Skip to main content

Chương 02: Xác Định Thế Giới của Chúa Giê-xu

·5841 words·28 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

1. THÁNH - TỤC, THANH SẠCH - Ô UẾ
#

Chúng ta hãy thử bước vào thế giới của tư tưởng thanh sạch của người Do Thái xưa. Trước hết, Đức Chúa Trời đã sắp đặt thế giới theo nhiều cách khác nhau, nhưng có lẽ nền tảng nhất cho sự tồn tại của dân Israel là cấu trúc dựa trên hai cặp đối nghịch: thánh và tục, thanh sạch và ô uế. Văn bản trung tâm cho bản đồ này xuất hiện khi Đức Chúa Trời biệt riêng các thầy tế lễ của Israel — đem họ ra khỏi phần còn lại của dân sự. Lúc ấy, Đức Chúa Trời phán với các thầy tế lễ về vai trò thiết yếu của họ trong xã hội Israel: “Các ngươi phải phân biệt giữa thánh và tục, giữa ô uế và thanh sạch” (Lê-vi Ký 10:10). Dù phần lớn các tác phẩm trong bộ sưu tập mà Cơ Đốc nhân gọi là Cựu Ước và người Do Thái gọi là Kinh Thánh hay Tanakh không trực tiếp quan tâm đến bốn phạm trù này, thì đến thời Chúa Giê-xu, nhiều tác phẩm hiện hữu đã ít nhiều chịu ảnh hưởng từ cách phân loại thế giới này, thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ ấy.

Các phạm trù này không nên bị đồng hóa với nhau, như nhiều độc giả đã lầm tưởng. Từ “thánh” không đồng nghĩa với từ “thanh sạch.” Từ “tục” cũng không đồng nghĩa với từ “ô uế.” Phạm trù “thánh” liên quan đến những gì được dành riêng cho mục đích đặc biệt — trong ý nghĩa này, gắn liền với sự thờ phượng của Israel và do đó với Đức Chúa Trời của Israel (Lê-vi Ký 11:44; 20:7, 26; 22:32). Chẳng hạn, ngày Sa-bát là thánh (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:14), cũng như đền thờ là thánh (Thi Thiên 11:4). Ngược lại, phạm trù “tục,” một từ bắt nguồn từ tiếng Latin profanus (“bên ngoài đền thờ”), chỉ về những gì thuộc về đời thường hay dùng cho mục đích phổ thông. Việc tiếng Anh dùng từ “profane” để chỉ lời nói tục có thể gây nhầm lẫn đáng tiếc. Không có gì ô uế, dơ bẩn, hay tội lỗi trong việc một điều gì đó thuộc về phạm trù tục.

Cặp đối nghịch đầu tiên này cung cấp một bản đồ cho toàn thể thế giới — mọi sự đều hoặc thánh hoặc tục. Và phần lớn mọi sự trong thế giới thuộc về phạm trù tục. Chẳng hạn, sáu ngày trong tuần là tục, cũng như các công trình không thuộc về sự thờ phượng của Israel. Một vật hay một người không thể vừa thánh vừa tục cùng một lúc. Tự thân việc thuộc về phạm trù tục không có gì sai trái hay tội lỗi. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, điều nguy hiểm và có thể là tội lỗi xảy ra khi một điều thánh, như đền thờ hay ngày Sa-bát, bị tục hóa, hoặc khi điều tục xâm phạm vào điều thánh.

Bản đồ thứ hai của thế giới được hình thành bởi các phạm trù thanh sạch và ô uế. Một lần nữa, mọi sự trong thế giới đều thuộc về một trong hai phạm trù này: hoặc là ô uế, hoặc là thanh sạch. Và cũng vậy, không một vật hay một người nào có thể vừa thanh sạch vừa ô uế cùng một lúc. Một vật thuộc phạm trù tục, như căn nhà của ai đó, có thể là thanh sạch hoặc ô uế. Điều này cũng áp dụng cho những vật thánh — chúng có thể là thanh sạch hoặc ô uế. Các thầy tế lễ của Israel, những người được biệt riêng (= thánh), cũng có thể là thanh sạch hoặc ô uế. Nhắc lại, phạm trù thánh không đồng nghĩa với phạm trù thanh sạch; phạm trù tục cũng không đồng nghĩa với phạm trù ô uế. Đây là bốn phạm trù riêng biệt. Và một người Israel luôn được đặc trưng bởi hai trong bốn tính từ này, tồn tại trong một trong bốn trạng thái có thể có.

