất của thực tại, thì chúng ta phải sáng tạo nó. Barthes đồng ý: “Một khi Tác giả bị loại bỏ, thì việc tuyên bố giải mã một văn bản trở nên hoàn toàn vô ích.… Sự ra đời của độc giả phải trả giá bằng sự chết của Tác giả.”

Vậy điều gì hiện nay đóng vai trò chuẩn mực cho sự giải nghĩa sau khi tác giả đã qua đi? Ý nghĩa có thật sự hiện hữu, bằng cách nào đó, “trong” văn bản không? Có điều gì độc lập với tiến trình đọc mà có thể khiến độc giả phải chịu trách nhiệm chăng? Chân lý có nằm ở đáy giếng, hay chỉ là sự giải nghĩa xuyên suốt? Sau tác giả, liệu vẫn còn có cách để phán đoán sự giải nghĩa là sai hay đúng? Hoặc, nói theo Dostoyevsky, nếu không có Tác giả, thì mọi sự (trong giải nghĩa) đều được phép chăng? Bắt đầu với New Criticism trong thập niên 1940 và tiếp tục qua structuralism trong thập niên 1960, các nhà bình luận văn chương đã cố gắng tìm một nguyên tắc cho ý nghĩa xác định dựa trên văn bản mà thôi, được xem như một thực thể tự trị khỏi tác giả của nó. Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1960, sự chú ý đã tập trung vào vai trò của độc giả trong việc giải mã và sử dụng văn bản. Trong thập niên 1970, Hans Robert Jauss lập luận rằng các nhà sử học văn chương nên chuyển sự chú ý khỏi tác giả và tác phẩm của họ để nghiên cứu độc giả cùng với những kỳ vọng và mối quan tâm mà độc giả đem đến cho văn bản. Chúng ta không thể nghiên cứu văn bản như chính nó, nhưng chỉ có thể nghiên cứu lịch sử về cách độc giả đã tiếp nhận nó. Nếu ý nghĩa không hiện hữu bằng cách nào đó “trong” văn bản, thì việc đọc giống như “thả gàu xuống những giếng trống” (Cowper). Với ý tưởng này, cuộc cách mạng Copernicus của Kant được hoàn tất.

2. VAI TRÒ CỦA ĐỘC GIẢ
#

2.1. Độc Giả và Sự Đọc: Một Vài Tiền Giả Định
#

Những phát triển triết học đã đóng vai trò bà mụ cho sự ra đời của độc giả. Vậy chính xác điều gì đã được sinh ra? Vì sao độc giả đọc và họ làm gì ngoài việc đưa mắt từ trái sang phải trên trang giấy? Câu trả lời truyền thống là chúng ta đọc để hiểu - để nắm bắt ý nghĩa của tác giả. Bình luận phản ứng độc giả, trái lại, liên hệ ý nghĩa với cách thức văn bản được tiếp nhận bởi độc giả: ý nghĩa không chỉ được tái sản xuất mà còn được sản xuất.

  1. Vị trí của độc giả: Ai? Khi nào? Ở đâu?

Độc giả không phải là một tâm trí tách biệt kiểu Descartes, cũng không phải là một tấm bảng trắng. Chính Rudolf Bultmann là người đầu tiên cảnh báo các nhà giải nghĩa Tân Ước về tầm quan trọng của “vị trí” của độc giả khi ông lập luận rằng sự giải nghĩa không có tiền giả định là điều không thể. Đối với Bultmann, câu hỏi cấp bách nhất mà độc giả có liên quan đến sự hiện hữu trong thời gian của chính họ và ý nghĩa của nó. Đề nghị của ông rằng bối cảnh bản thể học của độc giả là bối cảnh quyết định đã không được chấp nhận, nhưng điều tỏ ra có ý nghĩa lâu dài hơn là khái niệm về “chân trời” của độc giả, tức tập hợp những mối quan tâm và kỳ vọng ảnh hưởng đến điều độc giả tìm kiếm và tìm thấy trong các văn bản Tân Ước. Hans-Georg Gadamer xem tiến trình hiểu biết như một cuộc gặp gỡ giữa văn bản và độc giả, một cuộc gặp gỡ mà ông mô tả là sự “hòa nhập” của hai chân trời.

Theo quan điểm truyền thống lấy tác giả làm trung tâm, sự hiểu biết có nghĩa là chiếm lấy cùng một vị trí và quan điểm như tác giả. Sự giải nghĩa khách quan đòi hỏi người giải nghĩa phải bỏ lại những thành kiến của mình. Tuy nhiên, sự chết của tác giả đã làm cho sự giải nghĩa không còn bị ràng buộc. Độc giả không còn cần phải xin lỗi vì vị trí hay mối quan tâm của mình. Thật vậy, theo John Barton và Robert Morgan, văn bản không có mục đích hay mối quan tâm nào cả. Không có một điều duy nhất mà độc giả phải làm với văn bản. Độc giả sẽ có nhiều mối quan tâm khác nhau, tùy thuộc vào vị trí và bối cảnh của họ. Một số độc giả có thể quan tâm đến cấu trúc hình thức của văn bản, những người khác quan tâm đến các sự kiện nằm sau văn bản hay dẫn đến sự hình thành của nó, lại có những người khác quan tâm đến sự liên hệ của văn bản dưới ánh sáng của các vấn đề xã hội đương thời. Theo quan điểm này, bối cảnh quan trọng nhất cho sự giải nghĩa không phải là bối cảnh lịch sử nguyên thủy của văn bản, nhưng là bối cảnh hiện tại của độc giả. Mục tiêu truyền thống của sự đọc vô tư đã nhường chỗ cho những sự đọc “có tư lợi.” Sự ra đời của độc giả giải thích cho sự phong phú hiện nay của các trường phái giải nghĩa (nữ quyền, Marxist, Freudian, giải phóng, v.v.), mỗi trường phái phát sinh từ một mối quan tâm chủ đạo. Nơi độc giả đứng, thay vì bị xem là chướng ngại cho sự giải nghĩa, ngày nay đã trở thành đất thánh.

  1. Tính bất định của ý nghĩa.

Nếu vị trí của độc giả quyết định điều họ nhận được từ một văn bản, thì ý nghĩa là bất định. Tuy nhiên, người ta có thể hiểu tính bất định của ý nghĩa theo hai cách khác nhau. Một số nhà bình luận phản ứng độc giả chỉ ra những “khoảng trống” trong văn bản cần được độc giả lấp đầy. Theo quan điểm này, tính bất định ám chỉ một ý nghĩa chưa hoàn tất mà độc giả hoàn thành bằng cách theo những chỉ dẫn của tác giả và những dấu hiệu trong văn bản. Tính bất định cũng có một nghĩa triệt để hơn, theo đó độc giả quyết định phải làm gì với văn bản. Theo quan điểm này, văn bản không có một “ý nghĩa” cố định. Sự đọc mang nặng lý thuyết đến nỗi điều chúng ta tuyên bố là khám phá trong văn bản và rồi tôn vinh bằng cách gọi nó là “ý nghĩa” thực ra là kết quả của một cách đọc nhất định.

Jeffrey Stout đề nghị rằng chúng ta nên bỏ hẳn thuật ngữ “ý nghĩa” và thay vào đó nói về điều độc giả muốn làm với văn bản. Quả thật, có một số độc giả cố gắng tái dựng ý định của tác giả, nhưng những độc giả khác lại có những mối quan tâm khác. Stout hỏi: tại sao chúng ta chỉ đồng nhất mối quan tâm của nhóm đầu tiên với “ý nghĩa” của văn bản? “Sự tốt đẹp” của một sự giải nghĩa tùy thuộc vào mục tiêu và mối quan tâm của người giải nghĩa. Vì thế, việc nói về mục tiêu giải nghĩa thay thế cho việc nói về ý nghĩa văn bản. Mối quan tâm của độc giả thúc đẩy tiến trình giải nghĩa. Văn bản vì thế mang đặc tính của một cái giếng ước, từ đó độc giả có thể múc lên điều họ muốn. Stout bác bỏ ý tưởng về một tương đương giải nghĩa của mệnh lệnh đạo đức Kant, tức một bổn phận hay quy tắc duy nhất phải cai trị mọi sự đọc. Không có một điều duy nhất nào khiến cho một sự đọc trở nên “tốt.” Trái lại: “Lời bình luận tốt là bất cứ điều gì phục vụ cho mối quan tâm và mục đích của chúng ta.” Clines đồng ý, nhấn mạnh tầm quan trọng của bối cảnh độc giả: “Không có một ý nghĩa chân thật duy nhất mà tất cả chúng ta phải cố gắng khám phá, bất kể chúng ta là ai hay đang đứng ở đâu.” Tuy nhiên, huyền thoại về tính khách quan khó mà chết. Stephen Moore nêu ra thách thức hiện nay đối diện với các nhà giải nghĩa Kinh Thánh: “Ngày nay, không phải các văn bản Kinh Thánh của chúng ta cần được giải huyền thoại nhiều cho bằng chính cách thức chúng ta đọc chúng.”

