Skip to main content

Chương 07: Chúa Giê-xu và Sự Ô Uế Tà Linh

·12194 words·58 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Những chương trước đã khảo sát sự tương tác của Chúa Giê-xu với những người bị ô uế theo nghi lễ: những người mắc bệnh phung, một người đàn bà bị ra huyết, và các xác chết. Liên quan đến những sự ô uế này, Chúa Giê-xu đã làm những việc quyền năng mà văn chương tế lễ không hề dự liệu, nhưng lại có tiền lệ trong các mô tả về Ê-li và Ê-li-sê. Tuy nhiên, các tác giả Tin Lành ghi lại một dạng ô uế khác mà Chúa Giê-xu đã đối diện, nhưng văn chương tế lễ không hề bàn đến: sự ô uế bởi Sa-tan hay bởi tà linh.

Để hiểu những câu chuyện này, điều hữu ích là chúng ta cần xem xét về tà linh trong Kinh Thánh Do Thái, trong bối cảnh Cận Đông cổ đại, trong Do Thái giáo thời kỳ đầu, và trong thế giới Hy-La rộng lớn hơn, hầu cho chúng ta không tiếp cận các tà linh trong các sách Tin Lành bằng những quan niệm hiện đại vốn làm méo mó sự hiểu biết của chúng ta về các câu chuyện này.

1. TÀ LINH TRONG KINH THÁNH DO THÁI
#

Niềm tin về tà linh đã lan rộng trong vùng Cận Đông cổ đại; tuy nhiên, văn chương tế lễ không hề đề cập rõ ràng đến sự hiện hữu của chúng hay đến sự ô uế liên hệ với các thực thể ấy. Từ sự im lặng này, Jacob Milgrom lập luận rằng mặc dù tư tưởng về sự thanh sạch của Y-sơ-ra-ên có nhiều điểm chung với các hệ thống thanh sạch của các dân tộc ở khu vực Lưỡng Hà (Mesopotamia) cổ, các thầy tế lễ đã loại bỏ yếu tố tà linh ra khỏi thế giới quan của họ. Trái ngược với nền văn hóa chung quanh vốn tràn ngập niềm tin vào cả các thực thể dữ và lành, các thầy tế lễ của Y-sơ-ra-ên đã giải huyền thoại thế giới. Theo Milgrom,

“tư tưởng tế lễ khẳng định sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời tối cao, Ngài không tranh đấu với một cõi cao hơn hay với những kẻ ngang hàng. Thế giới của tà linh bị bãi bỏ; không có sự tranh chiến với những kẻ thù tự trị, bởi vì chẳng có kẻ nào cả. Khi tà linh bị diệt, chỉ còn một loài thọ tạo giữ quyền lực ‘thần linh’ — ấy là con người.”

Một sự đọc lướt qua văn chương tế lễ cho thấy Milgrom nhìn chung là đúng. Thế nhưng ngay trong sách Lê-vi Ký, vẫn còn dấu vết của tà linh. Đặc biệt nhất, ngày Yom Kippur, tức Ngày Chuộc Tội, đòi hỏi phải dùng hai con dê: một dành cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và một dành cho A-xa-sên (Azazel) (Lê-vi Ký 16:8, 10, 26). Sự đối chiếu giữa A-xa-sên và YHWH có thể khiến người ta suy ra rằng luật pháp trong Lê-vi Ký 16 xem A-xa-sên như một loại thần linh nào đó. Hơn nữa, đoạn văn đặt A-xa-sên trong đồng vắng (16:10), một nơi được xác định ở chỗ khác là chỗ ở của tà linh (chẳng hạn như Ê-sai 13:21; 34:14). Milgrom cho rằng con dê bị sai vào đồng vắng là một di tích của sự tế lễ ngoại giáo cho một tà linh tên là A-xa-sên, một tàn dư mà tác giả tế lễ đã giải huyền thoại và đưa vào nghi lễ tế lễ. Dù lời giải thích này có thể đúng, nó buộc chúng ta phải tin rằng một thực thể vốn là tà linh, đã bị giải nghĩa theo kiểu giải huyền thoại trong tư tưởng tế lễ, nhưng sau đó lại được tái huyền thoại trong văn chương Do Thái về sau. Thêm nữa, nếu các thầy tế lễ không nghĩ A-xa-sên là một thực thể tà linh, thì việc họ nhắc đến tên này trong một nền văn hóa rộng lớn vốn có quan niệm như vậy dường như không khôn ngoan. Tuy nhiên, họ đã nhắc đến nó, cho thấy rằng họ không hoàn toàn tránh xa tà linh học.

Nghi lễ dành cho người chồng ghen tuông (Dân-số Ký 5:11–31) có thể cung cấp thêm bằng chứng về tà linh trong văn chương tế lễ, bởi vì nó chứa một thủ tục trong trường hợp một ruaḥ (thần khí) ghen tuông khiến người chồng nghi ngờ vợ mình phạm tội tà dâm. Tuy nhiên, việc ruaḥ này có nên được hiểu theo nghĩa tà linh hay không thì chưa rõ. Cũng vậy, nghi lễ liên quan đến tro của bò cái tơ sắc đỏ có thể dựa trên một nỗ lực mang tính hộ pháp để chống lại tà linh.

Mặt khác, Lê-vi Ký và Dân-số Ký là sản phẩm văn chương của tầng lớp thầy tế lễ — một nhóm tinh hoa đặc biệt trong Y-sơ-ra-ên. Milgrom có thể đúng khi kết luận rằng các thầy tế lễ đã kìm nén (hoặc ít nhất không tập trung vào) yếu tố tà linh trong sự giải thích hệ thống thanh sạch, nhưng điều này không có nghĩa là toàn thể dân Y-sơ-ra-ên cổ đại đều tách biệt sự thanh sạch và ô uế khỏi thế giới của tà linh.

Ngoài văn chương tế lễ, Kinh Thánh Do Thái có nhiều lần đề cập đến sự hiện hữu của các thực thể tà linh. Chẳng hạn, nhà sử ký theo truyền thống Deuteronomistic có nhắc đến các ruaḥ (thần khí) dữ một cách thoáng qua, dường như mặc nhiên thừa nhận sự hiện hữu và niềm tin phổ biến về tà linh. Khi thuật lại đời sống của vị vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên, là Sau-lơ, nhà sử ký cho biết rằng sau khi ruaḥ của Đức Chúa Trời lìa khỏi Sau-lơ, một ruaḥ dữ đến và hành hạ ông (I Sa-mu-ên 16:14–23 [tiếng Hy Lạp: pneuma]). Sự đối chiếu giữa ruaḥ của Đức Chúa Trời và ruaḥ dữ cho thấy một quyền lực khác biệt với Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Trong khi Đa-vít thành công trong việc làm dịu Sau-lơ, thì ruaḥ dữ lại quyết tâm hủy diệt Đa-vít, khiến Sau-lơ tìm cách giết ông (18:10–11, 25; 19:1, 9–17). Tuy nhiên, câu chuyện cho thấy rõ ràng rằng ngay cả quyền lực tà linh áp bức này rốt cuộc cũng phục vụ cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên (18:10–11; 19:9–10).

Không chỉ tà linh làm khổ con người, mà chúng còn lừa dối họ, như nhà sử ký đã làm rõ qua lời của tiên tri Mi-chê:

“Đức Giê-hô-va phán rằng: ‘Ai sẽ dỗ A-háp đi lên và sa ngã tại Ramoth-gilead?’ … Bấy giờ một ruaḥ bước ra và đứng trước mặt Đức Giê-hô-va, mà thưa rằng: ‘Tôi sẽ dỗ nó.’ Đức Giê-hô-va phán cùng nó rằng: ‘Bằng cách nào?’ Nó thưa rằng: ‘Tôi sẽ ra làm một ruaḥ nói dối trong miệng các tiên tri của nó.’ Ngài phán rằng: ‘Ngươi sẽ dỗ nó và sẽ thắng; hãy đi ra và làm như vậy!’” (I Các Vua 22:20–22).

Lời tiên tri này về cảnh ngai trời mô tả Đức Chúa Trời tìm một đầy tớ để thực hiện ý muốn của Ngài — thuyết phục vua A-háp đi lên Ramoth-gilead để chiến đấu cùng vua Sy-ri. Đức Chúa Trời định cho A-háp phải chết qua sự dối trá này. Một ruaḥ nói dối vội vàng làm theo lệnh của Đức Chúa Trời, dùng lời giả dối của các tiên tri Y-sơ-ra-ên để thuyết phục A-háp rằng Đức Chúa Trời đã hứa cho ông sự thành công trong chiến trận. Kết quả: A-háp nghe theo lời dối trá của ruaḥ qua miệng các tiên tri giả và đi lên Ramoth-gilead, nơi ông tử trận. Việc nhà sử ký trong sách 2 Sử-ký, vốn có thể thuộc dòng dõi Lê-vi hay tế lễ, cũng đưa câu chuyện này vào lịch sử Y-sơ-ra-ên (II Sử-ký 18:18–23) cho thấy rằng ít nhất một số người thuộc dòng tế lễ đã chấp nhận sự hiện hữu của tà linh.

Một tham chiếu cuối cùng về ruaḥ trong Lịch sử Deuteronomistic đáng được nhắc đến. Khi vua Assyria là Shalmaneser vây hãm Giê-ru-sa-lem, tiên tri Ê-sai đã nói tiên tri rằng Đức Chúa Trời sẽ sai một ruaḥ đến cùng vua, để ông nghe những tin đồn về quê hương mình khiến ông phải rút quân và trở về, là nơi ông sẽ chết (2 Các Vua 19:7; so sánh Ê-sai 37:7).