1- Thánh khiết và tinh sạch2- Thánh khiết và ô uế
3- Trần tục và tinh sạch4- Trần tục và ô uế

Trong tư tưởng tế lễ, cái trại trong đồng vắng hay đền thờ tại Giê-ru-sa-lem là không gian thánh bởi vì Đức Chúa Trời, Đấng thánh và là nguồn của mọi sự thánh, ngự tại đó. Trại hay đền thờ, về bản chất, là một khu vực được ngăn cách với nhiều ranh giới bao quanh: hành lang ngoài cung cấp một lớp bảo vệ quanh trại hay đền thờ, và tường của đền thờ tạo thêm một lớp ngăn cách, chỉ cho phép các thầy tế lễ bước vào nơi thánh. Ngay trong đền thờ, một bức màn bên trong che chở nơi chí thánh, nơi chỉ có thầy tế lễ thượng phẩm được vào, và chỉ một lần trong năm, vào ngày lễ Chuộc tội (Lê-vi Ký 16).

Điều khiến cần có những ranh giới này và đòi hỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời — sự vinh hiển của Ngài — phải được bảo vệ bởi trại hay đền thờ, chính là sự hiện hữu của ô uế trong thế giới. Trong phạm trù tục, ô uế có thể tồn tại. Ở đó, chúng có thể ảnh hưởng đến con người mà không gây hậu quả tức thì. Nhưng các thầy tế lễ của Israel, theo lệnh của Đức Chúa Trời, đã lập nên những ranh giới để ngăn các ô uế khỏi xâm nhập vào nơi không được phép — đền thờ Giê-ru-sa-lem, nơi Đức Chúa Trời của Israel ngự giữa loài người. Các ranh giới khác nhau của đền thờ và những điều cấm liên quan đến những ai không được vào nơi thánh đã được thiết lập để bảo tồn sự hiện diện thánh của Đức Chúa Trời trên đất, một sự hiện diện bị đe dọa bởi ô uế, điều mà Đức Chúa Trời của Israel chống lại. Nếu ai bước vào nơi thánh với sự ô uế của mình, người ấy sẽ bị truất ra khỏi dân Israel (Lê-vi Ký 22:3). Như vậy, các ranh giới này không chỉ nhằm bảo vệ sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà còn để che chở dân Ngài khỏi hậu quả của việc đến gần Đức Chúa Trời cách sai lầm.

Vì chức năng bảo vệ kép này, tôi muốn điều chỉnh lời khẳng định của Paula Fredriksen rằng lòng thương xót và sự thanh sạch chẳng liên quan gì với nhau, như cá với xe đạp. Fredriksen đúng khi bà muốn phá bỏ cách nghiên cứu Cơ Đốc giáo vốn tìm cách đối lập lòng thương xót của Chúa Giê-xu với những yêu cầu của hệ thống thanh sạch nghi lễ. Tuy nhiên, tôi đề nghị rằng chính lòng thương xót đã làm sinh động hệ thống thanh sạch của người Do Thái; đó là một hệ thống bảo vệ và nhân từ, nhằm duy trì sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa dân Ngài — một sự hiện diện có thể gây nguy hiểm lớn cho loài người nếu họ đến gần Đức Chúa Trời cách sai lầm.

Để thấy sự nguy hiểm của sự hiện diện Đức Chúa Trời (không trực tiếp liên quan đến sự ô uế nghi lễ), chỉ cần nhớ đến hai thầy tế lễ Nadab và Abihu, những người đã đến gần Đức Chúa Trời với lửa lạ và bị chết vì điều đó (Lê-vi Ký 10). Hoặc nhớ đến Uzzah, người đã chạm vào hòm giao ước cách sai lầm và bị chết (II Sa-mu-ên 6). Việc vào nơi thánh bị hạn chế nghiêm ngặt, không phải vì thiếu lòng thương xót, nhưng vì niềm tin rằng Đức Chúa Trời thánh khiết này không chỉ nhân từ và yêu thương mà còn là một sức mạnh quyền năng có thể nguy hiểm. Việc Nadab và Abihu là thầy tế lễ và là con trai của A-rôn chẳng có ý nghĩa gì, cũng như việc Uzzah thành tâm muốn giữ hòm giao ước khỏi rơi xuống đất cũng chẳng thay đổi được gì. Huống chi việc đưa sự ô uế, dù vô tình hay cố ý, vào phạm vi thánh sẽ gây nguy hiểm cho con người biết bao! Sự mô tả này về Đức Chúa Trời giải thích cho lời cầu xin của dân Israel rằng Môi-se hãy nói thay cho họ với Đức Chúa Trời, để họ khỏi phải chịu đựng kinh nghiệm đầy sợ hãi khi trực tiếp đối diện với Ngài (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:18–21). Lê-vi Ký 15:31 tóm gọn mối quan tâm của các thầy tế lễ về việc dân sự đến gần đền tạm hay đền thờ trong tình trạng ô uế: “Vậy, các ngươi phải phân biệt dân Israel khỏi sự ô uế của họ, kẻo họ chết vì sự ô uế của mình mà làm ô uế đền tạm ta ở giữa họ” (so sánh Dân Số Ký 19:13, 20).