  1. Bản chất của sự giải nghĩa: Hai loại phản ứng độc giả.

Trọng tâm của cuộc tranh luận đương đại trong thời kỳ thứ ba của bình luận là câu hỏi liệu có hay không những mục tiêu chuẩn mực cho sự đọc. Nếu không có chuẩn mực, như Stout khẳng định, thì điều đó có nghĩa là không thể có cái gọi là sự giải nghĩa sai chăng? Các nhà bình luận phản ứng độc giả hiện đang chia rẽ về cách đáp ứng những câu hỏi như vậy. Umberto Eco phân biệt giữa những văn bản “đóng,” vốn gợi ra một phản ứng được định trước, tính toán, và những văn bản “mở,” vốn mời gọi sự tham dự của độc giả trong việc sản xuất ý nghĩa. Để hiểu vai trò của độc giả trong sự giải nghĩa Tân Ước đương đại, chúng ta phải đưa ra một sự phân biệt tương tự giữa những sự đọc cố gắng tái sản xuất một ý nghĩa vốn, theo một nghĩa nào đó, đã “có đó,” và những sự đọc cố gắng sản xuất một ý nghĩa ex libro (trích từ sách).

Những nhà bình luận phản ứng độc giả thời kỳ đầu thường có khuynh hướng “bảo thủ,” công nhận vai trò của độc giả trong tiến trình tạo ý nghĩa nhưng tập trung vào động lực và hướng đi của văn bản, vào những cách khác nhau mà các chiến lược lời hùng biện của chính văn bản mời gọi độc giả tham dự vào việc sản xuất ý nghĩa. Ngay từ thập niên 1920, tác phẩm Principles of Literary Criticism của I. A. Richards đã nhấn mạnh quyền năng của thi ca trong việc khơi gợi cảm xúc và ảnh hưởng đến độc giả. Trọng tâm trong quan điểm này là khám phá những cơ chế lời hùng biện qua đó văn bản gây ra và sản sinh nơi độc giả những hiệu quả ấy. “Sự hiểu biết” vẫn là mục tiêu cuối cùng của tiến trình giải nghĩa, mặc dù phương tiện để đạt đến mục tiêu đó bao gồm sự tham dự tích cực của độc giả. Theo quan điểm này, sự đọc về căn bản là một hoạt động vâng phục. Mục tiêu của nó là để cho tác giả và văn bản điều khiển độc giả hầu cho người ấy dần dần kinh nghiệm và tiếp nhận hệ tư tưởng (thế giới quan) của văn bản. Một lần nữa, trọng tâm hoàn toàn đặt trên sự hiểu biết, trên việc khám phá và ôm lấy hệ tư tưởng của văn bản.

Ngược lại, những nhà bình luận phản ứng độc giả “cấp tiến” lại đặt ưu tiên cho hệ tư tưởng hay vị trí của độc giả hơn là của văn bản. Văn bản trở thành cơ hội cho độc giả theo đuổi những mối quan tâm và nghị trình riêng của mình. Những độc giả như vậy làm nhiều hơn là đáp ứng: họ phản ứng. Những độc giả phản ứng vận động cho những nguyên nhân và quan điểm riêng của họ. Vì trong văn bản thật sự chẳng có gì “ở đó,” họ tìm cách phá bỏ những giải nghĩa truyền thống bằng cách cho rằng chúng phản ánh lợi ích của một quyền lực thể chế nào đó - một quốc gia, một Hội Thánh, hay một trường học.

Trong một số trường hợp, khi chính văn bản bày tỏ một hệ tư tưởng không được hoan nghênh (thí dụ, chế độ phụ hệ), những độc giả phản ứng phải đọc chống lại văn bản: những giếng độc phải được thanh lọc về mặt chính trị. Lúc khác, sự đọc phản ứng đi ngược lại lịch sử giải nghĩa của một văn bản. Ở đây chúng ta có thể nói đến sự từ chối của độc giả hơn là sự tiếp nhận văn bản, và về những độc giả “cứng cỏi” không ngần ngại áp đặt hệ tư tưởng riêng của họ lên trên hệ tư tưởng của văn bản. Họ quan tâm đến “sự vượt hiểu” - tức theo đuổi những mục tiêu, mối quan tâm và câu hỏi riêng của họ - hơn là sự hiểu một văn bản. Bình luận văn chương ở đây vượt khỏi việc mô tả một văn bản và hệ tư tưởng của nó để tiến đến sự phê phán thẳng thừng đối với nó.

Trước tình trạng ngày càng nhiều bối cảnh trong đó Kinh Thánh được đọc, người giải nghĩa phải làm gì? Clines chủ trương một “triết lý thị trường của sự giải nghĩa.” Nhận biết thị trường trí thức đa nguyên, ông tin rằng những người giải nghĩa nên “tận hiến để sản xuất những sự giải nghĩa mà họ có thể bán.” Trong sự vắng bóng của những ý nghĩa tuyệt đối, người giải nghĩa vẫn có thể hy vọng tạo ra những sự đọc hấp dẫn.

Trước tình trạng hiện nay của lý thuyết văn chương, vốn bị chia rẽ về mặt hệ tư tưởng và bị chi phối bởi thị trường, thật chẳng ngạc nhiên khi vấn đề đạo đức của sự giải nghĩa đã trở thành trọng tâm. Sau chủ nghĩa phản hiện thực về tác giả và chủ nghĩa tương đối trong giải nghĩa, mối quan tâm của độc giả trở thành yếu tố quyết định trong sự giải nghĩa. Không có sự đọc nào vô tư; trái lại, mọi sự đọc đều có tư lợi, và trong chừng mực những tư lợi ấy là những lợi ích đã được đầu tư, mọi sự đọc đều mang tính hệ tư tưởng. Sự chọn lựa mục tiêu giải nghĩa của chúng ta rốt cuộc là một quyết định chính trị. Làm sao có thể khác được, nếu không hề có cái gọi là sự đọc “vô tư”?

2.2. Tạo Ý Nghĩa: Các Tiến Trình
#

Những nhà bình luận phản ứng độc giả “tạo” ý nghĩa theo hai cách rất khác nhau.

  1. Phản ứng bảo thủ của độc giả: Sự tôn trọng độc giả.

Theo Wolfgang Iser, các văn bản là những đối tượng chưa hoàn tất, có những “khoảng trống” và sự bất định kêu gọi độc giả đến để hoàn thành. Thí dụ, người ta phải “làm gì” với sự im lặng của những người nữ ở cuối sách Tin Lành theo Mác (16:8)? Chỉ có “hành động” đọc mới sản sinh ra những mô hình và thực hiện ý nghĩa. Sự đọc là tiến trình lấp đầy những chỗ trống, tạo ra những mối liên hệ. Iser đưa ra một sự so sánh giữa hai độc giả và hai người ngắm sao:

“Có thể cả hai đều nhìn cùng một tập hợp các ngôi sao, nhưng một người sẽ thấy hình ảnh của một cái cày, còn người kia sẽ nhận ra một cái gáo.… Những ‘ngôi sao’ trong một văn bản văn chương là cố định; những đường nối chúng thì thay đổi.”

Tuy nhiên, đối với nhiều người, không rõ Iser có muốn trao cho độc giả quyền nối các điểm theo cách họ thấy phù hợp, hay ông xem văn bản như đưa ra những chỉ dẫn cho sự thực hiện của độc giả. Theo những người phản đối ông, độc giả mà Iser khai sinh ra là chưa phát triển. Dù Iser nghiên cứu phản ứng của độc giả, ông lại xem phản ứng này như là một hiệu quả của văn bản. Độc giả hàm ý “bao gồm tất cả những khuynh hướng cần thiết để một tác phẩm văn chương có thể thực hiện hiệu quả của nó.” Độc giả hàm ý vì thế không chỉ là một hiệu quả của văn bản mà còn là một thuộc tính văn bản bất biến. Do đó, mặc dù những độc giả thật sự là chủ động, hoạt động của họ bị giới hạn trong việc thực hiện một vai trò đã được viết sẵn trong văn bản - đến nỗi Jeanrond lo ngại rằng “hành động đọc” của Iser có thể biến thành một “sự nô lệ cho văn bản.”