Mỗi câu chuyện này đều mô tả các thực thể ấy ở dưới quyền kiểm soát của Đức Chúa Trời và tìm cách lừa dối hoặc giết hại loài người. Ngay khi thừa nhận sự hiện hữu của các thực thể thần linh dữ, thì Lịch sử Deuteronomistic cũng nhấn mạnh rằng chúng phục vụ cho Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Do đó, tác phẩm này cho thấy cách mà dân Y-sơ-ra-ên, bất kể là thầy tế lễ hay không, có thể, theo lời Milgrom, khẳng định “sự hiện hữu của một Đức Chúa Trời tối cao, Ngài không tranh đấu với một cõi cao hơn hay với những kẻ ngang hàng” và đồng thời tin vào sự hiện hữu của nhiều tà linh. Sau cùng, như Paula Fredriksen đã nói, độc thần giáo cổ đại, cả Do Thái lẫn không phải Do Thái, “nói đến kiến trúc tưởng tượng của vũ trụ, chứ không phải đến số lượng tuyệt đối của nó.” Độc thần giáo cổ đại không loại trừ sự hiện hữu của nhiều thực thể thần linh; đúng hơn, nó chỉ đòi hỏi rằng phải có một Đức Chúa Trời tối cao cai trị trên tất cả các thần khác.

Các ruaḥ dữ trong Lịch sử Deuteronomistic có thể soi sáng cho một đoạn trong sách Xa-cha-ri có liên hệ đến cuộc thảo luận của chúng ta về Chúa Giê-xu và tà linh. Theo lời tiên tri, Đức Chúa Trời hứa như sau:

“‘Trong ngày đó,’ Đức Giê-hô-va vạn quân phán, ‘Ta sẽ dứt các tên của hình tượng khỏi đất, để chúng nó chẳng còn được nhớ nữa. Ta cũng sẽ cất khỏi đất các tiên tri và ruaḥ ô uế’” (Xa-cha-ri 13:2).

Dù có thể giải thích cụm từ “ruaḥ ô uế” như ám chỉ một khuynh hướng nội tâm của con người, nhưng cũng có thể hiểu rằng tiên tri ở đây hình dung một quyền lực thần linh dữ, có lẽ liên hệ đến các hình tượng mà ông vừa nhắc đến, mà Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ tẩy sạch. Nếu vậy, đoạn này lại một lần nữa cho thấy rằng một thầy tế lễ (Xa-cha-ri 1:1) đã tin vào sự hiện hữu của tà linh.

Như Milgrom đã ghi nhận, các dân tộc láng giềng của Y-sơ-ra-ên có một hệ thống tà linh học rất phong phú. Một trong những tác phẩm quan trọng nhất về tà linh học, bộ sách gồm mười sáu bảng được gọi là Udug-hul (Tà linh Dữ), cho thấy niềm tin rằng tà linh có thể nhập vào con người đã xuất hiện rất sớm và lan rộng. Tác phẩm này chứa đựng những tài liệu có niên đại từ thời Old Akkadian (2300–2200 TCN) cho đến thời Seleucid (300–200 TCN), chứng tỏ nỗi sợ hãi lâu dài mà nhiều người trong vùng Cận Đông cổ đại đã có đối với tà linh.

Chẳng hạn, một văn bản hộ pháp trong bộ hợp tuyển này viết rằng:

Chớ nói: “Hãy để ta đứng bên cạnh.”

Hãy đi ra, hỡi Udug dữ, đến nơi xa xôi,

Hãy đi đi, hỡi Ala dữ, đến nơi đồng vắng.

Ở đây, cũng như trong Lê-vi Ký 16, ta thấy sự liên hệ giữa tà linh và đồng vắng, cùng với một phép thuật để trục xuất sự hiện diện của tà linh.

Một văn bản khác mô tả việc một người bị quỷ nhập và nghi lễ cần thiết để trục xuất quỷ ra khỏi thân thể người ấy:

Hãy đi, hỡi con ta, Asalluhi,

Hãy rót nước vào chén anzam,

Và bỏ vào đó cây tamarisk và cây innuš.

(Người ấy đọc thần chú Eridu). Hãy làm dịu bệnh nhân, và đem lư hương

cùng ngọn đuốc cho người ấy,

để quỷ Namtar đang ở trong thân thể người ấy sẽ ra khỏi.

Một văn bản khác nữa, rất sáng tỏ, mô tả bản chất của tà linh như sau:

Chúng không phải là nam, cũng không phải là nữ,

Chúng là những luồng gió luôn thổi qua,

Chúng không có vợ, không sinh con,

Không biết thương xót,

Không nghe lời cầu nguyện và sự khẩn nài.

Chúng ta thấy một mối quan tâm tương tự về tà linh trong văn chương Zoroastrian, vốn rất khó để xác định niên đại. Về sau được đưa vào bộ Yasna gồm bảy mươi hai chương, mười bảy bài thánh ca của Gathas mô tả thế giới quan nhị nguyên của tư tưởng Zoroastrian:

Phải, có hai thần khí căn bản,

là anh em sinh đôi, nổi tiếng vì xung đột.

Trong tư tưởng, trong lời nói, trong hành động,

chúng là hai: điều thiện và điều ác.

Hơn nữa, khi hai thần khí này lần đầu gặp nhau,

chúng đã tạo ra sự sống và sự chết.

Lời này thuộc về phần mà các học giả tin là cổ nhất trong Yasna. Điều quan trọng là nó gắn kết thần khí ác với sự sáng tạo của sự chết. Trong một tầng lớp muộn hơn của Yasna, ta thấy sự mở rộng của tư tưởng này:

Ta từ bỏ sự đồng công với các Daevas gian ác…

và những kẻ theo Daevas, theo tà linh và những kẻ theo tà linh,

những kẻ làm hại bất cứ sinh vật nào bằng ý tưởng, lời nói,

hành động hay dấu hiệu bên ngoài.

Tương tự, Vendidad, một bộ hợp tuyển Zoroastrian về các thần khí dữ, chứa đựng tài liệu được biên soạn qua nhiều thời kỳ, cho rằng Angra Mainyu - thần khí hủy diệt - là nguồn gốc của 99.999 bệnh tật gây khốn khổ cho nhân loại. Như vậy, tà linh là nguồn gốc của cả bệnh tật lẫn sự chết trong nhân loại — một quyền lực chết chóc chống lại Ahura Mazda - thần khí cao cả - Đấng Tạo Hóa, và là quyền lực của sự sống, là Đấng mà người Zoroastrian thờ phượng. Tương tự như tư tưởng tế lễ của Y-sơ-ra-ên được bàn trong chương 6, người Zoroastrian xem xác chết là ô uế. Nhưng khác với văn chương tế lễ của Y-sơ-ra-ên, tư tưởng Zoroastrian gắn sự ô uế của xác chết với tà linh Drug Nasu:

Nếu một người một mình khiêng xác chết,

thì Nasu lao đến trên người ấy để làm ô uế,

từ lỗ mũi của người chết, từ con mắt,

từ lưỡi, từ hàm, từ cơ quan sinh dục,

từ phần sau. Drug Nasu ấy sẽ lao đến trên người,làm nhơ uế cho đến tận móng tay,

và người ấy sẽ ô uế, từ đó về sau, đời đời.

Tất cả những văn bản Zoroastrian này đều gắn tà linh với lãnh vực ô uế và sự chết. Một lời nói được lưu giữ trong tác phẩm Dēnkard thế kỷ thứ mười đã tóm tắt tư tưởng Zoroastrian: “Sự thanh sạch là thế này: sự phân rẽ khỏi tà linh.” Lời này cho thấy rằng mặc dù các văn bản Zoroastrian không gọi tà linh là ô uế, nhưng thuật ngữ “thần khí ô uế” trong Xa-cha-ri 13:2 là một mô tả thích hợp về tà linh.

2. TÀ LINH TRONG THẾ GIỚI HY-LA
#

Hầu hết người Do Thái cổ đều nghĩ rằng tà linh là dữ và chống nghịch cả Đức Chúa Trời lẫn loài người. Tuy nhiên, niềm tin này không nhất thiết đúng trong thế giới ngoài Do Thái. Trong Inventing Superstition, Dale Martin ghi lại cách mà người Hy-La nhìn nhận về tà linh. Trong khi các triết gia thường xem tà linh là lành, nhiều người khác lại xem chúng là dữ. Do đó, cần thận trọng để không gán nghĩa tiêu cực cho thuật ngữ này trong các văn bản Hy-La không thuộc Do Thái, trừ khi ngữ cảnh đòi hỏi.

Một vài ví dụ về cách hiểu tích cực sẽ đủ minh họa. Chẳng hạn, nhà bi kịch Hy Lạp thế kỷ thứ năm TCN là Euripides nói rằng Alcestis vừa qua đời nay trở thành một “daimōn được phước.” Tương tự, Symposium của Plato lưu giữ niềm tin rằng “toàn thể lãnh vực daimonic nằm giữa thần linh và loài người.” Niềm tin rằng các thực thể này hiện hữu và bắc cầu khoảng cách bản thể và không gian giữa các thần và loài người đã lan rộng. Người ta nghĩ rằng các daimones là những sứ giả đi lại giữa trời và đất:

“Giải nghĩa và chuyển tải những điều của loài người lên cho các thần, và những điều của thần xuống cho loài người; những lời khẩn cầu và tế lễ từ dưới, và những sắc lệnh cùng sự báo trả từ trên: ở giữa, nó khiến mỗi bên bổ sung cho bên kia, để toàn thể được hiệp làm một.”

Niềm tin này đã xuất hiện sớm từ Homer, nhưng Plutarch cho rằng Hesiod “là người đầu tiên trình bày rõ ràng và phân biệt bốn loại hữu thể có lý trí: thần, bán thần, anh hùng, theo thứ tự ấy, và sau cùng là loài người.” Plato cho rằng daimonion không thể nói dối. Và Dio Cassius, rõ ràng muốn khen ngợi, đã hỏi rằng ai có tính daimonic hơn Augustus, vốn là một thần linh bậc thấp.