Cơ Đốc nhân ngày nay có thể so sánh tư tưởng này với cách C. S. Lewis mô tả Aslan trong The Lion, the Witch and the Wardrobe. Khi biết Aslan là một con sư tử chứ không phải là người, Susan hỏi: “Ông ấy có hoàn toàn an toàn không? Cháu sẽ cảm thấy khá lo lắng khi gặp một con sư tử.” Bà Beaver đáp: “Nếu có ai có thể đứng trước mặt Aslan mà đầu gối không run rẩy, thì người đó hoặc là dũng cảm hơn hầu hết mọi người, hoặc người đó thật ngốc nghếch.” Cô bé Lucy lại hỏi: “Vậy ông ấy không an toàn sao?” Ông Beaver trả lời: “An toàn? … Cháu không nghe bà Beaver nói gì sao? Ai đã nói gì về sự an toàn chứ? Dĩ nhiên là ông ấy không an toàn rồi. Nhưng ông ấy là tốt lành. Ông ấy là Vua mà, ta nói cho cháu biết.”

Các thầy tế lễ Israel không tin rằng Đức Chúa Trời của họ là một thần linh bị thuần hóa. Trái ngược với nhiều hình ảnh biếm họa hiện đại, sự mô tả này về Đức Chúa Trời không phải là điều độc đáo của Cựu Ước Cơ Đốc giáo — Đức Chúa Trời trong Tân Ước cũng chẳng phải là hiền lành và yếu đuối. Chẳng hạn, sách Lu-ca thuật lại hậu quả chết người mà Anania và Saphira phải chịu vì nói dối với các lãnh đạo đầu tiên của phong trào theo Chúa Giê-xu: không báo trước, Đức Chúa Trời đã giết họ (Công-vụ các Sứ-đồ 5). Nói đơn giản, đến gần Đức Chúa Trời của Israel cách sai lầm là điều nguy hiểm. Không có gì lạ khi các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu bày tỏ sự nghiêm khắc đối với đền thờ Giê-ru-sa-lem và đối với những gì Ngài xem là sự sử dụng bất kính nơi thánh gắn liền với sự hiện diện của Đức Chúa Trời trên đất (Mác 11:15–17; so sánh Ma-thi-ơ 21:12–17; Lu-ca 19:45–48; Giăng 2:13–17).

Dù mang tính nhân đạo, những yêu cầu nghi lễ này có nghĩa là loài người phải giữ khoảng cách với Đức Chúa Trời chừng nào họ còn ở trong tình trạng ô uế. Nếu sự ô uế tích tụ trong nơi ngự của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ buộc phải lìa bỏ nó. Khi dân Israel để cho sự ô uế chất chứa trong đền tạm hay đền thờ, họ phải chịu hậu quả. Các ranh giới quanh trại hay đền thờ có chức năng bảo vệ cả bên trong (sự hiện diện của Đức Chúa Trời) lẫn bên ngoài (bất kỳ người Israel nào đang ở trong tình trạng ô uế) khỏi hậu quả của các thế lực ô uế. Tư tưởng như vậy rất phổ biến trong thế giới Địa Trung Hải cổ đại. Như Fredriksen nói, các “thần linh cổ thường gắn bó tình cảm với khu vực cư ngụ của họ, và họ thường có những quan niệm rõ ràng về phép tắc mà họ muốn loài người tuân giữ khi đến gần các vị thần tại đó.”