Paul Ricoeur cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc độc giả “thực hiện” ý nghĩa văn bản. Ông tin rằng sự giải nghĩa bị đoản mạch nếu văn bản chỉ được “giải thích.” Là diễn ngôn được viết ra, các văn bản vẫn chưa hoàn tất cho đến khi được độc giả tiếp nhận hay áp dụng; diễn ngôn (“ai đó nói điều gì đó về điều gì đó cho ai đó”) sẽ chưa thể trọn vẹn nếu không có người tiếp nhận. Điều độc giả nhận được theo Ricoeur không phải là ý định của tác giả nhưng là “thế giới của văn bản” - tức một cách hiện-hữu-trong-thế-giới được đề xuất. Sự đọc là tiến trình qua đó thế giới của văn bản giao thoa với thế giới của độc giả. Sự giải nghĩa chỉ được hoàn tất khi “thế giới” được tiếp nhận qua lời văn. Hành động đọc vì thế là một cuộc chiến giữa các thế giới: “Sự đọc, trước hết và trên hết, là một cuộc tranh đấu với văn bản.”

Văn bản thì bất động cho đến khi được độc giả tái kích hoạt. Như Ricoeur nói: “Sự đọc giống như việc trình diễn một bản nhạc; nó đánh dấu sự thực hiện, sự thi hành những khả năng ngữ nghĩa của văn bản.” Sự so sánh với âm nhạc thật thích hợp: giống như một bản nhạc, độc giả trình diễn văn bản. Những sự giải nghĩa khác nhau là kết quả của những tương tác khác nhau giữa những đề nghị của văn bản và những đáp ứng của độc giả. Không một sự giải nghĩa hay trình diễn nào có thể khai thác hết mọi khả năng giải nghĩa của một văn bản.

Vậy chúng ta có phải nói đến những “thế giới văn bản vô tận” chăng? Sự đọc có phải là tùy tiện không? Để trả lời, Ricoeur khẳng định tầm quan trọng của những giới hạn văn bản đối với sự giải nghĩa cũng như sự mở rộng của văn bản. Sự đọc là một hành động cân bằng giữa, một bên là tin rằng mỗi văn bản chỉ có một sự giải nghĩa đúng duy nhất, và bên kia là việc chúng ta phóng chiếu chính mình vào văn bản: “Có lẽ chúng ta nên nói rằng một văn bản là một không gian hữu hạn của sự giải nghĩa: không chỉ có một sự giải nghĩa, nhưng mặt khác cũng không có một số lượng vô hạn.

Ricoeur rốt cuộc đặt ưu tiên cho thế giới của văn bản hơn là của độc giả. Ông đồng ý với Proust rằng, trong việc giải nghĩa văn bản, độc giả “đọc” chính mình. Nghĩa là, đối với Ricoeur, văn bản là cơ hội để chúng ta hiểu chính mình dưới một ánh sáng mới. Độc giả là chủ động, nhưng hoạt động của độc giả được định hướng để tiếp nhận văn bản. Trong việc tiếp nhận thế giới của văn bản, độc giả từ bỏ (ít nhất là tạm thời) sự hiểu biết về chính mình. Sự đọc phơi bày độc giả trước những thế giới mới và qua đó mở rộng nhận thức về chính mình. Sự tiếp nhận không phải là việc làm cho văn bản trở thành của riêng mình, nhưng là việc phó mình cho văn bản. Trong chừng mực sự giải nghĩa như vậy “mở rộng” hữu thể con người, Ricoeur có thể nói cùng với Francis Bacon: “Sự đọc làm cho người ta đầy đủ.”

  1. Phản ứng cấp tiến của độc giả: Sự kháng cự của độc giả.

Những nhà bình luận phản ứng độc giả cấp tiến chống lại bất cứ tuyên bố nào - dù là của văn bản hay của sự giải nghĩa - giả vờ có tính thẩm quyền, độc quyền, và tuyệt đối. Họ xem mọi nỗ lực tìm và cố định “ý nghĩa” của văn bản như là những nỗ lực ngấm ngầm nhằm áp đặt một quy tắc độc đoán lên độc giả. Sự giải nghĩa tuyên bố là “đúng” về mặt lý thuyết thì bị xem là sai về mặt chính trị. Ý nghĩa xác định đe dọa sự tự do của độc giả. Có hai dạng chính của sự kháng cự độc giả: hậu cấu trúc và tân thực dụng.

Roland Barthes ví độc giả như một nhà sản xuất vui chơi hơn là một người tiêu thụ ngoan ngoãn của ý nghĩa. Sự giải nghĩa không phải là việc nhận ra một ý nghĩa đúng duy nhất của văn bản nhưng là việc nhận ra một sự đa dạng của ý nghĩa. Đối với người tiêu thụ, sự đọc là một hoạt động an toàn, thoải mái, xem văn bản “như một cái tủ nơi ý nghĩa được xếp đặt, chất chồng, và bảo quản.” Trái lại, một sự đọc sáng tạo là một sự đóng góp sản xuất cho nền kinh tế của sự giải nghĩa.

Những “văn bản mang tính viết” là những tác phẩm kêu gọi sự chú ý đến tình trạng của chúng như là những hệ thống ký hiệu phức tạp có khả năng được giải mã theo nhiều cách khác nhau - những mê cung ngôn ngữ. Văn bản là “một không gian đa chiều, trong đó nhiều sự viết được kết hợp và tranh chấp, không có sự viết nào là nguyên thủy; văn bản là một tấm vải dệt bằng những trích dẫn, kết quả từ hàng ngàn nguồn văn hóa.” Thật vậy, niềm vui của văn bản đối với Barthes nằm trong những lối đi quanh co của nó: những mã của nó tạo ra nhiều tầng lớp trên đó văn bản có thể được đi qua. Sự bất khả trong việc hoàn tất hay đóng lại tiến trình giải nghĩa đối với ông không phải là lý do để thất vọng; trái lại, những văn bản như vậy sản sinh ra một niềm phúc lạc ngây ngất, vì chúng đem lại sự rộn ràng của việc đánh mất chính mình - và do đó là khả năng tìm thấy chính mình ở một nơi khác.

Barthes tuyên bố cả sự chết của Tác giả (trước đây được xem là “chủ nhân” của văn bản và là “thẩm quyền” trên sự giải nghĩa) lẫn sự ra đời của Độc giả. Bởi vì sự đọc là một sự sản xuất ý nghĩa, sự phân biệt giai cấp chia tác giả và độc giả trở nên mơ hồ và tùy tiện. Tác giả đơn giản chỉ cung cấp cho độc giả một mã phức tạp kêu gọi và cho phép nhiều sự đọc/ý nghĩa. Barthes không ngần ngại rút ra kết luận: mục tiêu tối hậu trong việc giải phóng độc giả khỏi sự ràng buộc với “ý định của tác giả” là biến độc giả thành một người viết. Lời bình luận trở nên có thẩm quyền và sáng tạo ngang bằng với văn bản “nguyên thủy”:

“Cũng như khoa học theo Einstein buộc chúng ta phải bao gồm trong đối tượng được nghiên cứu tính tương đối của các điểm tham chiếu, thì hành động kết hợp của chủ nghĩa Marx, chủ nghĩa Freud, và chủ nghĩa cấu trúc buộc chúng ta, trong văn chương, phải làm cho quan hệ giữa người viết, độc giả, và người quan sát (nhà bình luận) trở nên tương đối.”

Nhiều hình thức bình luận Kinh Thánh đương đại một cách thẳng thắn thúc đẩy hệ tư tưởng riêng của họ, mối quan tâm thiểu số và bên lề riêng của họ. Những “người sử dụng” này từ bỏ bất cứ sự giả vờ nào về tính trung lập. Richard Rorty, vị thánh triết học bảo trợ của chủ nghĩa tân thực dụng trong giải nghĩa, lập luận rằng các văn bản không có “bản chất,” chỉ có “cách sử dụng.” Không một cách sử dụng nào nên được đồng nhất với “cách đọc đúng.” Thay vì cố gắng “đọc cho đúng,” nhà giải nghĩa tân thực dụng đơn giản chỉ muốn sản xuất một sự đọc hữu ích hoặc thú vị.