Plutarch đã đưa ra một mô tả có lẽ là cách hiểu học thuật về tà linh trong thế kỷ thứ nhất và thứ hai:

“Plato, Pythagoras, Xenocrates và Chrysippus, theo bước các tác giả xưa về những điều thánh, cho rằng [các daimones] mạnh hơn loài người, và trong sức mạnh, vượt xa bản chất chúng ta, tuy nhiên không có phẩm chất thần linh thuần khiết, nhưng có phần trong bản chất của linh hồn và trong các giác quan của thân thể, cùng với khả năng chịu khoái lạc và đau đớn và mọi kinh nghiệm khác đi kèm với những biến đổi này, là nguồn gốc của nhiều sự bất an nơi một số, và ít hơn nơi những kẻ khác. Vì trong [các daimones], cũng như trong loài người, có nhiều mức độ khác nhau của đức hạnh và tội lỗi.”

Mô tả của Plutarch ngụ ý rằng không phải mọi daimones đều lành; giống như loài người, một số thì đạo đức hơn (hoặc tội lỗi hơn) những kẻ khác. Tuy nhiên, Plutarch than phiền rằng nhiều người cùng thời với ông lại nhìn tà linh với sự sợ hãi — như những quyền lực siêu nhiên dữ và hủy diệt. Niềm tin này ông gọi là deisidaimonia — thường được dịch sang tiếng Anh là “superstition” (mê tín), nhưng thực chất ám chỉ sự sợ hãi đối với tà linh, và rõ ràng đã phổ biến đến mức khiến Plutarch khinh bỉ. Thật ra, sự chế giễu tương tự đã xuất hiện sớm hơn nhiều, vào thế kỷ thứ tư hay thứ ba TCN trong Characters của Theophrastus.

Không ngạc nhiên khi nhiều người sợ tà linh đã tìm kiếm sự giải thoát qua các nghi lễ trừ quỷ, bởi vì sự liên hệ giữa tà linh và sự chết vốn phổ biến trong thế giới Hy-La. Ngay trong Hesiod, ta thấy niềm tin rằng các daimones là những người chết biến hóa từ thời đại vàng, đi lại trên đất. Euripides mô tả Hercules, vừa chiến thắng Thần Chết, khoe rằng: “Ta đã giao chiến với Chúa của [daimonōn].” Dù các thực thể này có thể không dữ, chúng vẫn nằm dưới quyền lực của sự chết.

Tương tự như sách Tobit, một bia ký thời La Mã quy trách nhiệm cho một tà linh về cái chết của một thiếu nữ sắp kết hôn:

“Dorotheos, cha nàng, đã chôn cất Theodosia, mười tám tuổi, là con một và còn đồng trinh. Nàng sắp kết hôn, nhưng vào ngày hai mươi tháng Tybi, ngươi đã cướp nàng đi, hỡi daimōn dữ, ngươi đã không định cho nàng trở về nhà như nàng mong đợi.”

Trong bộ sưu tập Sayings of Spartans, Plutarch kể lại một câu chuyện về một tà linh ám một gò mộ, và một bản papyrus ma thuật cho rằng các daimones cư ngụ trong vùng của các xác chết. Sự liên hệ lặp đi lặp lại giữa sự chết và tà linh đã phát triển thành một dòng tà linh học quy cho tà linh những ý định chết chóc. Plutarch tóm tắt nỗi sợ này như sau:

“Những daimones hèn hạ và độc ác, vì ghen tị với người lành và chống đối việc làm của họ, tìm cách làm rối loạn và kinh hãi họ, khiến đức hạnh của họ lung lay, để họ không thể đứng vững và giữ mình trong con đường danh dự, hầu cho sau khi chết họ không đạt được phần tốt hơn chính chúng.”

Ngay cả Homer, vốn thường gắn tà linh với thần linh lành, cũng mô tả một người nằm bệnh và bị tà linh tấn công. Trong bi kịch The Persians, Aeschylus quy sự thất trận quân sự cho “một quyền lực hủy diệt hay một tà linh dữ.” Tương tự, nhà bi kịch thế kỷ thứ năm Sophocles nói rằng chiếc áo nhuốm máu của Nessus đã làm khổ Heracles, và ông gọi sự khổ ấy là một tà linh:

“Nó đã bám vào hông ta và ăn mòn tận xương thịt bên trong, và sống cùng ta để nuốt lấy các ống phổi. Nó đã uống máu tươi của ta, và cả thân thể ta đã hư hoại, nay ta bị trói buộc bởi sự khốn khổ không thể nói ra … Lại một cơn đau cháy bỏng thiêu đốt ta, nó phóng qua hông ta, và căn bệnh dữ dội nuốt lấy ta dường như chẳng bao giờ tha cho ta khỏi sự hành hạ … Vì nó lại đang ăn nuốt ta, nó đã nở hoa, nó đã phát động.”

Nhà địa lý thế kỷ thứ hai là Pausanias nói đến tà linh của một người bị ném đá chết, rồi trở lại giết những kẻ khác. Ngay cả Plutarch, người than phiền về nỗi sợ tà linh, cũng cho rằng daimōn của Caesar đã tìm cách báo thù những kẻ đã giết ông.

Peter Bolt cho rằng “các nhà Stoic (Khắc kỷ) thường tránh dùng từ δαιμ- [tà linh],” nhưng bất kỳ sự thiếu vắng nào trong văn chương Stoic về đề tài này, nếu lời Plutarch đáng tin, thì là do sự thăng trầm của lịch sử trong việc lưu giữ các tác phẩm Stoic hơn là do sự vắng bóng thực sự trong tư tưởng Stoic. Ông khẳng định về tư tưởng Stoic rằng: “Trường phái triết học của Chrysippus nghĩ rằng các daimonia đi lại, được các thần dùng làm kẻ hành hình và báo thù trên những người ô uế và bất công.”

Mặc dù niềm tin chung cho rằng tà linh là dữ, chúng ta có rất ít bằng chứng về những nỗ lực trừ quỷ hay hộ pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của chúng. Những ví dụ rõ nhất đến từ Greek Magical Papyri, có niên đại từ thế kỷ thứ hai TCN đến thế kỷ thứ năm và xuất phát từ Ai Cập. Một văn bản, mà chúng ta sẽ cần xem xét kỹ hơn khi bàn đến Chúa Giê-xu, chứa đựng phép thuật sau:

Ta nhân danh mà răn ngươi [exorkizō], hỡi daimōn, ngươi là ai đi nữa…

Hãy ra khỏi [exelthe], hỡi daimōn, ngươi là ai đi nữa,

và rút khỏi người kia, mau mau, ngay bây giờ.

Hãy ra khỏi [exelthe], hỡi daimōn, vì ta đã trói ngươi

bằng xiềng xích adamantine không thể phá,

và ta giao ngươi vào sự hỗn loạn đen tối để bị hủy diệt.

Dù chúng ta không thể xác định chắc chắn niên đại của văn bản này, chúng ta cũng có lời kể của nhà hùng biện thế kỷ thứ hai là Philostratus - người đã mô tả một cuộc trừ quỷ trong tiểu sử của Apollonius, là một triết gia Pythagorean sống vào thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai. Lucian ở Samosata cũng bàn về công việc của một thầy trừ quỷ:

“Ngươi thật nực cười,” Ion nói, “khi nghi ngờ mọi sự. Phần ta, ta muốn hỏi ngươi nghĩ gì về những người giải thoát kẻ bị quỷ nhập khỏi nỗi kinh hoàng của họ bằng cách trừ quỷ [daimonōntas] một cách hiển nhiên. Ta không cần bàn thêm: ai cũng biết về người Sy-ri từ Palestine, một người tinh thông việc này, bao nhiêu người ông ta chữa trị, những kẻ ngã xuống dưới ánh trăng, trợn mắt và sùi bọt mép; tuy nhiên, ông ta chữa lành họ và cho họ trở lại bình thường, giải thoát họ khỏi cảnh khốn cùng với một khoản phí lớn. Khi ông ta đứng bên họ lúc họ nằm đó và hỏi:‘Ngươi từ đâu vào thân thể người này?’ thì chính bệnh nhân im lặng, nhưng [daimōn] trả lời bằng tiếng Hy Lạp hoặc bằng ngôn ngữ của xứ sở xa lạ mà nó đến, kể lại cách và nơi nó đã nhập vào người ấy; rồi bằng cách răn đe [daimona], và nếu nó không vâng phục, ông ta đe dọa nó, và ông ta đuổi nó ra.”

Niềm tin phổ biến về sự dữ của tà linh đã góp phần tạo nên bối cảnh cho cách các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu, bởi vì như Everett Ferguson khẳng định: “Một yếu tố quan trọng trong sự thành công của Cơ Đốc giáo trong thế giới La Mã là lời hứa về sự giải cứu khỏi tà linh.”

3. TÀ LINH TRONG THỜI KỲ ĐỀN THỜ THỨ HAI VÀ VĂN CHƯƠNG RABBINIC
#

So với văn chương Cận Đông cổ và Zoroastrian, văn chương tế lễ vẫn thận trọng khi nói đến tà linh. Nhưng một sự mở rộng ban đầu của tà linh học đã xuất hiện ngay trong công việc của các dịch giả LXX. Chẳng hạn, trong khi nguyên văn tiếng Hê-bơ-rơ của Thi-thiên 96:5 nói rằng các thần của các dân tộc là hình tượng (elilim), thì dịch giả LXX của câu này lại viết rằng “các thần của các dân ngoại là tà linh” (daimonia, Thi-thiên 95:5 LXX). Chúng ta thấy cùng một sự liên hệ giữa hình tượng và tà linh trong cách mà các dịch giả LXX khác gắn sự thờ phượng các thần ngoại quốc với tà linh (chẳng hạn như Phục-truyền 32:17; Thi-thiên 105:37 LXX; Ê-sai 65:3).