2. NHIỀU LOẠI QUYỀN LỰC CỦA SỰ Ô UẾ
#

Trong bản đồ này, vốn phân chia thế giới thành các phạm vi thánh và tục, thanh sạch và ô uế, cần phải tập trung kỹ hơn vào một phạm trù đặc biệt — phạm trù ô uế. Nhiều học giả đã cho rằng trong sách Lê-vi Ký có hai loại ô uế: nghi lễ và đạo đức. Thật đáng tiếc, ở đây người ta thường lẫn lộn hai hình thức ô uế này, dẫn đến nhiều sai lầm trong việc giải thích hay phân loại. Jonathan Klawans đã đưa ra một sự so sánh hữu ích giữa hai hình thức ô uế này, có thể được trình bày như sau:

Nghi lễĐạo đức
không thể tránhcó thể tránh
đến từ thực thể tự nhiênđến từ một hành động
có thể truyền tảikhông thể truyền tải
sạch nhờ tắm rửachuộc tội hoặc đoán phạt
không phải là điều kinh tởmlà một điều kinh tởm
không phải là tội lỗilà tội lỗi

Sự so sánh này làm nổi bật những khác biệt chính giữa ô uế đạo đức, vốn là tội lỗi, và ô uế nghi lễ, vốn không tự thân là tội lỗi. Việc đồng hóa ô uế đạo đức với ô uế nghi lễ — một điều mà các học giả Tân Ước, nhà thần học, giáo sĩ, và tín hữu thường mắc phải — làm tổn hại đến sự hiểu biết của chúng ta về các tường thuật trong các sách Tin Lành. Như tôi đã lưu ý ở trên, có những lúc hai phạm trù này, ô uế nghi lễ và ô uế đạo đức, giao thoa với nhau. Khi một người không loại bỏ sự ô uế nghi lễ bằng phương pháp được chỉ định vào thời điểm được chỉ định, điều đó có thể dẫn đến ô uế đạo đức — tội lỗi. Do đó, tôi cho rằng việc phân loại hai phạm trù này theo cách phản ánh rằng chúng tạo thành một phổ và không phải lúc nào cũng loại trừ lẫn nhau là điều hữu ích.

Dù các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu tương tác với và tha thứ cho những người ô uế về mặt đạo đức (ví dụ, Mác 2:5), quyển sách này sẽ tập trung gần như hoàn toàn vào điều mà Klawans gọi là ô uế nghi lễ. Tôi làm như vậy chính vì các cách giải thích về Tin Lành thường tập trung vào sự đối diện của Chúa Giê-xu với ô uế đạo đức (tội lỗi) nhưng lại không (hoặc không đúng) tập trung vào sự đối diện của Ngài với ô uế nghi lễ.

Ngoài hai hình thức ô uế này, sách Lê-vi Ký còn chứa một loại ô uế khác — mà tôi gọi là ô uế theo dòng dõi — tôi sẽ bàn ngắn gọn trong phần phụ lục của sách này. Một hình thức ô uế khác — mà các tác phẩm tế lễ không hình dung nhưng các tác giả Tin Lành có đề cập — là ô uế ma quỷ (hay ô uế thuộc linh). Kinh Thánh Do Thái chỉ một lần nhắc đến một thần ô uế, khi tiên tri Xa-cha-ri báo trước ngày Đức Chúa Trời sẽ thanh tẩy đất Israel: “Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ dứt các danh thần tượng khỏi đất, chúng nó sẽ chẳng còn được nhớ lại nữa; ta cũng sẽ dứt các đấng tiên tri và thần ô uế khỏi đất” (Xa-cha-ri 13:2). Xa-cha-ri, vốn là người thuộc dòng thầy tế lễ (1:1; so sánh Ê-xơ-ra 5:1), có ám chỉ đến một sự hiện diện ma quỷ nào đó hay không thì chưa chắc chắn, nhưng một số người Do Thái về sau (xem chương 6) đã dùng cụm từ này và những cụm từ tương tự để chỉ về ma quỷ.

3. HIỂU VỀ SỰ Ô UẾ NGHI LỄ
#

Để chuẩn bị cho việc tìm hiểu về Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành, chúng ta cần xem xét một số yếu tố của sự thanh sạch nghi lễ trong Do Thái giáo. Thật may mắn, chúng ta có công trình của nhà nhân học Mary Douglas, người đã góp phần lớn vào việc nghiên cứu sự thanh sạch nghi lễ. Cả trong các trước tác của bà về Lê-vi Ký và Dân-số Ký, lẫn trong những sự tiếp nhận và phê bình công trình của bà, sự thanh sạch nghi lễ đã trở thành một trọng tâm trong học thuật về Kinh Thánh Do Thái và Do Thái giáo thời kỳ đầu, và ở mức độ ít hơn, về Tân Ước. Chúng ta cũng có các tác phẩm phong phú của Jacob Milgrom, là người đã nghiên cứu về Lê-vi Ký và Dân-số Ký, với công trình đồ sộ ba tập chú giải về Lê-vi Ký, trải dài nhiều thập kỷ.