Tuy nhiên, sẽ là sai lạc nếu suy đoán rằng phong trào giải phóng của độc giả cổ vũ cho sự hỗn loạn trong cách giải nghĩa. Nhưng tiêu chuẩn cho việc giải nghĩa đến từ đâu? Nguồn gốc của thẩm quyền giải nghĩa ở chỗ nào? Stanley Fish cho rằng thẩm quyền thuộc về “cộng đồng giải nghĩa.” Mỗi độc giả đều thuộc về một cộng đồng nào đó, trong đó có những mối quan tâm và thủ tục giải nghĩa được chia sẻ. Điều mà một độc giả khám phá trong một văn bản vì thế là chức năng của cộng đồng mà người ấy thuộc về. Giải nghĩa vì thế không phải là tùy tiện, nhưng cũng không lệ thuộc vào hiểu biết mang tính “thần thoại” rằng ý nghĩa nằm “trong” văn bản. Ý nghĩa đúng hơn là chức năng của chiến lược đọc được đem đến cho văn bản. Như Fish nói: “Sự giải nghĩa ràng buộc các dữ kiện hơn là ngược lại, và cũng ràng buộc những loại ý nghĩa mà người ta có thể gán cho các dữ kiện.” Chính cộng đồng, chứ không phải quy điển, ràng buộc độc giả. Barthes và Fish, theo những cách khác nhau, đã xóa bỏ sự phân biệt truyền thống giữa văn bản và độc giả, giữa ý nghĩa và lời bình. Với những lý thuyết phản ứng độc giả cực đoan, cuộc Cách mạng Copernicus của Kant đạt đến đỉnh điểm: độc giả không khám phá mà kiến tạo ý nghĩa. Vai trò của văn bản và độc giả không chỉ được cách mạng hóa, mà còn bị đảo ngược: “Các văn bản, giống như người chết, không có quyền, không có mục đích, không có lợi ích. Chúng có thể được sử dụng theo bất cứ cách nào mà độc giả hay người giải nghĩa chọn lựa.”

3. PHẢN ỨNG ĐỘC GIẢ TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI CÁC PHƯƠNG PHÁP KHÁC
#

3.1. Các Phương Pháp Bình Luận Lịch Sử
#

Những độc giả bình luận kể từ thời Khai sáng quả thật đã rất chủ động: họ đem những chứng từ văn bản ra để thẩm định bình luận, tháo rời văn bản rồi ráp lại trong hình thức “chính xác” hơn, và tái dựng lịch sử nằm sau văn bản cũng như lịch sử của chính sự hình thành văn bản. Độc giả được giả định trong phần lớn bình luận lịch sử là một học giả vô tư, khách quan, phi chính trị - tóm lại, là một câu chuyện thần thoại. Sự nhận biết của Bultmann rằng sự giải nghĩa không có tiền giả định là điều không thể chỉ là dư chấn của trận động đất nhận thức luận Kant. Tất cả những gì chúng ta có thể tiếp cận với tư cách độc giả là hiện tượng văn bản; “bản thể lịch sử” - tức sự vật tự thân (tình huống, bối cảnh, và tham chiếu nguyên thủy của văn bản) - là điều không thể tiếp cận. Lịch sử - tức lịch sử mà chúng ta kể lại - luôn luôn là lịch sử đã được giải nghĩa, là sản phẩm của hoạt động độc giả, của sự chọn lựa, và của việc “dựng cốt truyện.”

3.2. Các Phương Pháp Bình Luận Văn Chương
#

Nhiều điểm tương tự cũng có thể được nêu ra liên quan đến các phương pháp bình luận văn chương. Sự chuyển hướng về văn bản (thay vì về tác giả hay về lịch sử mà văn bản thuật lại) vẫn chưa phải là sự chuyển hướng về chủ thể đọc. Độc giả thường chỉ là một nhân vật ở hậu cảnh. Các kỹ thuật bình luận văn chương chú ý đến những quy ước và đặc điểm hình thức của văn bản cùng với những tiến trình qua đó văn bản truyền đạt ý nghĩa. Điều này đúng với các phương pháp cấu trúc luận, hùng biện, tường thuật, và kinh điển đối với văn bản Kinh Thánh, chẳng hạn. Tuy nhiên, những phương pháp này vẫn tiếp tục làm lu mờ vai trò của độc giả trong việc tạo ý nghĩa. Những nhà cấu trúc luận vẫn tiếp tục dựa trên mô hình tri thức khách quan, khăng khăng rằng phương pháp của họ là một “khoa học” về văn bản.

3.3. Các Phương Pháp Hệ Tư Tưởng
#

Elisabeth Schüssler Fiorenza lập luận rằng độc giả phải đánh giá văn bản về mặt đạo đức cũng như đáp ứng với những sáng kiến của nó. Mục tiêu chính của những độc giả theo Marxist hay “duy vật,” chẳng hạn, là khảo sát mối liên hệ giữa một văn bản và những lực lượng xã hội–chính trị liên quan đến sự hình thành và sự tiếp nhận của nó. Cả văn bản lẫn độc giả đều được xem là những sản phẩm xã hội–chính trị. Những câu chuyện Kinh Thánh được đọc với mối quan tâm khám phá điều gì đó về những cuộc tranh đấu của các giai cấp hay nhóm khác nhau. Cũng quan trọng không kém, độc giả đương đại cũng được đặt trong một hệ thống kinh tế và chính trị dựa trên giai cấp. Độc giả là những người đầu tiên được giải phóng bởi thần học giải phóng. Giả định rằng chỉ những học giả trong các đại học Thế giới thứ nhất mới có thể khám phá “ý nghĩa đúng” của Kinh Thánh đã bị phá vỡ. Đối với Carlos Mesters, kinh nghiệm về nghèo khó và áp bức cũng quan trọng như một “văn bản” ngang hàng với Kinh Thánh. Vị trí của người nghèo đem lại cho họ sự thấu hiểu đặc biệt về sứ điệp Kinh Thánh. Bối cảnh của độc giả quan trọng không kém gì bối cảnh của văn bản.

Những độc giả theo hệ tư tưởng tìm cách làm cho văn bản phù hợp với những công cụ và ham muốn của họ. Sự đọc là một hình thức quyền lực. Không chỉ điều chúng ta đọc, nhưng cách chúng ta đọc, rốt cuộc là vấn đề chính trị. Nếu ý nghĩa là vấn đề của sự kiến tạo bởi độc giả, thì những bất đồng về sự đọc - sự xung đột của các sự giải nghĩa - thật ra là những xung đột của các hệ tư tưởng. Nhưng nếu sự đọc nằm trong mắt của một cộng đồng người đọc (Fish), thì điều gì có thể phân xử những tranh chấp giải nghĩa giữa các cộng đồng “tin kính”?

3.4. Các Phương Pháp Giải Cấu Trúc
#

Giải cấu trúc không phải là một phương pháp giải nghĩa nhưng là một phương pháp để tháo gỡ các sự giải nghĩa, để phơi bày các sự đọc như là những chức năng của các lực lượng hệ tư tưởng khác nhau. Mỗi cấu trúc văn bản đều phải đàn áp những yếu tố đe dọa phá vỡ nó: chế độ phụ hệ đàn áp phụ nữ, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc đàn áp các dân tộc thiểu số, và luân lý truyền thống đàn áp những người đồng tính. Điểm chính của bình luận giải cấu trúc là mọi cấu trúc, giống như ngôn ngữ, đều là tùy tiện và quy ước. Không có cấu trúc nào, không có ý nghĩa nào là “tự nhiên.” Frank Kermode viết, liên hệ đến dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân lành:

“Cách đọc của tôi… dường như tự nhiên đối với tôi; nhưng đó chỉ là cách tôi xác nhận, hay tuyên bố là phổ quát, một thói quen tư tưởng vốn là văn hóa và tùy tiện. Cách đọc của tôi chắc chắn sẽ không được xem là ‘tự nhiên’ đối với các Giáo phụ.”

Lĩnh vực văn hóa và sự giải nghĩa là một kiến tạo của con người, nơi quyền lực chống lại quyền lực. Điều mà giải cấu trúc rốt cuộc tháo gỡ là sự tích lũy quyền lực trong sự giải nghĩa. Giải cấu trúc là đặt vấn đề với văn bản như nó được kiến tạo bởi độc giả.

Sự đọc giải cấu trúc phơi bày không thương tiếc những mối quan tâm của độc giả bằng cách tháo gỡ sự giải nghĩa và phơi bày lời hùng biện, chứ không phải logic, đằng sau sự giải nghĩa. Nó khử độc những giếng độc và là nỗ lực cảnh giác không ngừng để giữ cho hành động đọc khỏi dừng lại trong một sự giải nghĩa cố định, vì việc tạo ra nhiều ý nghĩa thì không có hồi kết. Tôi đồng ý với sự đánh giá của Werner Jeanrond: “Một trong những đóng góp chính của Derrida cho ngành giải nghĩa nằm chính xác ở lời cảnh báo mạnh mẽ của ông chống lại bất cứ hình thức đọc văn bản nào mang tính tuyệt đối hay độc đoán.” Dĩ nhiên, tiếng kêu gần như Cải chánh của những người giải cấu trúc - “luôn luôn viết lại” - có thể tự nó trở thành một cái cớ để không đáp ứng với điều “có đó” trong văn bản. Trong chừng mực giải cấu trúc làm cho ý nghĩa trở nên bất khả quyết định, nó rút đi cả thẩm quyền lẫn tính khác biệt của văn bản. Nhưng nếu trong văn bản không có gì xác định, thì độc giả có thể đáp ứng và đọc cách có trách nhiệm thế nào?