Đồng thời, các tác phẩm Do Thái thời kỳ đầu cho thấy một sự bùng nổ thực sự của tà linh học. Chẳng hạn, sách Tobit mô tả một tà linh dữ tên là Asmodeus. Theo tác giả, Asmodeus hành hạ một người đàn bà tên là Sarah vì tình yêu ghen tuông, bằng cách liên tục giết chết bất cứ người nào nàng cưới trước khi hôn nhân được hoàn tất (Tobit 3:8). Bảy cái chết đáng ngờ này khiến các tỳ nữ của Sarah buộc tội nàng là “góa phụ đen” và khiến nàng nghĩ đến việc tự tử. Thay vào đó, nàng cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời, và Ngài sai thiên sứ Raphael đến giải cứu nàng khỏi kẻ tà linh rình rập này, và gả nàng cho Tobias (3:17). Raphael hướng dẫn Tobias đốt tim và gan của một con cá trong phòng tân hôn để hương khói xua đuổi tà linh khỏi Sarah. Hành động hộ pháp này đã trục xuất Asmodeus tận đến Ai Cập, giải thoát Sarah và Tobias để họ hoàn tất hôn nhân và sinh ra dòng dõi nối tiếp.

Có khả năng tên của tà linh này cho thấy tác giả biết đến tà linh học Zoroastrian, bởi vì Asmodeus có thể liên hệ đến Aeshma-daeva của Ba Tư, tức tà linh của cơn giận. Nếu đúng, sách Tobit xác nhận rằng tà linh học Zoroastrian đã ảnh hưởng đến tư tưởng Do Thái và có thể đã đóng vai trò như chất xúc tác cho sự bùng nổ của tà linh học Do Thái. Liên hệ với điều này, Genesis Apocryphon, có niên đại vào thế kỷ thứ ba hoặc đầu thế kỷ thứ hai TCN, mô tả Áp-ra-ham trừ khử các tà linh đã hành hạ Pharaoh và dân Ai Cập bằng những tai vạ sau khi Pharaoh tìm cách lấy Sarah làm vợ.

Theo sách Jubilees, sau khi Đức Chúa Trời tẩy sạch đất khỏi sự bạo ngược đã tích tụ trước cơn lụt, Nô-ê nhận ra rằng tà linh vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến dòng dõi mình. Ông cảnh báo các con rằng ông thấy tà linh đang quyến dụ họ và lo sợ rằng sau khi ông qua đời, chúng sẽ khiến họ trở lại con đường bạo ngược. Sự lo lắng của Nô-ê nhanh chóng được xác nhận, khi những tà linh ô uế bắt đầu dẫn các con ông lạc xa Đức Chúa Trời để hủy diệt họ. Tìm kiếm sự giúp đỡ, các con ông báo rằng những tà linh này đang lừa dối họ, làm mù mắt họ, và giết các con trai của họ. Sau khi Nô-ê cầu xin Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi sự áp bức của tà linh, Đức Chúa Trời đáp lời bằng cách trói buộc phần lớn tà linh, nhưng Ngài để lại một phần mười cho Mastema, là thủ lĩnh của tà linh. Dù Đức Chúa Trời đã hạn chế hoạt động của chúng, chúng vẫn quyết tâm hủy diệt nhân loại: “Và thủ lãnh Mastema hành động mạnh mẽ … Và hắn sai các thần khác đến với những kẻ dưới tay hắn để thực hành mọi sự sai lạc và tội lỗi cùng mọi sự vi phạm, để hủy diệt, để làm cho diệt mất, và để đổ máu trên đất.”

Trong lời mở đầu của Jubilees, Môi-se cầu nguyện rằng thần khí của Beliar sẽ không cai trị Y-sơ-ra-ên, nhưng Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân Y-sơ-ra-ên một thần khí ngay thẳng và thánh khiết. Sự đối chiếu giữa thần khí của Beliar và thần khí thánh khiết cũng cho thấy rằng các quyền lực của Beliar là ô uế. Tác giả có thể đã xem những tà linh này là ô uế vì chúng là dòng dõi lai giữa thiên sứ và loài người. Như Loren Stuckenbruck nhận xét: “Các gã khổng lồ, chính vì chúng là loài lai, sản phẩm của sự kết hợp giữa thiên sứ và phụ nữ loài người, vốn đã bại hoại và ô uế.” Sự ô uế bẩm sinh này, như vậy, có thể so sánh với sự ô uế bẩm sinh của một số loài vật trong tư tưởng Do Thái.

Book of Watchers,” nay được lưu giữ trong 1 Enoch, cũng chứa đựng một tà linh học rộng lớn tương tự. Theo tác giả, sự giao hợp giữa các kẻ canh giữ trời (tức thiên sứ) và phụ nữ dẫn đến sự ra đời của những gã khổng lồ. Sự pha trộn giữa các hữu thể thiên thượng và trần thế này, một sự vi phạm xúc phạm đến ranh giới vũ trụ, đã tạo ra những hậu duệ biến dị quay sang bạo lực chống lại loài người và loài vật, thậm chí ăn cả máu. Khi chết, những gã khổng lồ bạo lực này biến thành các thần khí dữ và tiếp tục hành động bạo lực đối với mọi người:

“Các thần khí của những gã khổng lồ áp bức lẫn nhau; chúng sẽ làm bại hoại, sa ngã, bị kích động, và sa xuống đất, và gây buồn khổ. Chúng không ăn thức ăn, không khát nước, không gặp trở ngại. Và những thần khí này sẽ nổi lên chống lại con cái loài người và chống lại phụ nữ, bởi vì chúng đã phát xuất từ họ.”

Các thiên sứ nguyên thủy đã ăn ở với phụ nữ, dù không được gọi là “thần khí dữ” hay “tà linh,” chắc chắn thuộc về lãnh vực này; Book of Parables liệt kê những thiên sứ sa ngã ấy cùng với các tội ác khác nhau của chúng đối với loài người. Chẳng hạn, Yeqon và Asb’el là nguyên nhân khiến các thiên sứ sa xuống và hòa lẫn với phụ nữ; Gader’el dạy loài người “những cú đánh của sự chết” và ban cho họ vũ khí; Pinem’e dạy loài người cách viết, một kỹ năng mà tác giả cho rằng là nguyên nhân của sự chết; và Kasadya dạy loài người cách phá thai, cùng nhiều điều khác nữa.

Vì cả Jubilees và văn chương Enoch đều có ảnh hưởng đến cộng đồng Qumran, nên không ngạc nhiên khi thấy một mối quan tâm tương tự về tà linh trong các văn bản khác được tìm thấy tại Qumran. Chẳng hạn, một văn bản bàn về bệnh hắc lào (ringworm) và việc thầy tế lễ khám xét người mắc bệnh, có nhắc đến việc một ruaḥ nhập vào thân thể người ấy. Vài cột sau khi bàn về hai ruaḥ cai trị loài người — ruaḥ của sự thánh khiết và sự sáng, và ruaḥ của sự ô uế và sự tối tăm — Community Rule chứa những lời như sau: “Ta sẽ không giữ Belial [thần khí dữ] trong lòng ta.” Đoạn này mô tả hai ruaḥ khác nhau, một thánh khiết và một ô uế, như những quyền lực năng động đối nghịch nhau, và chúng sử dụng thân thể loài người làm chiến trường.

Tương tự, một cuộn Psalms chứa một lời cầu nguyện giải cứu với lời khẩn nài như sau:

“Xin tha tội lỗi tôi, Đức Giê-hô-va, và làm tôi sạch khỏi sự gian ác tôi. Xin ban cho tôi một ruaḥ của sự trung tín và sự thông biết … Chớ để cho Satan hay một ruaḥ ô uế cai trị trên tôi; chớ để sự đau đớn hay dục vọng dữ chiếm lấy xương cốt tôi.”

Trong một tham chiếu đến dòng dõi lai giữa các thiên sứ và phụ nữ (so sánh Sáng-thế Ký 6), 4Qincantation nói đến “mọi ruaḥ của những kẻ con hoang” (tức là dòng dõi lai này) và “ruaḥ của sự ô uế.” Trong một văn bản Aramaic rời rạc chứa một nghi lễ trừ quỷ (4QExorcism ar), chúng ta thấy sự nhập thể xác của các ruaḥ dữ, cả nam lẫn nữ, chúng nhập vào thân thể con người và gây ra những khổ sở thể xác cho họ. Sự xâm nhập thù nghịch này đòi hỏi một phép trừ quỷ để loại bỏ sự hiện diện của tà linh khỏi người chịu khổ.

Trong một cuộn rời rạc được gọi là Apocryphal Psalmsa, chúng ta thấy bằng chứng sớm nhất về niềm tin rằng vua Sa-lô-môn của Y-sơ-ra-ên là một thầy trừ quỷ đầy quyền năng:

[…] Sa-lô-môn, và ông đã gọi […]

[…] các ruaḥ và các tà linh, […]

[…] Đây là các tà linh, và Thủ lãnh của Mastemah

[…] kẻ […] vực sâu […]

Văn bản tiếp tục với một thần chú dùng để chống lại một tà linh của ban đêm:

Của Đa-vít. Chống lại […] Một thần chú nhân danh Đức Giê-hô-va. Hãy kêu cầu bất cứ lúc nào.

Các từng trời. Khi nó đến nghịch cùng ngươi trong ban đêm, ngươi sẽ nói cùng nó:

Ngươi là ai, hỡi dòng giống loài người và dòng giống của những kẻ thánh?

Mặt ngươi là mặt của sự dối trá, và sừng ngươi là sừng của một giấc mơ.

Ngươi là sự tối tăm chứ không phải sự sáng,

là sự bất công chứ không phải sự công bình.

[…] thủ lãnh của đạo binh. Đức Giê-hô-va sẽ khiến ngươi sa xuống

tận nơi sâu nhất của Sheol, Ngài sẽ đóng các cửa đồng

mà chẳng có ánh sáng nào vào được.