Như chúng ta đã thấy ở trên, ba nguồn chính của sự ô uế nghi lễ theo văn chương tế lễ trong Kinh Thánh Do Thái là: sự xuất tiết từ máu hay tinh dịch, bệnh phung, và xác chết (so sánh Lê-vi Ký 12–15; Dân-số Ký 19). Trong các chương tiếp theo, tôi sẽ khảo sát kỹ hơn các triệu chứng và luật lệ liên quan đến ba nguồn thể chất này của sự ô uế nghi lễ. Ở đây, tôi chỉ giới hạn trong một vài nhận xét tổng quát.

Khi điều tục chạm đến điều ô uế nghi lễ, điều tục trở nên ô uế nghi lễ. Luật lệ trong Lê-vi Ký 12–15 và Dân-số Ký 19 đề cập đến một số loại ô uế nghi lễ này. Sự kết hợp giữa điều tục và điều ô uế vốn là tự nhiên và thường không thể tránh khỏi. Chẳng hạn, việc sinh nở, kinh nguyệt, và sự giao hợp đều dẫn đến ô uế nghi lễ. Đây là những chức năng tự nhiên của con người. Phần lớn dân Israel vào một thời điểm nào đó đều đã trải qua những sự ô uế nghi lễ như vậy. Luật tế lễ không cấm dân Israel mắc phải những sự ô uế này, cũng không trừng phạt họ vì điều đó. Luật tế lễ giả định rằng con người sẽ phải chịu đựng những sự ô uế này và cung cấp cho họ phương tiện nghi lễ để loại bỏ chúng. Chỉ khi con người không xử lý đúng cách sự ô uế của mình thì vấn đề mới trở thành sự sai phạm. Khi một người đang ở trong tình trạng ô uế nghi lễ mà bước vào nơi thánh, người ấy phạm tội. Người đó lẽ ra phải dùng phương tiện nghi lễ do Đức Chúa Trời chỉ định để loại bỏ sự ô uế trước khi tiếp xúc với phạm vi thánh. Do đó, Lê-vi Ký 7:20 quy định rằng người nào ăn thịt của lễ trong khi đang ở trong tình trạng ô uế thì phải bị truất ra khỏi dân Israel (so sánh Lê-vi Ký 22:3, 9). Chính tại những điểm như thế này mà sự ô uế nghi lễ của người tục biến thành một dạng ô uế đạo đức. Bằng việc không giải quyết sự ô uế nghi lễ trước khi tiếp xúc với điều thánh, những người ấy đã bày tỏ sự bất kính đối với Đức Chúa Trời thánh của Israel.

Khi nơi thánh đạt đến ngưỡng ô uế, Đức Chúa Trời phải lìa bỏ nơi thánh đã bị ô nhiễm. Hậu quả của việc làm ô uế nơi thánh là, nếu không được xử lý, sự ô uế sẽ khiến Đức Chúa Trời thánh khiết, Đấng ngự trong đền thờ, phải từ bỏ nó. Và khi Đức Chúa Trời thánh lìa bỏ đền thờ, nơi thánh ấy trở thành tục, bởi sự thánh khiết của nó vốn xuất phát từ Đức Chúa Trời. Sự ô uế và sự thánh khiết, theo lời Milgrom, là:

“những đối nghịch về ý nghĩa, và vì bản chất và nguồn gốc của sự thánh khiết ở nơi Đức Chúa Trời, nên điều hệ trọng đối với Israel là phải kiểm soát sự xuất hiện của ô uế kẻo nó xâm phạm vào phạm vi của Đức Chúa Trời thánh. Những quyền lực đối nghịch nhau trong cuộc chiến vũ trụ không còn là các thần lành và thần dữ vốn đầy dẫy trong thần thoại của các dân láng giềng Israel, nhưng là các quyền lực của sự sống và sự chết được loài người giải phóng ra bởi sự vâng phục hay chống nghịch các điều răn của Đức Chúa Trời.”