4. NHỮNG NHẬN XÉT BÌNH LUẬN
#

Độc giả quả thật là chủ động trong tiến trình giải nghĩa. Câu hỏi then chốt liên quan đến bản chất của hoạt động đáp ứng của độc giả. Độc giả, khi đối diện với những sáng kiến và lời mời gọi của văn bản, sẽ tôn trọng hay nghi ngờ chúng, vâng phục hay phản nghịch lại chúng? Đến mức nào phản ứng của độc giả làm nhiễm (hay cho phép) những giai đoạn giải nghĩa gồm giải thích, hiểu biết, và áp dụng?

4.1. Bình Luận, Sử Dụng, và Giải Nghĩa
#

Trong quá khứ, “bình luận” có nghĩa là đạt được tri thức về một văn bản. Tuy nhiên, ngày nay “bình luận” mô tả lời tuyên bố của độc giả rằng họ có một quan điểm đặc quyền từ đó văn bản có thể được sử dụng hay đánh giá. Kết quả là “bình luận” mất đi sự hấp dẫn học thuật vô tư. Điều trước đây được xem là sự mô tả “khách quan” nay được nhìn nhận như là sự đánh giá hệ tư tưởng “chủ quan” hay liên chủ quan. Nhưng liệu điều đó có nghĩa là chúng ta không còn có thể phân biệt giữa “sử dụng” và “giải nghĩa” văn bản nữa sao? “Ý nghĩa” là một thuộc tính của văn bản hay nó ám chỉ điều độc giả làm với văn bản? “Đọc cho đúng” có hoàn toàn đồng nghĩa với “làm cho hữu ích,” như Rorty ngụ ý chăng? Nói cách khác: phải chăng mọi mối quan tâm giải nghĩa và mọi quan điểm bình luận đều hợp lệ như nhau?

Độc giả không chỉ phải đáp ứng mà còn phải đáp ứng cách có trách nhiệm. Tôi tin rằng có những mục tiêu chuẩn mực mà độc giả phải có khi tiếp cận văn bản Kinh Thánh. Một mục tiêu là tìm kiếm sự hiểu biết trước khi “vượt hiểu.” Nghĩa là, độc giả nên tìm cách xác định bản chất của ý định truyền đạt của văn bản (thể loại và ý nghĩa của nó) trước khi tìm cách sử dụng hay đánh giá nó. Văn bản đang cố gắng làm gì và nó làm điều đó như thế nào? Câu hỏi này phải được trả lời với sự thành thật và chính trực. Đối xử công bằng với một văn bản là tôn trọng nó như loại sự vật mà nó là, tức là tiếp nhận quan điểm của nó và lắng nghe tiếng nói của nó.

Dĩ nhiên, độc giả sống trong thế giới riêng của họ và mối quan tâm của họ có thể khác với của văn bản. Độc giả tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi của họ thì “vượt hiểu” văn bản. Chúng ta có thể nói rằng sự hiểu biết tìm kiếm “ý nghĩa” và sự vượt hiểu tìm kiếm “tầm quan trọng” của văn bản. Nhưng điều cốt yếu là độc giả phải đánh giá tầm quan trọng của một văn bản chỉ sau khi họ đã hiểu ý nghĩa của nó. Có thể rằng, một khi đã nắm bắt được ý nghĩa dự định của văn bản, độc giả sẽ rút lui trong sự ghê tởm. Trong khi một số văn bản có thể đem lại hương vị thiên đàng, những văn bản khác lại chứa đựng sự kinh hoàng. Nhưng điểm chính là phản xạ đầu tiên của độc giả phải là nhân từ: sự hiểu biết đi trước sự bình luận như sự giải nghĩa đi trước sự sử dụng. George Steiner thậm chí còn xem các nhà bình luận và độc giả như hai loài khác nhau hoàn toàn: các nhà bình luận hoạt động ở khoảng cách xa văn bản, họ là quan tòa và chủ nhân của nó. Độc giả, trái lại, “phục vụ” văn bản và là người chăn giữ nó.

4.2. Sự Đọc Sai và Những Lỗi Khác
#

Có điều gì gọi là một sự đọc kém không? Một sự đọc sai chăng? Nếu độc giả vừa tạo vừa khám phá ý nghĩa, thì làm sao chúng ta có thể duy trì sự phân biệt giữa giải nghĩa (exegesis) và áp đặt ý nghĩa (eisegesis), giữa văn bản và lời bình, giữa ý nghĩa và tầm quan trọng, giữa mô tả và đánh giá, giữa hệ tư tưởng của văn bản và hệ tư tưởng của độc giả? Umberto Eco, một người tin vào vai trò không thể thiếu của độc giả, lo ngại rằng quyền lợi của độc giả gần đây đã bị phóng đại quá mức so với quyền lợi của văn bản. Dù Eco sẵn sàng nói đến một chủ nghĩa đa nguyên giải nghĩa hợp pháp, ông cũng nói đến bổn phận căn bản là phải bảo vệ văn bản trước khi “mở” nó ra. Có sự khác biệt giữa việc bất đồng về điều người ta nghĩ văn bản đang cố gắng nói và việc cố ý đọc sai văn bản. Những “độc giả sai” chẳng hỏi tác giả hay văn bản về ý định của họ, nhưng lại ép văn bản thành một hình dạng phù hợp với mục đích của họ. Giải nghĩa, trái lại, có nghĩa là đọc một văn bản “để khám phá, cùng với những phản ứng của chúng ta đối với nó, điều gì đó về bản chất của nó.”

Humpty-Dumpty cho rằng ý nghĩa là vấn đề của việc ai sẽ làm chủ, những từ ngữ hay người sử dụng chúng: “Khi tôi dùng một từ… nó có nghĩa chính xác điều tôi chọn cho nó nghĩa - không hơn, không kém.” Các nhà hậu cấu trúc và thực dụng đương đại đã trao cho độc giả ý chí quyền lực của Nietzsche. Đối ứng Nietzsche với Humpty-Dumpty thậm chí còn cứng rắn hơn: đối với độc giả cố ý đọc sai thì không có cái gọi là ý nghĩa tuyệt đối hay văn bản-như-chính-nó; mọi sự giải nghĩa đều là kết quả của mục tiêu và thực hành của chúng ta. Sự đọc đầy ý chí như vậy nêu lên câu hỏi về bạo lực trong giải nghĩa. Như lời của một nhà thần học giải cấu trúc người Mỹ: “Giải nghĩa là một hành động thù nghịch trong đó người giải nghĩa biến văn bản thành nạn nhân.”

4.3. Đạo Đức của Sự Đọc
#

Sự bạo lực của bình luận phản ứng độc giả cấp tiến là chức năng của những tiền giả định triết học căn bản của nó. Những hệ quả đạo đức không thỏa đáng của nó là triệu chứng của quan điểm thiếu sót về bản chất của ý nghĩa và sự giải nghĩa. Trong chừng mực nó phủ nhận rằng ý nghĩa “có đó” trong văn bản, bình luận phản ứng độc giả cấp tiến là một hình thức phản hiện thực - quan điểm triết học cho rằng thực tại không độc lập nhưng tùy thuộc vào những lý thuyết của chúng ta về nó. Dù đúng là ngay cả các nhà khoa học cũng tiếp cận thế giới với những sơ đồ giải nghĩa, nhưng không phải là các lý thuyết của chúng ta hoàn toàn bị niêm phong khỏi thế giới. Trái lại, thế giới quả thật “phản ứng lại,” thách thức và thường xuyên bác bỏ những ý tưởng của chúng ta về nó.