Khi bàn về trận chiến lai thế học giữa các lực lượng của Đức Chúa Trời và các lực lượng của Belial (các con trai của sự sáng và các con trai của sự tối tăm), War Scroll tuyên bố:

“Đáng rủa thay Belial vì kế hoạch gớm ghét của hắn, đáng bị hư mất thay vì sự cai trị tội lỗi của hắn. Đáng rủa thay mọi ruaḥ thuộc về hắn vì kế hoạch dữ của chúng; đáng bị hư mất thay vì những việc làm ô uế của chúng. Vì chúng thuộc về phần của sự tối tăm, nhưng phần của Đức Chúa Trời là sự sáng đời đời.”

Nhiều tác phẩm từ Qumran cho thấy cách mà vũ trụ hiện tại là một đấu trường nơi Đức Chúa Trời và các lực lượng của Belial, các lực lượng của sự thánh khiết và sự ô uế, giao chiến. Vào thời kỳ cuối cùng, Đức Chúa Trời và các con trai của sự sáng sẽ đánh bại Belial và các con trai của sự tối tăm một lần cho tất cả. Một lần nữa, chúng ta thấy niềm tin mạnh mẽ vào một Đức Chúa Trời tối cao cùng tồn tại với niềm tin vào vô số quyền lực tà linh.

Nhà triết học Do Thái ở Alexandria thế kỷ thứ nhất là Philo cũng bàn về tà linh. Trong sự giải thích của ông về huyền thoại trong Sáng-thế Ký 6, nơi các thiên sứ đến đất và giao hợp với phụ nữ, ông nói rằng điều mà các triết gia gọi là tà linh thì Môi-se gọi là thiên sứ. Theo Philo, những hữu thể này là các linh hồn lơ lửng trong không trung. Đối với Philo, cũng như nhiều người không phải Do Thái, tà linh có thể lành hoặc dữ. Có lẽ một phần chịu ảnh hưởng từ LXX, Philo cho rằng Ba-lác đã dẫn tiên tri Ba-la-am đến một trụ cột dựng lên cho một tà linh, qua đó ông đồng nhất các thần ngoại quốc với các thần thấp hơn, mà ông gọi là tà linh — một sự đồng nhất cũng xuất hiện ở những tác phẩm khác của ông.

Các tác phẩm lịch sử của Josephus chứa nhiều tham chiếu đến tà linh. Trong sự viết lại của ông về Deuteronomistic History, Josephus nhắc đến các cuộc tấn công của tà linh trên vua Sau-lơ, nhưng ông thêm rằng tà linh ấy tìm cách làm Sau-lơ nghẹt thở. Ở chỗ khác, ông kết hợp thuật ngữ “tà linh” với “pneuma dữ.” Trong Jewish War, ông cho rằng Alexander, con trai của Herod, đã khoe rằng mình sẽ báo thù cha thay cho các tà linh của Hyrcanus và Mariamne, là những người mà Herod đã giết. Những tin đồn này khiến Herod giết hai con trai mình là Alexander và Aristobulus, và các tà linh của họ sau đó ám cung điện.

Như vậy, đối với Josephus, tà linh là các linh hồn của người chết còn lẩn quẩn giữa người sống với ý định dữ, một niềm tin mà ông nói gọn trong Jewish War: tà linh là “các pneumata của những kẻ ác, chúng nhập vào người sống và giết họ nếu không có sự cứu giúp.” Ở chỗ khác, ông khẳng định rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Sa-lô-môn khả năng giúp đỡ những người bị tà linh hành hạ, và ông cho rằng khả năng ấy vẫn còn tồn tại đến thời của ông, thể hiện qua một người tên là Eleazar, cùng một số người khác. Giống như trong Jubilees1 Enoch, Josephus gắn tà linh với các linh hồn của những người đã chết, mặc dù ông tin rằng chúng là linh hồn của loài người, chứ không phải của những gã khổng lồ trong Sáng-thế Ký 6. Giống như các tác giả Do Thái thời Đền Thờ Thứ Hai khác ngoài Philo, Josephus tin rằng những hữu thể này đều dữ tợn, quyết tâm gây bạo lực, và tìm cách giết loài người.

Trong văn chương di chúc của Do Thái giáo thời Đền Thờ Thứ Hai, chúng ta thấy sự nhấn mạnh rằng khi vương quốc của Đức Chúa Trời đến, thì Satan sẽ không còn nữa. Testament of Benjamin hứa rằng các pneumata ô uế và thú dữ sẽ chạy trốn khỏi những kẻ làm điều thiện. Theo Testament of Simeon, sự ham muốn giết Giô-sép của Si-mê-ôn phát xuất từ một pneuma ghen tuông được sai bởi thủ lãnh của sự dối trá. Si-mê-ôn khuyên các con mình phải cẩn thận với pneuma của sự dối trá và ghen tuông — rõ ràng là một sự dữ được nhân cách hóa, vì ông nói rằng nếu ai chạy đến cùng Đức Chúa Trời thì pneuma dữ sẽ chạy khỏi người ấy. Bằng cách tránh sự ghen tuông, các con của Si-mê-ôn sẽ giày đạp các pneumata của sự dối trá dưới chân mình và cai trị trên các pneumata dữ. Và theo Testament of Levi, mọi pneuma dữ đều tấn công Y-sơ-ra-ên, và một pneuma của sự dâm dục tấn công đền thờ Giê-ru-sa-lem để làm ô uế nó — nhưng một thiên sứ của Đức Chúa Trời bảo vệ họ khỏi sự tấn công ô uế ấy. Một cách đầy đủ hơn, Đan dạy các con mình bằng những lời sau:

“Vậy bây giờ, hỡi các con ta, hãy kính sợ Đức Chúa Trời, hãy giữ mình khỏi Satan và các pneumata của hắn. Hãy đến gần Đức Chúa Trời và thiên sứ cầu thay cho các con, vì người là Đấng trung bảo giữa Đức Chúa Trời và loài người cho sự bình an của Y-sơ-ra-ên. Người sẽ đứng nghịch cùng vương quốc của kẻ thù. Vì thế kẻ thù nóng lòng làm cho vấp ngã mọi kẻ kêu cầu Đức Chúa Trời, bởi vì hắn biết rằng trong ngày Y-sơ-ra-ên đặt lòng tin, thì vương quốc của kẻ thù sẽ bị diệt mất. Thiên sứ của sự bình an này sẽ làm cho Y-sơ-ra-ên mạnh mẽ để nó không bị khuất phục dưới một số phận dữ. Nhưng trong thời kỳ vô luật pháp của Y-sơ-ra-ên, chính Đức Chúa Trời sẽ không lìa bỏ họ, và vì thế họ sẽ tìm cách làm theo ý Ngài, vì chẳng có thiên sứ nào giống như Ngài.”

Cuối cùng, Pseudo-Philo dùng thuật ngữ “spiritus ô uế” để chỉ một tà linh. Ở đây chúng ta cũng thấy rằng một trong những mục tiêu chính của tà linh là dẫn dắt con người lạc lối: trong trường hợp này, thầy tế lễ Hê-li nghĩ rằng tiếng gọi Sa-mu-ên trong ban đêm có thể là một spiritus dữ và ô uế muốn lừa dối Sa-mu-ên.

Bản tóm lược ngắn gọn này về tà linh học của người Do Thái thời Đền Thờ Thứ Hai cho thấy rằng, ngoại trừ Philo, các tác giả Do Thái thời ấy đều nhấn mạnh rằng các thực thể tà linh luôn luôn là dữ. Động cơ của chúng là ham muốn lừa dối, làm hại và hủy diệt loài người.

Mặc dù văn chương Rabbinic được viết sau các sách Tin Lành Cộng Quan, một sự khảo sát ngắn gọn về cách các rabbi quan niệm về tà linh cũng sẽ hữu ích khi chúng ta xét đến các sách Tin Lành. Chẳng hạn, Babylonian Talmud nhiều lần khẳng định rằng tà linh hiện hữu và quyết tâm hủy diệt con người. Do đó, các rabbi khuyên rằng con người không nên ra ngoài vào ban đêm, bởi vì “Igrath, con gái của Mahalath [nữ hoàng của tà linh], nàng cùng một trăm tám mươi ngàn thiên sứ hủy diệt đi ra, và mỗi kẻ đều có quyền tự do gây ra sự hủy diệt.” Hơn nữa, họ gắn tà linh với nhiều loài thú nguy hiểm, gọi tà linh là “tác nhân của sự chết.” Các rabbi cũng liên hệ tà linh với nghĩa địa. Họ cho rằng có những người kiêng ăn và qua đêm trong nghĩa địa để một ruaḥ ô uế ngự trên họ, giúp họ đoán trước tương lai. Các ruaḥ dữ cũng làm cho con người mất trí khôn. Cuối cùng, những tà linh ấy nhập vào con người để buộc họ phạm tội.

Dù văn chương tế lễ có thể thận trọng về sự hiện hữu của tà linh, các rabbi lại gắn tà linh với chính trung tâm của thế giới tế lễ: đền tạm. Nếu sự gán ghép của Rabbinic về sau có thể tin cậy, thì Rabbi Yoḥanan của thế kỷ thứ nhất đã nói: “Trước khi đền tạm được dựng lên, tà linh thường quấy nhiễu loài người trong thế gian này. Từ lúc đền tạm được dựng lên, và Shechinah ngự xuống nơi đây, thì tà linh đã bị diệt khỏi thế gian.” Lời khẳng định này cho thấy rằng tà linh vốn đối nghịch với Đức Chúa Trời và sự hiện diện thánh khiết của Ngài. Sau cùng, hai bên không thể cùng tồn tại, và qua việc thiết lập đền tạm cùng một nơi an toàn mới để Đức Chúa Trời ngự trên đất, Ngài đã đuổi tà linh ra khỏi thế gian này.