Dựa trên những mô tả cổ xưa về những người mắc bệnh phung, Milgrom lập luận rằng ba nguồn ô uế nghi lễ này có điểm chung là chúng đều tượng trưng cho sự chết: xác chết, hiển nhiên, là một thân thể đã chết; người phung — tức là người mắc bệnh phung — trông giống như xác chết; và những người bị xuất tiết từ cơ quan sinh dục thì mất đi sinh lực chứa trong máu hay tinh dịch. Từ nhận xét này, ông kết luận rằng trong tư tưởng Do Thái, sự ô uế nghi lễ tượng trưng cho quyền lực của sự chết. Dĩ nhiên, việc suy rộng từ các văn bản tế lễ để đưa ra những khẳng định bao quát về tư tưởng Do Thái là điều khó khăn. Dù đây có thể là sự hiểu biết của giới tế lễ về ô uế, chúng ta không thể kết luận rằng tất cả người Do Thái cổ đều chia sẻ sự hiểu biết này. Cũng nguy hiểm khi giả định rằng cả một hệ thống biểu tượng và thần học đã thúc đẩy và định hình hệ thống thanh sạch nghi lễ. Tuy nhiên, Milgrom đúng khi lưu ý rằng một số văn bản Do Thái cổ đã liên kết rõ ràng hai nguồn ô uế với sự chết: xác chết, hiển nhiên, nhưng cũng cả bệnh phung (xem Dân-số Ký 12:12; II Các Vua 5:7; và có lẽ Gióp 18:13). Do đó, không phải là vô lý khi kết luận rằng sự mất đi dịch sinh dục cũng tượng trưng cho sự mất đi sinh lực và do đó mô phỏng sự chết.

Tuy nhiên, một số học giả đã lập luận rằng sự liên kết giữa ô uế và sự chết không hoàn toàn thuyết phục. Làm sao những điều như sự giao hợp hay sự sinh nở — những sự kiện gắn liền với sự xuất tiết từ cơ quan sinh dục — lại có thể tượng trưng cho sự chết? Và nếu sự xuất tiết máu và tinh dịch biểu thị sự mất đi sinh lực, điều này giải thích cho sự ô uế, thì chẳng phải bất kỳ sự mất máu nào, không chỉ máu sinh dục, cũng đều làm ô uế sao?

Vì vậy, họ cho rằng sự ô uế nghi lễ tượng trưng cho tính chất phải chết nói chung — thực tế rằng loài người được sinh ra và rồi chết đi. Trong ý nghĩa này, chúng khác biệt với phạm vi thánh — với Đức Chúa Trời, là Đấng bất tử, không có khởi đầu hay kết thúc, không sinh ra cũng không chết đi. Một lời dạy được lưu giữ trong một bản chú giải Do Thái thế kỷ thứ năm về sách Sáng-thế ký đã nắm bắt rõ sự phân biệt này giữa Đức Chúa Trời và loài người, liên kết sự sinh nở với sự chết:

“Người ta dạy rằng: Bất cứ điều gì có sự sinh sản thì sẽ chết, hư nát, được tạo ra, nhưng không thể tạo ra; còn điều gì không có sự sinh sản thì chẳng chết, chẳng hư nát, tạo ra nhưng không được tạo ra. R. ‘Azariah nói nhân danh Rabbi: Điều này được nói về Đấng ở trên.”

Nếu lời dạy này thực sự bắt nguồn từ Rabbi ‘Azariah thế kỷ thứ nhất, thì nó cho thấy rằng một số người Do Thái thời đó đã xem sự sinh nở (và ngầm hiểu cả sự giao hợp) là gắn liền với sự chết. Khoảng cách này giữa loài người (cũng như phần còn lại của tạo vật) và Đức Chúa Trời của Israel chính là điều khiến cần có hệ thống đền tạm và đền thờ. Điều thánh phải là đối nghịch của sự chết và tính chất phải chết: đó là sự sống.

Do đó, người Do Thái cổ đã hình dung các quy định liên quan đến việc vào sự thờ phượng trong đền thờ là những yêu cầu cần thiết để đến gần Đức Chúa Trời, là Đấng đã chọn đóng trại giữa dân sự phải chết của Ngài. Chỉ bằng cách tuân giữ những quy định này, Israel mới có thể duy trì sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở giữa mình. Như Benjamin Sommer nhận xét: “Một chủ đề trung tâm của truyền thống tế lễ — có lẽ là chủ đề trung tâm nhất — là ước muốn của Đức Chúa Trời siêu việt trở nên hiện diện trên đất mà Ngài đã dựng nên.” Sommer tiếp tục:

“Mục tiêu của các sự kiện tại Si-nai, như P [= một nhánh văn chương tế lễ] mô tả, là sự hiện diện của Đức Chúa Trời, và luật pháp chỉ là phương tiện để đạt đến mục tiêu đó. Do đó, nhiều học giả hiện đại nói rằng P về cơ bản là pháp lý hoặc tôn vinh luật pháp đã mô tả sai tài liệu này. Mối quan tâm chính của P không phải là luật pháp, nhưng là sự hiện diện của Đức Chúa Trời mà sự tuân giữ luật pháp làm cho cho thành hiện thực.”