Tương tự, phải có một chủ nghĩa hiện thực trong lĩnh vực ý nghĩa, nếu không thì trong sự giải nghĩa mọi điều đều được phép. Gulliver’s Travels vẫn là một tác phẩm châm biếm chính trị, dù một số độc giả có thể lầm nó là một câu chuyện trẻ em. Nếu nó không tiếp tục là như vậy, nếu văn bản trở thành bất cứ điều gì chúng ta làm ra từ nó, thì sẽ không có cách nào để phán đoán một sự đọc là sai. Hoặc, như Jeanrond nói:

“Một sự đọc tuyên bố đã giải nghĩa văn bản, nhưng thực tế chỉ giải nghĩa một phần của văn bản bên ngoài bối cảnh văn bản, hoặc sử dụng văn bản hay những mảnh vụn của nó để thúc đẩy tư tưởng riêng của độc giả, thì phải được xem là gian trá.”

Nếu ý nghĩa không ở trong một chừng mực nào đó “có đó” trong văn bản, thì làm sao văn bản có thể thách thức, thông tin, hay biến đổi độc giả? Làm sao văn bản có thể phê phán một hệ tư tưởng thống trị? Nếu không có một “chủ nghĩa hiện thực của sự đọc,” nơi ý nghĩa độc lập với tiến trình giải nghĩa, thì sự đọc sẽ thôi không còn là một triển vọng nguy hiểm, làm đảo lộn thế giới nữa. Khi ấy, người ta không nên mừng cho sự ra đời của độc giả, nhưng phải than khóc cho độc giả bị chết yểu.

Nếu văn bản nằm trong tay độc giả, thì độc giả phải làm gì với nó? Trước hết và trên hết, độc giả phải để cho nó là chính nó - không phải theo nghĩa bỏ mặc nó, nhưng theo nghĩa cho phép văn bản hoàn tất mục tiêu truyền đạt của nó. Điều mà độc giả đạo đức ban cho văn bản trước hết là sự chú ý. Chỉ khi đó văn bản mới có thể ban lại điều gì đó. Steiner mô tả độc giả lý tưởng như là người chăn giữ “bản thể” của văn bản. Michael LaFargue cũng nhìn độc giả như là người bảo vệ văn bản:

“Vai trò của học giả Kinh Thánh, với tư cách học giả, là làm đầy tớ của văn bản Kinh Thánh, để gìn giữ tính khác biệt của nó, để giúp cho nội dung thực chất của nó trở thành điều mà con người hiện đại có thể kinh nghiệm và hiểu được, trong tính đặc thù và trong sự khác biệt của nó.”

Mối quan tâm giải nghĩa hàng đầu phải là để cho văn bản được lên tiếng, tức là lắng nghe và chú ý đến văn bản với sự khiêm nhường và tôn trọng. Chúng ta có thể có trách nhiệm đánh giá và phê phán một văn bản, hoặc bất đồng với những hệ quả thần học hay chính trị của nó. Nhưng chúng ta chỉ có thể làm điều đó với sự chính trực nếu trước hết chúng ta đã nỗ lực về trí tuệ và đạo đức để tiếp nhận văn bản theo chính điều kiện của nó: “Ai có tai mà nghe, hãy nghe.” Luật vàng - cho cả đạo đức Cơ Đốc và sự giải nghĩa - là “hãy làm cho người khác như các ngươi muốn người ta làm cho mình.”

5. PHẢN ỨNG ĐỘC GIẢ TRONG THỰC HÀNH
#

Độc giả làm gì khi họ giải nghĩa Giăng 4? Câu hỏi này đòi hỏi một câu trả lời kép, phù hợp với sự phân biệt của tôi giữa những nhà bình luận phản ứng độc giả bảo thủ và cấp tiến.

5.1. Những Ví Dụ Bảo Thủ: Sự Tiếp Nhận của Độc Giả
#

Những nhà bình luận phản ứng độc giả bảo thủ tin rằng có điều gì đó trong văn bản trước hành động đọc - chẳng hạn các khoảng trống, sự bất định, những chỉ dẫn, dấu hiệu, và tín hiệu - kêu gọi và điều hướng sự đáp ứng của họ. Độc giả theo những lời mời gọi; giống như một vị khách lịch sự được dẫn đi xem những cảnh trong câu chuyện, độc giả làm theo tác giả bằng cách nắm bắt các dấu hiệu và nhìn về hướng đúng. R. Alan Culpepper nhận xét rằng khi độc giả đến chương 4 của Giăng, họ phải biết điều gì đó (dựa trên thông tin ghi lại trong các chương 1–3) về Chúa Giê-xu và sứ mạng của Ngài. Thí dụ, độc giả chương 4 đã biết rằng Chúa Giê-xu sẽ bị chính dân mình từ chối và được một số người tin. Độc giả câu chuyện cái giếng là một khán giả đặc quyền, một vị khách của một giọng nói đáng tin cậy - cái gọi là người kể chuyện toàn tri - người ban cho độc giả vừa đủ thông tin để đánh giá đúng các nhân vật và hành động trong câu chuyện.

  1. Theo Giăng.

Giăng 4 đưa ra ba ví dụ về cách những kích thích văn bản hướng dẫn sự đáp ứng của độc giả. Trước hết, văn bản gợi lại một cảnh loại quen thuộc từ Cựu Ước: mô-típ người nam gặp người nữ tại giếng. Có một số yếu tố lặp lại: vị hôn phu tương lai (hoặc người thay thế cho ông) đi đến một vùng đất xa lạ, ông gặp một thiếu nữ tại giếng, có người múc nước từ giếng, thiếu nữ vội vã về nhà để báo tin về người khách lạ, và một cuộc hôn ước được sắp đặt. Dĩ nhiên, các nhân vật không biết rằng họ đang diễn lại một cốt truyện quen thuộc; cảnh loại này là một chiến lược văn bản để hướng dẫn sự hiểu biết của độc giả về điều đang xảy ra trong câu chuyện. Tuy nhiên, trong Giăng 4, thay vì một bữa tiệc hôn ước, Chúa Giê-xu nói với các môn đồ Ngài: “Đồ ăn ta tức là làm theo ý muốn của Đấng đã sai ta đến” (câu 34). Chỉ độc giả mới có thể cảm nhận được sự bất ngờ này. Những khác biệt như vậy là chìa khóa để hiểu cách tác giả đang điều khiển không chỉ một quy ước văn chương mà còn cả sự đáp ứng của độc giả.

Thứ hai, Lyle Eslinger cho rằng độc giả sẽ nhận ra một số lối nói hai nghĩa trong cuộc đối thoại, tất cả đều mang sắc thái tình dục. Sự mơ hồ này khiến độc giả tự hỏi liệu có nên gán cho cuộc đối thoại một ý nghĩa xác thịt hay thuộc linh. Chúa Giê-xu có xin nước uống vì các môn đồ Ngài không có mặt “hay vì Ngài và người nữ ở một mình và Ngài có thể tự do với nàng mà không làm tổn hại đến danh tiếng của Ngài?” Người nữ, dĩ nhiên, không có kiến thức của các chương 1–3. Đối với bà, Chúa Giê-xu đang tỏ ra thân thiện, thậm chí có phần táo bạo. Theo Eslinger, độc giả được mời gọi gán cho “nước hằng sống” của Chúa Giê-xu một ý nghĩa tình dục dựa trên những văn bản như Giê-rê-mi 2:13 và Châm-ngôn 5:15. Độc giả cảm nhận sức nặng trong sự giải nghĩa của người nữ, nhưng không thể hoàn toàn đồng nhất với nó, vì họ có thêm thông tin về danh tính của Chúa Giê-xu.

Thứ ba, mặc dù độc giả có lợi thế từ Lời Tựa, vốn đồng nhất Chúa Giê-xu với Ngôi Lời, Giăng 4 được thiết kế theo cách khiến độc giả có cùng cảm giác bối rối về Chúa Giê-xu là ai và Ngài đang làm gì. Động cơ của Chúa Giê-xu khi xin người nữ nước uống là gì? Người nữ “đáp ứng” lời xin của Ngài bằng cách ám chỉ rằng Ngài đang khá táo bạo: Chúa Giê-xu là một người Do Thái, bà là một người Sa-ma-ri; Chúa Giê-xu là một người nam, bà là một người nữ. Eslinger tin rằng văn bản khuyến khích độc giả chia sẻ trong sự giải nghĩa “xác thịt” của người nữ về lời Chúa Giê-xu. Ông cho rằng cụm từ “thông công với” (câu 9) có sắc thái tình dục, cũng như “nước hằng sống.” Kiến thức đặc quyền của độc giả về Chúa Giê-xu (chương 1) và về “sự ban cho của Đức Chúa Trời” (Giăng 3:16) ngăn cản độc giả khỏi việc buông thả theo sự giải nghĩa xác thịt:

“Đặc quyền của độc giả đặt họ vào một tình thế khó xử, mà kinh nghiệm đó đem lại cho họ một nhận thức trực tiếp về vấn đề căn bản trong sách Tin Lành Giăng, tức là sự hiểu lầm của loài người về Chúa Giê-xu và sự hiểu sai về những gì Ngài phán.”