4. CHÚA GIÊ-XU VÀ CÁC TÀ LINH Ô UẾ
#

Thay vì khảo sát mọi câu chuyện về tà linh trong các sách Tin Lành, tôi sẽ nêu bật một vài chủ đề chính trước khi chuyển sang hai tường thuật trừ quỷ trong sách Mác. Trước hết, các tác giả Tin Lành nhiều lần mô tả tà linh như một quyền lực thù nghịch, quyết tâm hành hạ và gây khổ sở thể xác cho con người. Họ cũng gắn tà linh với bệnh tật, và trong nhiều trường hợp, chúng khiến cho con người bị điếc và câm (chẳng hạn Mác 9:25).

Các tác giả Tin Lành không mô tả tà linh cám dỗ loài người, ngoại trừ Satan là một trường hợp đặc biệt (Mác 1:13; 8:33; Ma-thi-ơ 4; Lu-ca 4; 13:16; 22:3). Thay vào đó, họ tập trung vào quyền lực hủy diệt và làm suy nhược thể xác mà tà linh áp đặt trên thân thể loài người. Thêm nữa, sự thù nghịch mà chúng biểu lộ đối với loài người không có sự liên hệ rõ ràng nào với sự phán xét của Đức Chúa Trời về tội lỗi. Con người là những nạn nhân yếu đuối của tà linh; họ khao khát sự giải thoát nhưng không thể tìm được sự giúp đỡ cho đến khi họ gặp Chúa Giê-xu (so sánh Ma-thi-ơ 12:43–45).

4.1. Đấng Thánh của Đức Chúa Trời và Các pneumata Ô Uế trong Sách Mác
#

Sách Tin Lành Mác giới thiệu Chúa Giê-xu một cách đột ngột; khác với Ma-thi-ơ và Lu-ca, Mác không đưa ra tường thuật về thời thơ ấu để đặt bối cảnh cho đời sống của Chúa Giê-xu. Ông đưa Ngài vào ngay giữa công chúng — bắt đầu với phép báp-têm của Giăng cho Chúa Giê-xu và bốn mươi ngày Ngài ở trong đồng vắng. Sau khi trở về từ đồng vắng, Chúa Giê-xu gọi một vài môn đồ — Si-môn, Anh-rê, Gia-cơ, và Giăng — và bắt đầu giảng dạy tại nhà hội trong làng Ca-bê-na-um thuộc Ga-li-lê. Mác khẳng định rằng sự giảng dạy của Chúa Giê-xu gây ấn tượng cho dân chúng bởi vì có thẩm quyền (exousia) đi kèm. Như một bằng chứng cho thẩm quyền này, Mác trình bày việc làm đầu tiên của Chúa Giê-xu trong chức vụ công khai — một cuộc đối đầu giữa Chúa Giê-xu và một pneuma ô uế:

“Vả, tức thì trong nhà hội có một người bị tà ma ám. Người ấy kêu lên rằng: Hỡi Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai, tức là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Nhưng Chúa Giê-xu quở trách nó rằng: Hãy nín đi, ra khỏi người này! Tà ma bèn làm cho người ấy bị kinh động, rồi kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi người. Ai nấy đều lấy làm lạ, hỏi nhau rằng: Ấy là sự gì? Đây là đạo mới, lấy thẩm quyền mà truyền cho tà ma, đến nỗi chúng cũng phải vâng lời. Vậy, danh tiếng Ngài lan ra khắp cả miền Ga-li-lê.” (Mác 1:23–28)

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giê-xu và người bị pneuma ô uế này mở đầu cho công việc công khai của Ngài trong sách Mác. Joel Marcus nhận xét: “Mác cố ý đặt cảnh tượng nổi bật này gần đầu chức vụ công khai của Chúa Giê-xu, cũng như Ma-thi-ơ mở đầu sách Tin Lành của mình bằng Bài Giảng Trên Núi, Lu-ca bằng bài giảng khai mạc trong nhà hội Na-xa-rét, và Giăng bằng tiệc cưới tại Ca-na.” Chúa Giê-xu trong sách Mác tự giới thiệu với dân chúng như Đấng trừ khử các pneuma ô uế — tức tà linh, như Mác gọi ở những chỗ khác (chẳng hạn Mác 7:25–30).

Thuật ngữ mà Mác dùng trong câu chuyện này gắn các quyền lực tà linh với chủ đề lớn của sách: ba lần ông dùng tính từ “ô uế” (akathartos) để chỉ pneuma đang bao phủ người đàn ông này. Trái lại, người ấy gọi Chúa Giê-xu là “Đấng Thánh” (ho hagios) của Đức Chúa Trời. Chính Chúa Giê-xu này, Mác cho độc giả biết qua lời của Giăng Báp-tít, sẽ làm phép báp-têm cho người ta không phải bằng nước mà bằng pneuma thánh (Mác 1:8), và chính Ngài được trang bị bằng pneuma, là Đấng đã đưa Ngài vào đồng vắng (Mác 1:10–12).

Mác chương 1 đặt Đấng Thánh của Đức Chúa Trời, được trang bị bằng pneuma thánh, đối nghịch với một người hiện đang ở trong pneuma ô uế. Ngôn ngữ mở đầu của sách Tin Lành Mác, như vậy, gợi nhớ đến ngôn ngữ vốn là trung tâm của mối quan tâm tế lễ: “Phải phân biệt giữa sự thánh và sự tục, giữa sự ô uế và sự tinh sạch” (Lê-vi Ký 10:10). Như Milgrom đã lập luận, trong tư tưởng tế lễ, sự thánh và sự tục là đối nghịch, sự tinh sạch và sự ô uế là đối nghịch, nhưng chỉ sự thánh và sự ô uế mới là những quyền lực — những quyền lực đối nghịch nhau. Khi sự ô uế tiếp xúc với sự thánh, thông thường sự thánh sẽ rút lui. Với động lực này trong tâm trí, chúng ta có thể thấy cách Mác giới thiệu Chúa Giê-xu một cách kịch tính cho độc giả: Đấng Thánh của Đức Chúa Trời đối đầu với một quyền lực pneuma ô uế mạnh mẽ.

Sự tiếp xúc giữa sự thánh và sự ô uế không thể xảy ra mà không có hậu quả. Pneuma ô uế ghi nhận điều này, đặt ra một câu hỏi thường xuất hiện trong bối cảnh xung đột: “Ngươi và chúng tôi có sự gì chăng?” (chẳng hạn Các Quan Xét 11:12; II Sa-mu-ên 16:10; I Các Vua 17:18; II Các Vua 3:13; II Sử-ký 35:21). Điều gì sẽ xảy ra giữa Chúa Giê-xu và người ở trong pneuma ô uế? Người ấy có mối lo riêng: “Ngài đến để diệt chúng tôi sao?” Về tham chiếu đến “chúng tôi” này, Clinton Wahlen ghi nhận: “Thần ô uế dường như đang nói thay cho cả một đạo binh tà linh, sợ rằng Chúa Giê-xu sẽ hủy diệt tất cả chúng,” nhưng cũng có thể rằng vì pneuma và người ấy về bản chất đã hòa làm một, nên “chúng tôi” chỉ cả người ấy và pneuma.

Câu trả lời, hóa ra, vừa là có vừa là không. Chúa Giê-xu khiến pneuma ô uế phải im lặng — Ngài truyền cho nó ra khỏi người ấy, và nó vâng lời. Sự hòa hợp giữa pneuma ô uế và người ấy đã bị phá vỡ: tà linh bị hủy diệt và người ấy được cứu. Trong câu chuyện mở đầu này, chúng ta thấy Đấng Thánh của Đức Chúa Trời đối diện và trục xuất các quyền lực của sự ô uế. pneuma thánh đã giáng xuống trên Chúa Giê-xu và làm cho Ngài sống động mạnh mẽ hơn pneuma ô uế đang cư ngụ trong người đàn ông kia.

Câu chuyện mở đầu này đặt nền cho toàn bộ cách Mác mô tả Chúa Giê-xu. Lặp đi lặp lại, Chúa Giê-xu đối diện và chiến thắng tà linh, những quyền lực ô uế hành hạ loài người. Khi nghe tin về Chúa Giê-xu, dân chúng bắt đầu đem những người bệnh và những kẻ bị quỷ ám đến cùng Ngài, và Ngài chữa lành bệnh tật cùng trừ khử tà linh (Mác 1:32–34; so sánh Ma-thi-ơ 8:16–17; 9:32–34; 17:14–20). Dân chúng đem những kẻ bị quỷ ám đến cùng Chúa Giê-xu, nhưng chính Ngài cũng đi khắp Ga-li-lê rao giảng vương quốc và trừ khử tà linh (Mác 1:39). Khi Ngài gặp những kẻ bị quỷ ám, các pneumata ô uế sấp mình trước Ngài và xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời (Mác 3:11). Ngài thậm chí còn trừ quỷ từ xa (Mác 7:25–30; so sánh Ma-thi-ơ 15:22–28). Và Đấng Thánh của Đức Chúa Trời ban quyền cho các môn đồ, trao cho họ thẩm quyền để trừ khử tà linh nữa (Mác 3:15; 6:7; so sánh Ma-thi-ơ 10:1).