Như vậy, tất cả các quy định về sự thanh sạch nghi lễ và các của lễ thực chất nhằm duy trì điều mà người tín hữu hiện đại có thể gọi là “mối quan hệ của Israel với Đức Chúa Trời.” Nói cách khác, hệ thống thanh sạch nghi lễ, trong thế giới mà các thầy tế lễ Israel sống, trước hết là về sự sống với Đức Chúa Trời và do đó là vấn đề của sự sống và sự chết.

4. VAI TRÒ BẢO VỆ CỦA CÁC THẦY TẾ LỄ
#

Đức Chúa Trời đã giao cho các thầy tế lễ của Israel trách nhiệm canh giữ những ranh giới này. Trước hết, các thầy tế lễ phải phân biệt giữa thánh và tục. Tương tự, họ phải phân biệt giữa thanh sạch và ô uế. Như Milgrom nói: “Việc phân biệt là bản chất của chức năng tế lễ.” Họ được Đức Chúa Trời giao phó công việc trọng yếu là tạo lập và duy trì các ranh giới để giữ cho các quyền lực ô uế bị ngăn lại, hầu chúng không gây nguy hiểm cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời cũng như cho sự chung sống của Israel với Ngài.

Tuy nhiên, Kinh Thánh Do Thái có những lời cáo buộc rằng tầng lớp tế lễ của Israel đôi khi đã lơ là trách nhiệm, làm lẫn lộn giữa thánh và tục, thanh sạch và ô uế. Do đó, một trong những tiên tri về sau, vốn là thầy tế lễ, đã lên án chức tế lễ vì đã thất bại trong việc giữ gìn sự phân biệt này:

“Các thầy tế lễ [Israel] đã phạm luật pháp ta, làm ô uế vật thánh ta; chúng nó không phân biệt giữa thánh và tục, không phân biệt giữa ô uế và thanh sạch; chúng nó nhắm mắt trước ngày Sa-bát ta, và ta bị ô uế giữa chúng nó” (Ê-xê-chi-ên 22:26; so sánh 44:23).

Hành động của Israel đã làm ô uế nơi thánh (các vật thánh trong đền thờ Giê-ru-sa-lem), thời gian thánh (ngày Sa-bát), và nguồn của sự thánh khiết (Đức Chúa Trời của Israel).

  • Với lời lẽ tương tự, tiên tri Sô-phô-ni nói rằng các thầy tế lễ của Giê-ru-sa-lem “làm ô uế vật thánh, làm bạo ngược luật pháp” (Sô-phô-ni 3:4).
  • Tiên tri Ma-la-chi cũng cáo buộc các thầy tế lễ đã thất bại trong trách nhiệm dạy dân phân biệt giữa thánh và tục, ô uế và thanh sạch: “Nhưng các ngươi đã xây bỏ đường lối, làm cho nhiều người vấp ngã về luật pháp, phá hủy giao ước của Lê-vi” (Ma-la-chi 2:8).
  • Một lần nữa, tiên tri Ô-sê phản đối sự dạy dỗ của các thầy tế lễ: “Dân ta bị diệt vì thiếu sự thông biết. Vì ngươi đã bỏ sự thông biết, hỡi thầy tế lễ, nên ta sẽ bỏ ngươi, không cho làm thầy tế lễ trước mặt ta nữa” (Ô-sê 4:6).
  • Ê-xê-chi-ên mô tả sự sụp đổ của ranh giới này khi ông cáo buộc Israel đã cho người ngoại bang giữ cửa nơi thánh của Đức Giê-hô-va (Ê-xê-chi-ên 44:8).
  • Và theo sách Dân-số Ký, Đức Chúa Trời đã truyền cho người Lê-vi phải giữ ranh giới giữa thánh và tục. Chỉ người Lê-vi mới được hầu việc trước hội mạc; bất kỳ ai khác đến gần đền tạm đều phải bị xử tử (Dân Số Ký 1:51; 3:10, 38; 18:7).
  • Theo các tiên tri, nhiều lần các thầy tế lễ Israel đã bỏ bê trách nhiệm Đức Chúa Trời giao phó là dạy Israel luật pháp: “Luật pháp bị diệt mất nơi thầy tế lễ” (Ê-xê-chi-ên 7:26). Sự bỏ bê này, theo Ê-xê-chi-ên 22:26, đã làm ô uế chính Đức Chúa Trời.