Độc giả tạm thời mất đi người kể chuyện toàn tri trong mê cung của cuộc đối thoại, buộc họ phải chiếm lấy quan điểm nhân loại sai lầm của người nữ bên giếng. “Trong chương 4, kinh nghiệm đọc trở thành một kinh nghiệm thực sự về khoảng cách truyền thông mà độc giả đã quan sát nhiều lần giữa các nhân vật loài người trong câu chuyện và Chúa Giê-xu.” Độc giả không chỉ đọc về, mà còn trải qua kinh nghiệm hiểu sai về Chúa Giê-xu.

  1. Theo sự trớ trêu.

Sự hiểu sai về Chúa Giê-xu là một trong những chủ đề của sách Tin Lành thứ tư. Culpepper ghi nhận rằng những sự hiểu lầm và nhận diện sai lạc tràn ngập trong sách Tin Lành thứ tư có chức năng dạy độc giả cách đọc sách Tin Lành đúng:

“Khi chúng ta đọc, quan sát những cuộc gặp gỡ và hình thành những phán đoán về từng nhân vật, người kể chuyện định hình sự đáp ứng mà chúng ta nghĩ rằng mình đang tự làm và chiếm được sự tin cậy của chúng ta bằng cách nâng chúng ta lên trên các nhân vật để vào vị trí của ông.”

Vì thế, để theo dõi sách Tin Lành thứ tư, độc giả phải có khả năng nhận ra sự trớ trêu.

Theo Gail R. O’Day, Bultmann đã thất bại trong việc nhìn thấy động lực của tiến trình mặc khải trong sách Tin Lành thứ tư bởi vì ông tập trung vào sự kiện đơn thuần rằng Chúa Giê-xu là Đấng mặc khải hơn là vào cách câu chuyện định hình và truyền đạt sự mặc khải. Độc giả phải theo chiến lược văn bản của Giăng, đặc biệt là sự trớ trêu, để tham dự vào sự mặc khải. Sự trớ trêu là một hình thức ngôn ngữ trong đó độc giả được yêu cầu giữ hai ý nghĩa trong sự căng thẳng và, như kết quả của việc đi qua sự căng thẳng đó, đạt đến điều tác giả muốn bày tỏ:

“Sự trớ trêu bày tỏ bằng cách yêu cầu độc giả đưa ra những phán đoán và quyết định về giá trị tương đối của ý nghĩa được phát biểu và ý nghĩa được dự định, lôi cuốn độc giả vào trong tầm nhìn về lẽ thật của nó, để khi độc giả cuối cùng hiểu được, họ trở thành thành viên của cộng đồng chia sẻ tầm nhìn đó, được hình thành bởi những người cũng đã theo sự dẫn dắt của tác giả.”

Độc giả trở thành người nữ bên giếng trong chừng mực họ được yêu cầu phân loại những ý nghĩa kép và di chuyển từ một tầng ý nghĩa sang một tầng khác. Trong câu 10, Chúa Giê-xu nói rằng nếu người nữ biết ai đang xin bà nước uống thì bà, trong một sự đảo ngược vai trò hoàn toàn, sẽ xin Ngài “nước.” Nhưng người nữ sẽ không thể giải nghĩa đúng “nước hằng sống” cho đến khi bà nhận ra danh tính của Đấng đang phán. Manh mối của Chúa Giê-xu về danh tính thật của Ngài “là một lời mời gọi cả cho người nữ lẫn cho độc giả để nắm bắt cả hai tầng của cuộc đối thoại… và để đi qua tầng của người nữ để đến tầng của Chúa Giê-xu.” Bằng cách theo dõi sự trớ trêu của văn bản, do đó, độc giả tham dự vào sự mặc khải của Chúa Giê-xu. “Sự trớ trêu là một ví dụ tuyệt vời về sự tham dự này bởi vì loại phản ứng độc giả mà nó bao hàm. Để theo dõi sự trớ trêu, người ta phải tham dự và gắn bó cách sáng tạo với văn bản.” Sách Tin Lành thứ tư không chỉ là một bản tường thuật về Chúa Giê-xu như Đấng mặc khải nhưng là một cơ hội cho độc giả kinh nghiệm sự mặc khải của Chúa Giê-xu cho chính mình.

5.2. Những Ví Dụ Cấp Tiến: Sự Từ Chối của Độc Giả?
#

Những độc giả thật, trái ngược với những độc giả lý tưởng, có thể ít cảm thông với những gợi ý của văn bản. Do đó, có một lịch sử không chỉ của sự tiếp nhận văn bản mà còn của sự từ chối văn bản.

  1. Chống lại Giăng.

Culpepper nhận xét rằng độc giả “nhảy múa” với tác giả dù họ có muốn hay không, và trong tiến trình đó họ tiếp nhận quan điểm của tác giả về câu chuyện. Nhưng không phải tất cả độc giả đều ngoan ngoãn như Culpepper tin; một số thích dẫn dắt hơn là đi theo sau. Willi Braun quan sát rằng có những độc giả không tin vào tác giả hàm ý. Nhiều người chống lại việc bị lôi kéo vào hệ tư tưởng và quan điểm của người kể chuyện. Braun đưa ra một chiến lược đọc “kháng cự” nhằm tìm cách đọc sách Tin Lành thứ tư từ quan điểm của những người có thể bị văn bản gạt ra bên lề - chẳng hạn người Do Thái. Những nạn nhân hàm ý của sự trớ trêu trong Giăng đã trở thành những nạn nhân thật của chủ nghĩa bài Do-thái trong Cơ Đốc giáo. Do đó có một “động lực to lớn” để bất đồng với hệ tư tưởng của Giăng. Sự đọc có thể phát sinh không chỉ từ ý chí quyền lực, mà còn từ “ý chí để mở ra không gian cho chính mình đối diện với một văn bản ‘mạnh mẽ’ đầy đe dọa.”

  1. Sự sụp đổ của sự trớ trêu trong Giăng.

Stephen D. Moore đặt nghi vấn về khả năng của văn bản trong việc dẫn dắt độc giả qua những phức tạp và trì hoãn để đến sự hiểu biết. Ông cho rằng sự đọc của ông, vốn mang tính giải cấu trúc–nữ quyền, là “gần hơn” so với sự đọc của những nhà bình luận phản ứng độc giả bảo thủ. Sự đọc của ông vừa nghi ngờ vừa cẩn trọng, vì nó tìm cách khảo sát nghiêm ngặt mọi sự kháng cự đối với sự hiểu biết. Sự đọc giải cấu trúc đặc biệt chú ý đến mọi điều đe dọa văn bản, hoặc sự giải nghĩa, bằng sự thiếu mạch lạc. Một phép giải nghĩa của sự nghi ngờ tìm cách “đầu độc giếng” và vì thế cảnh báo những độc giả tiềm năng chống lại việc nuốt trọn mọi điều văn bản dường như đưa ra.

Moore thừa nhận rằng sự trớ trêu bề ngoài của văn bản dựa trên sự thất bại của người nữ trong việc phân biệt giữa điều gì là nghĩa đen và vật chất với điều hình tượng và thuộc linh (câu 15). Người nữ không nhận biết ý nghĩa (và nước) “từ trên.” Bà đang nói chuyện và múc nước “từ dưới.” Như chúng ta đã thấy, những nhà bình luận phản ứng độc giả bảo thủ tin rằng chiến lược của văn bản là dẫn độc giả qua sự trớ trêu từ tầng thấp đến tầng “cao” hơn. Giải cấu trúc là việc tháo gỡ những đối lập có đặc quyền trong hệ thống phân cấp, như nam và nữ, thuộc linh và vật chất, hình tượng và nghĩa đen. Chính những đối lập cao và thấp như vậy đã khiến người nữ bên giếng trở thành “nạn nhân” của sự trớ trêu của Chúa Giê-xu. Moore muốn sự đọc của ông lật đổ những đối lập của văn bản và cho thấy rằng sự thấu hiểu của người nữ Sa-ma-ri vượt trội hơn sự thấu hiểu của Chúa Giê-xu.