4.2. Trói Buộc Người Mạnh Sức
#

Tuy nhiên, sự thành công của Chúa Giê-xu trong việc trừ khử tà linh không được mọi người chấp nhận. Theo Mác, một số thầy thông giáo từ Giê-ru-sa-lem đã gạt bỏ quyền năng rõ ràng của Chúa Giê-xu bằng cách coi đó là một mưu đồ tà linh: “Ngài bị Beelzebul ám, và bởi vua của tà linh mà Ngài trừ khử tà linh” (Mác 3:22). Nói cách khác, như Mác làm rõ, họ cáo buộc chính Chúa Giê-xu có một pneuma ô uế (Mác 3:30), rằng Ngài được tà linh ban quyền để lừa dối người ta theo Ngài. Dù Beelzebul không được biết đến trong truyền thống Do Thái sớm, một tác phẩm Cơ Đốc thế kỷ thứ hai, Testament of Solomon, gọi hắn là vua của tà linh. Người ta có thể thấy ý tưởng này — rằng một người có vẻ như có quyền trên tà linh chỉ là nhờ mưu mẹo của tà linh — trong (Pseudo-)Eusebius, người lưu giữ lời cáo buộc rằng Apollonius, là một người làm phép lạ nổi tiếng thế kỷ thứ nhất, đã “trừ một tà linh bằng sự giúp đỡ của một tà linh khác.” Mục đích của những cuộc trừ quỷ như vậy là để tà linh thứ nhất rời đi, nhưng bí mật được thay thế bởi một tà linh thứ hai. Trong trường hợp này, thầy trừ quỷ giống như một điệp viên hai mang cho tà linh.

Đáp lại lời cáo buộc này, Chúa Giê-xu hỏi: “Satan có thể trừ khử Satan sao?” Rồi Ngài tiếp tục bằng một ẩn dụ: “Nếu một nước tự chia rẽ nhau, thì nước ấy không thể đứng vững. Nếu một nhà tự chia rẽ nhau, thì nhà ấy không thể đứng vững. Nếu Satan dấy lên nghịch cùng chính mình và chia rẽ, thì nó không thể đứng vững, nhưng sẽ đến ngày cuối cùng” (Mác 3:23–26). Dựa trên ý tưởng về nhà của Satan, Ngài khẳng định rằng chỉ khi một người trói buộc “người mạnh sức,” tức là Satan, thì mới có thể cướp phá nhà hắn. Mác mô tả Chúa Giê-xu đang làm chính điều đó.

Trong Mác chương 5, Chúa Giê-xu vượt biển để đến vùng Decapolis — một khu vực gồm mười thành phố, phần lớn - nhưng không hoàn toàn - là dân ngoại. Cuộc gặp gỡ đầu tiên của Ngài với một người trong lãnh thổ dân ngoại song song với câu chuyện về người bị quỷ ám trong nhà hội (Mác 1:21–28). Tại đây, một người khác ở trong pneuma ô uế đến gặp Chúa Giê-xu khi Ngài vừa bước xuống khỏi thuyền. Mác mô tả người này một cách rùng rợn: “Có một người bị tà ma ám, ở trong các mồ mả … Không ai có thể trói buộc người ấy nữa, dầu dùng xiềng xích cũng không được” (Mác 5:2–3).

Trong nguyên văn Hy Lạp, nhiều phủ định được dùng để nhấn mạnh sự bất lực của dân chúng trong việc kiểm soát người này: “không còn nữa” (ouketi), “không ai” (oudeis), “dầu cũng không” (oude). Trong tiếng Việt, một phủ định kép thường thành khẳng định, và nhiều phủ định dễ gây rối rắm, nhưng trong tiếng Hy Lạp, việc chồng chất phủ định làm cho ý nghĩa càng mạnh mẽ. Mác cho độc giả biết rằng trước kia người ta đã từng tìm cách trói buộc người này bằng cả xiềng chân và xích tay, nhưng ông ta đã nhiều lần bẻ gãy những trói buộc ấy. Nói đơn giản, không ai mạnh đủ để chế ngự ông ta. Vì thế, người ấy lang thang giữa các mồ mả cả ngày lẫn đêm, kêu la và tự làm mình bị thương bằng đá.

Việc cung cấp một chút bối cảnh sẽ giúp độc giả hiện đại hiểu được nghệ thuật mô tả của Mác về người này. Trước hết, việc Mác mô tả người ấy sống giữa các mồ mả cả ngày lẫn đêm cho thấy tình trạng tâm trí của ông ta. Văn chương Rabbinic về sau, chẳng hạn, nhấn mạnh rằng một người qua đêm trong nghĩa địa thì không còn trí khôn. Cuối câu chuyện, Mác cho độc giả biết rằng người này nay đã mặc áo và ở trong “trí khôn” của mình, xác nhận rằng trước đó ông ta không bình thường (Mác 5:15). Với nhiều mối liên hệ đã được ghi nhận giữa sự chết và tà linh, không ngạc nhiên khi người ta thường mô tả tà linh ám nghĩa địa. Như vậy, nghĩa địa đã trở thành nơi cư trú tự nhiên cho người này trong pneuma ô uế.

Hơn nữa, dù việc trói buộc một người nghe có vẻ khủng khiếp và vô nhân đạo, cộng đồng của người này đã cố gắng làm điều duy nhất họ có thể: giam giữ ông ta để ngăn ông ta tự làm hại mình và, theo Ma-thi-ơ, làm hại người khác (Ma-thi-ơ 8:28). Thay vào đó, những xiềng xích họ dùng quá yếu đối với người mạnh mẽ này, khiến ông ta tự do lang thang trên núi và tự làm mình bị thương. Mác khéo léo mô tả tình trạng của người này trong những thuật ngữ bi thảm nhất. Thế nhưng, người mạnh mẽ này lại sấp mình dưới chân Chúa Giê-xu và nài xin Ngài đừng hành hạ mình. Cuộc đối thoại giữa hai bên, được sắp xếp lại theo thứ tự thời gian, thật hấp dẫn:

  • CHÚA GIÊ-XU: Hãy ra khỏi người này, hỡi pneuma ô uế!

  • NGƯỜI: Hỡi Chúa Giê-xu, Con Đức Chúa Trời rất cao, Ngài và tôi có sự gì chăng? Tôi nhân danh Đức Chúa Trời mà xin Ngài, đừng hành hạ tôi!

  • CHÚA GIÊ-XU: Tên ngươi là gì?

  • NGƯỜI: Tên tôi là Legion, vì chúng tôi đông lắm.

Người ấy sau đó nài xin Chúa Giê-xu đừng đuổi chúng ra khỏi vùng ấy:

  • NGƯỜI: Xin cho chúng tôi nhập vào bầy heo.

Chúa Giê-xu cho phép chúng nhập vào bầy heo. Bầy heo bị quỷ ám ấy lao xuống biển và chết chìm.

Pneuma ô uế không lập tức rời khỏi người này khi Chúa Giê-xu truyền lệnh, mặc dù Mác che giấu sự thật này bằng cách sắp xếp lại trình tự câu chuyện. Thay vào đó, nó hỏi Chúa Giê-xu cùng một câu hỏi mà pneuma ô uế trong Mác chương 1 đã hỏi: “Ngài và tôi có sự gì chăng?” Nỗ lực đầu tiên của Chúa Giê-xu để trừ khử pneuma ô uế này đã thất bại. Trong khi Lu-ca giữ lại chi tiết về sự thất bại ban đầu của Chúa Giê-xu (Lu-ca 8:29), thì Ma-thi-ơ bỏ qua chi tiết này (Ma-thi-ơ 8:28–32) và thậm chí còn làm nổi bật quyền năng của Chúa Giê-xu bằng cách nhân đôi số người bị quỷ ám.

Hơn nữa, cũng giống như trong Mác chương 1, tà linh nhận diện và gọi tên Chúa Giê-xu: “Chúa Giê-xu, Con Đức Chúa Trời rất cao.” Trong bối cảnh trừ quỷ, việc biết và dùng tên của một người được xem là cách để có quyền trên người ấy. Vì thế, tà linh ở đây tìm cách giành quyền trên Chúa Giê-xu bằng cách nhận diện Ngài rồi nhân danh Đức Chúa Trời mà nài xin Ngài đừng hành hạ nó. Động từ “nhân danh mà răn” (horkizō) thường xuất hiện trong bối cảnh trừ quỷ và thường được thầy trừ quỷ dùng trên tà linh.

Như chúng ta đã thấy ở trên, một bản magical papyrus chứa thần chú sau:

“Ta nhân danh mà răn ngươi [exorkizō], hỡi daimōn, ngươi là ai đi nữa … Hãy ra khỏi [exelthe], hỡi daimōn, ngươi là ai đi nữa, và rút khỏi người kia, mau mau, ngay bây giờ. Hãy ra khỏi [exelthe], hỡi daimōn, vì ta đã trói ngươi bằng xiềng adamantine không thể phá, và ta giao ngươi vào sự hỗn loạn đen tối để bị hủy diệt.”

Thần chú này chứa cùng loại ngôn ngữ như trong Mác, cũng như tham chiếu đến việc trói buộc tà linh, gợi nhớ đến những xiềng xích đã thất bại trong việc trói buộc người đàn ông trước khi Chúa Giê-xu đến. Tà linh tìm cách giành quyền trên Chúa Giê-xu bằng cách nhân danh mà răn Ngài, nhưng Chúa Giê-xu đảo ngược tình thế, đòi biết tên nó. Tà linh tiết lộ tên mình: Legion — một thuật ngữ quân sự La Mã chỉ một đơn vị khoảng năm ngàn binh sĩ — cho thấy số lượng đông đảo tà linh đang hành hạ người này và ban cho ông ta sức mạnh ghê gớm.

Trận chiến giữa Chúa Giê-xu và sự ô uế, như vậy, dường như không cân xứng — năm ngàn tà linh chống lại một Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Thế nhưng, đoàn quân tà linh ấy lại van xin được phép nhập vào bầy heo gần đó để chúng có thể ở lại trong vùng (hoặc theo tường thuật của Lu-ca, để tránh khỏi vực sâu). Tuy nhiên, bầy heo đã phá hỏng ý muốn của chúng bằng cách lao xuống biển và chết chìm, cùng với các pneuma ô uế.