Người đọc hiện đại không nên hiểu những lời cáo buộc này chống lại các thầy tế lễ như là sự bác bỏ hệ thống thanh sạch hay quyền uy tế lễ đối với phạm vi thánh. Trái lại, những lời tranh luận này cho thấy nhiều người Do Thái đã tin chắc vào tầm quan trọng của hệ thống thanh sạch và cho rằng điều tối quan trọng là các thầy tế lễ phải hướng dẫn Israel phân biệt đúng giữa thánh và tục, thanh sạch và ô uế. Đối với các tiên tri, giải pháp cho sự thất bại trong hệ thống thanh sạch nghi lễ không phải là từ bỏ hệ thống, nhưng là sự phân định và duy trì ranh giới cách chính xác hơn.

Theo các thầy tế lễ Israel, Đức Chúa Trời đã ban cho Israel một loạt hành động nghi lễ đơn giản nhằm loại bỏ sự ô uế và cho phép tiếp cận giới hạn vào đền thờ. Đức Chúa Trời đã ban cho họ phương tiện để chống lại một số quyền lực ô uế. Thực chất, Đức Chúa Trời đã trang bị cho Israel những thực hành nghi lễ có hiệu quả trong việc loại bỏ sự ô uế; những thực hành này về cơ bản là sự kết hợp giữa thời gian và nước (và trong những trường hợp đặc biệt, là máu hoặc tro). Nhưng những chất thanh tẩy nghi lễ này có giới hạn trong khả năng loại bỏ sự ô uế. Chúng chỉ loại bỏ những ảnh hưởng còn lại của tình trạng khiến người ta ô uế; nhưng chúng không, không thể, và chưa bao giờ được định để loại bỏ chính những tình trạng thể chất gây ra sự ô uế. Chẳng hạn, chúng không chữa lành sự xuất tiết bất thường từ cơ quan sinh dục, chữa bệnh phung, hay biến xác chết thành người sống. Việc duy trì đúng đắn, chứ không phải biến đổi, tình trạng hiện tại của thế giới là mục tiêu duy nhất được Đức Chúa Trời định ra.

5. SỰ BIẾN ĐỔI LÚC TẬN THẾ CỦA THẾ GIỚI DO THÁI
#

Các thầy tế lễ Israel có mong mỏi một thời điểm khi những nghi lễ này sẽ không còn cần thiết nữa không? Tiên tri Ê-xê-chi-ên, vốn là thầy tế lễ, đã hình dung những ranh giới tốt hơn, lớn hơn, và mạnh mẽ hơn, chứ không phải một sự biến đổi vũ trụ trong đó sự ô uế hoàn toàn chấm dứt (Ê-xê-chi-ên 40–48). Người ta có thể chỉ đến Ê-xê-chi-ên 37 và trũng đầy những hài cốt khô, nơi Thần linh của Đức Chúa Trời biến đổi những xác chết ô uế thành những con người sống, và do đó thanh sạch (hay có thể được thanh tẩy). Tuy nhiên, ngay cả sự biến đổi kỳ diệu này cũng không cho thấy một thực tại mới nơi sự ô uế hoàn toàn biến mất.

Hơn nữa, dù văn chương tế lễ không tập trung vào đề tài ma quỷ, nhiều người Do Thái về sau chắc chắn đã làm như vậy và liên kết ma quỷ với phạm vi ô uế. Cũng có những người hy vọng rằng những quyền lực chống lại sự ô uế sẽ bước vào thế giới. Thật vậy, chúng ta thấy một sự bùng nổ của những kỳ vọng lai thế học, vốn hình dung một thế giới mới nơi tình trạng hiện tại sẽ trải qua sự biến đổi tận gốc. Đôi khi, sự nhiệt thành lai thế học này gắn liền với niềm hy vọng vào một nhân vật Mê-si sẽ giải cứu Israel (và cả thế giới) khỏi tình trạng hiện tại.

Chính trong thế giới đầy hy vọng lai thế học này mà chúng ta phải đặt các tác giả Tin Lành và cách họ mô tả Chúa Giê-xu. Các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu là Đấng được Đức Chúa Trời trang bị để đối diện với những nguồn gốc thực sự của sự ô uế. Một khi những tình trạng nền tảng tạo ra sự ô uế nghi lễ được loại bỏ, con người sẽ được tự do làm theo những bước đơn giản để loại bỏ sự ô uế nghi lễ còn sót lại. Chúng ta thấy điều này một cách rõ ràng, như tôi sẽ bàn trong chương 3, trong cách Chúa Giê-xu đối xử với người mắc bệnh phung (Mác 1:44). Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành là Đấng thánh của Đức Chúa Trời, một con người mang trong mình một quyền lực lan tỏa chống lại và cuối cùng hủy diệt những quyền lực tạo ra sự ô uế và sự chết.

CHÚA GIÊ-XU VÀ CÁC THẾ LỰC CỦA SỰ CHẾT