Moore ghi nhận rằng ý nghĩa trọn vẹn của “nước hằng sống” không được ban cho trong Giăng 4. Chúa Giê-xu lại phán về sự khát và nước hằng sống trong Giăng 7:37–38: “Ai tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình ra, y như Kinh Thánh đã chép vậy.” Người kể chuyện, trong một lời xen vào, cho độc giả biết rằng Chúa Giê-xu phán điều này “về Đức Thánh Linh mà những kẻ tin Ngài sẽ nhận lấy” (Giăng 7:39). Độc giả vì thế ở trong một vị trí cao hơn khán giả của Chúa Giê-xu, biết điều mà họ không biết. Nhưng Moore chỉ ra rằng có một sự trì hoãn thứ hai của ý nghĩa. “Hình ảnh uống nước hằng sống được giải nghĩa là sự tiếp nhận Đức Thánh Linh, nhưng sự biểu hiện trong câu chuyện lại bị hoãn lại cho đến sau này: ‘vì Đức Thánh Linh chưa được ban xuống, bởi Chúa Giê-xu chưa được vinh hiển’ (Giăng 7:39).” Những chủ đề về sự khát và uống lại xuất hiện một lần nữa tại cảnh đóng đinh theo cách mà đối với Moore “lạ lùng vang vọng” sự xuất hiện đầu tiên của chúng trong chương 4. Trong Giăng 19:28, tuy nhiên, chính Chúa Giê-xu phán: “Ta khát” - và dường như là khát nước trong nghĩa đen ở trần gian, chứ không phải nước hằng sống!

“Những kỳ vọng đã liên tục được nâng lên và chuyển hướng từ Giăng 4:10 trở đi, từ điều trần tục đến điều siêu việt. Chúa Giê-xu, nguồn của nước hình tượng, nay bị đẩy vào chính tình trạng khát trong nghĩa đen mà lời phán của Ngài đã dẫn khán giả vượt qua.”

Những dòng nước trở nên càng rối rắm hơn đối với Moore khi sau khi sự khát thể xác của Chúa Giê-xu được thỏa mãn (chính nó là sự ứng nghiệm Kinh Thánh - Giăng 19:28), Chúa Giê-xu phán: “Mọi sự đã được trọn” và phó ra - cái gì? linh hồn Ngài? Đức Thánh Linh? Moore bình luận: “Sự thỏa mãn cơn khát thể xác của Chúa Giê-xu trong Giăng 19:30 là một điều kiện kỳ lạ gây kinh ngạc cho sự ban ra mang tính biểu tượng của điều được định để thỏa mãn cơn khát siêu thể xác của người tin.” Không chỉ kỳ lạ, mà còn mâu thuẫn, vì chính trật tự của thuộc linh và thể xác dường như đã bị đảo ngược!

Tầng nghĩa đen, vật chất, trần gian, vốn bị vượt qua trong Giăng 4:7–14 và bị đẩy vào hậu cảnh, lại được tái lập trong Giăng 19:28–30 như là chính điều kiện (cơn khát thể xác, sự chết thể xác) khiến cho Đức Thánh Linh, biểu tượng và dấu hiệu của trật tự siêu việt (so sánh Giăng 14:17), thực sự hiện hữu.

Sự đối lập giữa thuộc linh và thể xác, trên đó sự trớ trêu của chương 4 phụ thuộc, vì thế bị lật đổ từ bên trong văn bản - bị sụp đổ. Thuật ngữ bề ngoài vượt trội - nước hằng sống, Đức Thánh Linh - được cho thấy là phụ thuộc vào thuật ngữ thấp kém hơn - nước trong nghĩa đen.

Sự chết của Chúa Giê-xu được tiếp nối bởi sự trở lại của điều “bị đàn áp” - nước thể xác - khi những người lính đâm cạnh sườn Ngài. Do đó, khi Chúa Giê-xu chết, Đức Thánh Linh (nước hằng sống) được ban ra và nước vật chất chảy ra từ cạnh sườn Ngài. Chúng ta phải hiểu thế nào về dòng chảy cuối cùng này? Moore gợi ý rằng chúng ta được để lại “với một biểu tượng (dòng nước chảy) của một ẩn dụ (nước hằng sống) cho Đức Thánh Linh.” Nước chảy ra từ cạnh sườn Chúa Giê-xu không đơn thuần là vật chất cũng không đơn thuần là thuộc linh; đúng hơn, nó vừa là nghĩa đen, lại vừa mang tính hình tượng.

Vậy còn người nữ Sa-ma-ri thì sao? Theo phân tích của Moore, bà gần với lẽ thật về nước, và về Chúa Giê-xu, hơn chính Chúa Giê-xu. Trong khi Chúa Giê-xu giả định một sự phân đôi (và hệ thống phân cấp) giữa nghĩa đen và hình tượng, thể chất và thuộc linh, thì người nữ chống lại những đối lập như vậy. Đối với bà, nước trong giếng không chỉ là vật chất; đó là nước từ một cái giếng do Gia-cốp đào đã tồn tại qua nhiều thế kỷ - nó mang tính biểu tượng. Vì thế, thay vì là nạn nhân của sự trớ trêu, người nữ bên giếng đã nhận ra đúng rằng mọi sự trớ trêu như vậy, vốn được xây dựng trên những đối lập phân cấp, cuối cùng sẽ sụp đổ. Trong chừng mực người nữ chống lại sự đối lập giữa nghĩa đen và hình tượng, bà vượt trội hơn người thầy nam của mình. Một sự đọc như vậy không phải là điều văn bản dự định, nhưng nó được chôn giấu trong “tiềm thức cấu trúc” của văn bản. Moore lập luận rằng Chúa Giê-xu, trong chừng mực Ngài sai lầm khi nghĩ rằng thuộc linh “cao hơn” thể chất, chính là nạn nhân trớ trêu chủ yếu của sự tháo gỡ này đối với sự giải nghĩa truyền thống của Giăng 4. Người nữ bên giếng, thay vì là nạn nhân của sự trớ trêu của tác giả, hóa ra lại là nhà bình luận giải cấu trúc–nữ quyền đầu tiên!

6. KẾT LUẬN: ĐỘC GIẢ NHƯ MÔN ĐỒ
#

Chúng ta còn lại với hai mô hình đối nghịch cho việc đọc. Mô hình nào theo sát văn bản hơn: mô hình từ chối hay mô hình tôn trọng ý định của tác giả và những chiến lược văn bản thể hiện chúng? Việc theo dõi một văn bản có nghĩa là hiểu bản chất của hoạt động truyền đạt của nó. Theo dõi sự trớ trêu không giống như theo dõi một luận điểm, nhưng cả hai đều là những hình thức phản ứng của độc giả đối với các chiến lược văn bản. Davies nói rằng những độc giả thành thạo sách Tin Lành thứ tư cần phải biết Kinh Thánh và câu chuyện về Chúa Giê-xu, và phải là một phần của cộng đồng xưng nhận sống theo (tức là tuân theo) những sự thấu hiểu của Tin Lành. “Những độc giả lý tưởng của câu chuyện này là những người có thể đóng vai trò của những người kể chuyện trong việc tin rằng Chúa Giê-xu là Đấng Christ.”

Cuối cùng, liên quan đến ý nghĩa: độc giả tìm thấy nó hay tạo ra nó? Albert Schweitzer đã kết thúc tác phẩm kinh điển The Quest for the Historical Jesus với một hình ảnh đáng nhớ về một cái giếng: khi những nhà nghiên cứu nhìn xuống giếng của lịch sử Chúa Giê-xu, họ chỉ thấy phản chiếu gương mặt của chính mình trong làn nước bên dưới. Độc giả tại cái giếng văn chương sẽ ra về với cơn khát lớn như trước nếu, trong khi tìm kiếm Chúa Giê-xu của văn bản, họ cũng chỉ khám phá chính mình. Những độc giả chỉ nuôi dưỡng mình bằng chính mình có khả năng sẽ bước ra khỏi tiến trình giải nghĩa trong tình trạng không được thỏa mãn.

Nghiên cứu nước giếng, ngửi mùi, và phân tích thành phần hóa học của nó là một chuyện, nhưng uống nước của giếng lại là chuyện hoàn toàn khác. Người nào liên tục nghi ngờ nước giếng bị ô nhiễm và không bao giờ uống, thì sẽ không bao giờ thỏa mãn được cơn khát của mình. Độc giả bên giếng, để được nuôi dưỡng, phải múc và uống từ văn bản. “Uống” ở đây có nghĩa là tiếp nhận và áp dụng. Độc giả có trách nhiệm tiếp nhận văn bản theo bản chất và ý định của nó. Steiner mô tả sự đọc tốt là sự đáp ứng với nguồn của nó, là kết quả của một tiếng vang sáng tạo đối với văn bản. Người ta có thể làm nhiều điều với nước từ một cái giếng; nhưng trong sa mạc của sự bình luận, một ngụm nước phải được tiếp nhận với sự háo hức và lòng biết ơn.

LẮNG NGHE TÂN ƯỚC