Câu chuyện bắt đầu với một người ở trong pneuma ô uế, sống giữa các mồ mả, mất trí khôn, và những “người láng giềng” gần nhất của ông ta là một bầy heo. Dù Mác không nói rõ, nhưng với bất kỳ ai quen thuộc với hệ thống thanh sạch của tư tưởng Do Thái thời kỳ đầu, sự ô uế thấm đẫm toàn cảnh: các pneumata ô uế, mồ mả chứa xác chết ô uế (so sánh Dân-số Ký 19), và heo ô uế (so sánh Lê-vi Ký 11 và Phục-truyền 14). Cuộc gặp gỡ của người này với Chúa Giê-xu, tuy nhiên, dẫn đến sự giải cứu khỏi tất cả những nguồn ô uế ấy; các pneumata ô uế đã rời khỏi ông ta và nhập vào bầy heo, rồi bầy heo lập tức chết chìm cùng với chúng. Người đàn ông nay đã ở trong trí khôn của mình, không còn sống giữa các mồ mả hay làm hại thân thể mình nữa.

Câu chuyện này là sự ứng nghiệm bằng tường thuật lời Chúa Giê-xu phán cùng những kẻ chống đối Ngài trong Mác chương 3, nơi Ngài khẳng định rằng không ai có thể (ou dynatai oudeis) vào nhà của người mạnh (ischyros) nếu trước hết không trói buộc (deō) người mạnh rồi mới cướp phá nhà hắn. Trong Mác chương 5, chúng ta gặp người mạnh mà không ai có thể trói buộc (oudeis edynato auton dēsai). Không ai mạnh đủ (ischyō) để chế ngự ông ta, cho đến khi Chúa Giê-xu đến. Chúa Giê-xu đã cướp phá nhà của các tà linh và lấy đi tài sản của chúng — người đàn ông ấy — khỏi sự kiểm soát của chúng.

Như Peter Bolt kết luận:

“Biến cố này là cuộc trừ quỷ tối thượng trong sách Tin Lành Mác. Câu đố chưa được giải đáp của Chúa Giê-xu với những kẻ chống đối đã gợi ý rằng không ai có thể cướp phá nhà của người mạnh, ‘nếu trước hết không trói buộc người mạnh’ (Mác 3:27)… Qua những ám chỉ đến Mác 3:27, sự khuất phục người mạnh không thể bị trói buộc này gợi cho độc giả một chiều kích khác: câu đố của Chúa Giê-xu đang tìm được lời giải, và người mạnh đang bị khuất phục. Khi Chúa Giê-xu đuổi đoàn quân tà linh và giải cứu người đàn ông khỏi mồ mả, thì ‘thủ lãnh của tà linh’ đã chịu một thất bại lớn.”

4.3. Phạm Thượng Đối Với pneuma Thánh
#

Mối liên hệ giữa Mác chương 3 và Mác chương 5 cho thấy tầm quan trọng trung tâm của câu chuyện này trong sách Tin Lành Mác và ý nghĩa của nó trong việc xác định đúng Chúa Giê-xu. Mác chương 3 tập trung vào câu hỏi Chúa Giê-xu là ai và Ngài nhận thẩm quyền cùng quyền năng từ đâu. Chính gia đình Ngài tin rằng Ngài mất trí. Các thầy thông giáo cũng tin rằng Ngài bị quỷ ám, làm những việc quyền năng bởi thẩm quyền của vua tà linh — Beelzebul. Dù Mác không định nghĩa “thầy thông giáo” là ai, dường như họ là một tầng lớp có học trong xã hội Do Thái, xuất thân từ dòng Lê-vi hoặc tế lễ. Nếu sự nhận diện này đúng, thì ý kiến của họ về Chúa Giê-xu rất quan trọng, vì họ đại diện cho thẩm quyền luật pháp và tế lễ đối với quần chúng. Và theo ý kiến của họ, nguồn gốc thẩm quyền của Chúa Giê-xu trên tà linh vốn là ô uế.

Với sự đánh giá này, các thầy thông giáo đang cố gắng phân biệt giữa thánh và tục, ô uế và tinh sạch, như Đức Chúa Trời đã truyền dạy trong Lê-vi Ký 10:10. Thế nhưng, theo Mác, họ đã nhầm lẫn. Như Mác làm rõ, Chúa Giê-xu nhận pneuma thánh tại phép báp-têm và sau đó làm phép báp-têm cho người khác trong pneuma thánh (Mác 1:8). Và pneuma ô uế mà Chúa Giê-xu gặp đầu tiên đã gọi Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Đối với Mác và độc giả của ông, các thầy thông giáo đã sai lầm khi đồng nhất các quyền lực của sự thánh khiết với các quyền lực của sự ô uế. Trong khi chức vụ của Chúa Giê-xu làm sạch và ban sự sống, thì các thầy thông giáo lại nhầm lẫn gắn nó với sự ô uế, tà linh, và cuối cùng là sự dối trá cùng sự chết.

Vì lý do này, Chúa Giê-xu cảnh báo thính giả rằng những ai phạm thượng đối với pneuma thánh, bằng cách đồng nhất công việc của pneuma thánh với sự ô uế, thì phạm một sai lầm chí tử. Họ đã lẫn lộn sự thánh với sự ô uế, sự sống với sự chết, và qua đó, họ đã đứng về phía sự chết và chống lại sự sống. Dù Ma-thi-ơ và Lu-ca có chỉnh sửa lại tài liệu của Mác, việc họ cũng thường xuyên nhắc đến sự tương tác của Chúa Giê-xu với tà linh cho thấy rằng sự hiểu biết này về hành động của Ngài vẫn tiếp tục vang vọng trong các tín hữu về sau. Thật vậy, cả hai đều thêm vào sự biện hộ của Mác cho Chúa Giê-xu (Mác 3), rằng việc Ngài trừ khử tà linh là dấu hiệu tối thượng của sự đến của vương quốc Đức Chúa Trời và sự chấm dứt quyền cai trị của Satan trên loài người (Ma-thi-ơ 11:26–28; Lu-ca 11:18–20).

5. KẾT LUẬN
#

Chức vụ thanh tẩy của Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành Cộng Quan vượt ra ngoài ba nguồn ô uế nghi lễ (phong, tiết dục, và xác chết) được nhắc đến trong văn chương tế lễ, để bao gồm cả những nguồn ô uế từ tà linh nữa. Lãnh vực tà linh không còn tự do hành hạ loài người mà không bị chống đối, điều mà tường thuật đầu tiên của Mác về một cuộc trừ quỷ đã chứng minh: “Ngài và chúng tôi có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao?” (Mác 1:24). Và trong cuộc trừ quỷ khỏi người bị quỷ ám mạnh sức, các tà linh van xin Chúa Giê-xu đừng hành hạ chúng (Mác 5:7; Lu-ca 8:28). Lời cầu xin này thật mỉa mai, vì như văn chương Do Thái và ngoại quốc thường nhấn mạnh, bản chất của tà linh là hành hạ và giết loài người (so sánh Ma-thi-ơ 15:22; Công-vụ 19:16; 2 Cô-rinh-tô 12:7). Tường thuật của Ma-thi-ơ về cuộc trừ quỷ khỏi người bị quỷ ám mạnh sức cho thấy rằng các quyền lực tà linh biết rằng chúng sẽ bị hành hạ vào một thời điểm nào đó, nhưng tin rằng Chúa Giê-xu đã đến để làm điều đó sớm hơn: “Ngài đến đây để hành hạ chúng tôi trước kỳ hạn sao?” (Ma-thi-ơ 8:29). Các tà linh nghĩ rằng chúng có quyền tự do trên đất để làm theo ý mình, nhưng các tác giả Tin Lành mô tả sự xâm nhập của Chúa Giê-xu vào thế gian để lấy lại nó khỏi tay tà linh và thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời.

Theo nghĩa này, hành động của Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành Cộng Quan song song với những mô tả Rabbinic về đền tạm của Y-sơ-ra-ên, vốn cũng đã đuổi tà linh khỏi đất. Pesiqta of Rab Kahana, chẳng hạn, khẳng định về việc đọc Thi-thiên 91 rằng:

“Khi Đền Tạm được dựng lên, tà linh đã chấm dứt trong thế gian. Nhưng Rabbi Yoḥanan nói: Tại sao tôi phải dẫn chứng xa trong Kinh Thánh khi tôi có thể dẫn chứng ngay trong đoạn này? Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và gìn giữ ngươi (Dân-số Ký 6:24) — dĩ nhiên là gìn giữ khỏi tà linh.”

Một lời tương tự xuất hiện trong Numbers Rabbah:

“Trước khi Đền Tạm được dựng lên, tà linh hành hạ loài người trong thế gian này. Từ lúc Đền Tạm được dựng lên, và Shekinah ngự xuống nơi đây, thì tà linh đã bị diệt khỏi thế gian.”

Dù cả hai văn bản này được viết muộn hơn nhiều so với các sách Tin Lành Cộng Quan, thật đáng chú ý rằng Pesiqta of Rab Kahana cho rằng Rabbi Yoḥanan, người sống vào cuối thế kỷ thứ nhất (gần như cùng thời với các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu theo cách tương tự), đã biết truyền thống này. Sự hiện diện của Chúa Giê-xu trên đất đem đến một quyền lực thánh khiết trong cõi trần, vốn hoàn toàn đối nghịch và mạnh mẽ hơn tà linh. Nếu một số người cùng thời với các tác giả Tin Lành đã gán chức năng này cho đền tạm của Y-sơ-ra-ên (và rộng hơn là đền thờ Giê-ru-sa-lem), vì nó là nơi ngự của Đức Chúa Trời thánh khiết của Y-sơ-ra-ên, thì các tác giả Tin Lành có thể đã ngụ ý rằng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời Y-sơ-ra-ên được thể hiện trong chính con người của Chúa Giê-xu, theo cách thực hiện sự kiểm soát của Đức Chúa Trời trên các quyền lực tà linh vốn hành hạ loài người.

CHÚA GIÊ-XU VÀ CÁC THẾ LỰC CỦA SỰ CHẾT