Skip to main content

Chương 08: Chúa Giê-xu, Sự Chữa Lành, và Đời Sống Ngày Sa-bát

·13090 words·62 mins·
Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Trong những chương trước, tôi đã lập luận rằng các tác giả Tin Lành không mô tả Chúa Giê-xu như là Đấng khước từ hệ thống thanh sạch nghi lễ hay phủ nhận thực tại của sự thanh sạch nghi lễ. Trái lại, họ liên tục mô tả Chúa Giê-xu hành động theo cách chỉ có thể hiểu được nếu Ngài tin rằng sự ô uế nghi lễ từ xác chết, sự xuất huyết sinh dục, và bệnh phung là điều có thật và hữu hình. Chúng thật đối với Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành cũng như ma quỷ hiện diện trong các tường thuật Tin Lành. Những phép lạ Ngài thực hiện được đặt nền trên giả định rằng sự ô uế là những quyền lực mạnh mẽ trong bản chất, và vì thế cần một hình thức thánh khiết thật sự và còn mạnh mẽ hơn để loại bỏ nguồn gốc của chúng. Các tác giả Tin Lành công bố rằng Chúa Giê-xu chính là quyền lực thánh khiết ấy — Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Mỗi người có tình trạng khiến họ ô uế nghi lễ trong một thời gian không xác định đều rời khỏi sự hiện diện của Chúa Giê-xu với sự chữa lành khỏi tình trạng đã tạo ra sự ô uế nghi lễ.

Tuy nhiên, lập luận như vậy gợi ý rằng những cách giải thích thông thường về Chúa Giê-xu và luật pháp Do Thái cần được xét lại. Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành không khước từ hệ thống thanh sạch nghi lễ, cũng không bỏ qua mọi quan tâm đến sự ô uế nghi lễ; đúng hơn, Ngài tận gốc loại bỏ các nguồn gốc của sự ô uế khi Ngài gặp chúng. Với thực tế này, rõ ràng rằng dù Ngài có thể làm điều khá bất ngờ (nếu không phải hoàn toàn mới mẻ; hãy nhớ lại Ê-li và Ê-li-sê) trong việc đối diện với những tình trạng ấy, các tác giả Tin Lành tin rằng Chúa Giê-xu cho rằng các phạm trù tế lễ về thánh và tục, sạch và ô uế, đều là thật và có liên quan. Vì lý do này, Chúa Giê-xu loại bỏ các nguồn gốc của sự ô uế, phục hồi con người trở lại con đường thanh sạch, nhờ đó cho họ sự tiếp cận lớn hơn vào cõi thánh.

Trong khi không có nhân vật nào trong thế giới tường thuật của các sách Tin Lành từng cáo buộc Chúa Giê-xu khinh thường sự ô uế nghi lễ từ bệnh phung, sự tiết dịch sinh dục, hay xác chết, chúng ta lại có nhiều câu chuyện trong đó người ta trách móc Chúa Giê-xu về cách Ngài giữ ngày Sa-bát. Làm sao các tác giả của ba sách Tin Lành Cộng Quan có thể mô tả sự quan tâm bền bỉ của Chúa Giê-xu đối với sự thanh sạch nghi lễ, trong khi cùng lúc thuật lại những câu chuyện Ngài phá luật Sa-bát? Phải chăng họ tin rằng Chúa Giê-xu giữ một phần của luật pháp Do Thái nhưng bỏ qua phần khác? Hành động của Chúa Giê-xu trong ngày Sa-bát có cho thấy rằng Ngài khước từ ý niệm về thánh và tục, xem mọi ngày đều như nhau để làm việc chăng? Nói ngắn gọn, Đấng được gọi là Thánh của Đức Chúa Trời có phải đã công khai khinh thường điều thánh bằng cách làm tục hóa thời gian thánh không? Một lần nữa, điều này là không hợp lý. Sau hết, các sách Tin Lành nhiều lần mô tả Chúa Giê-xu vào nhà hội trong ngày Sa-bát, như thói quen của những người Do Thái đồng thời với Ngài (Mác 1:21; 3:1–2; 6:2; Ma-thi-ơ 12:9–10; Lu-ca 4:16, 31; 6:6; 13:10).

Tuy nhiên, theo các tác giả Tin Lành, Chúa Giê-xu thường xuyên đối diện với sự chỉ trích về cách Ngài giữ ngày Sa-bát, liên tục bị cáo buộc là phá luật Sa-bát bởi vì Ngài sẵn lòng chữa lành người khác trong ngày nghỉ này. Trong sách Mác, việc làm công khai đầu tiên của Chúa Giê-xu xảy ra trong ngày Sa-bát tại một nhà hội trong thành Ca-bê-na-um thuộc xứ Ga-li-lê (Mác 1:21–28; so sánh Lu-ca 4:33–37). Tôi đã khảo sát câu chuyện này trong chương 7, nhưng xin lưu ý ở đây rằng theo cả Mác và Lu-ca, việc trừ quỷ này không gây ra sự chỉ trích tức thì, mặc dù nó diễn ra trong ngày Sa-bát.

Trái lại, tất cả những người chứng kiến đều kinh ngạc về sự dạy dỗ và thẩm quyền của Chúa Giê-xu đối với ma quỷ — Ngài truyền lệnh cho chúng và chúng vâng phục (Mác 1:27). Tuy nhiên, Câu chuyện mở đầu này trong sách Mác mang tính gợi ý và có lẽ đặt nền cho mọi tranh luận về ngày Sa-bát sau đó. Ngoại trừ một sự kiện mà chúng ta sẽ xem xét nó trước tiên, những hoạt động trong ngày Sa-bát mà Chúa Giê-xu bị chỉ trích đều là những việc chữa lành. Cả Ma-thi-ơ và Lu-ca đều giữ lại những câu chuyện tranh luận này nhưng có sửa đổi theo những cách đáng chú ý. Để hiểu những lời cáo buộc ấy, độc giả ngày nay cần làm quen với luật Sa-bát để nắm được những cuộc tranh luận pháp lý tồn tại quanh việc giữ ngày Sa-bát cách tốt nhất.

1. NGÀY SA-BÁT TRONG KINH THÁNH DO THÁI
#

Những luật liên quan đến ngày Sa-bát xuất hiện xuyên suốt trong Kinh Thánh Do Thái. Xuất Ê-díp-tô Ký 16 chứa điều răn rõ ràng đầu tiên cho loài người về việc nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy trong tuần. Tại đây, khi dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu cuộc hành trình trong đồng vắng, Đức Chúa Trời ban thức ăn dưới hình thức ma-na từ trời cho dân sự. Vào ngày thứ sáu trong tuần, Môi-se truyền cho họ thâu góp gấp đôi số ma-na thường ngày, và nói:

“Ấy là điều Đức Giê-hô-va đã phán dặn: Ngày mai là ngày nghỉ, tức là ngày Sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va; hãy nướng điều chi các ngươi muốn nướng, hãy nấu điều chi các ngươi muốn nấu, và để dành lại mọi điều dư, giữ cho đến sáng mai” (Xuất Ê-díp-tô Ký 16:23).

Dẫu có lời truyền dạy rõ ràng như vậy, một số người Y-sơ-ra-ên vẫn đi ra trong ngày Sa-bát để thâu góp thêm ma-na, nhưng chẳng tìm được gì. Đức Chúa Trời đáp lại sự không vâng phục này:

“Các ngươi còn từ chối chẳng giữ điều răn và luật pháp ta cho đến chừng nào? Kìa, Đức Giê-hô-va đã ban ngày Sa-bát cho các ngươi; bởi cớ đó, ngày thứ sáu Ngài ban cho các ngươi đồ ăn đủ cho hai ngày; ai nấy hãy ở tại chỗ mình, chớ ra khỏi chỗ mình trong ngày thứ bảy” (câu 28–29).

Tại đây, Đức Chúa Trời ban cho Y-sơ-ra-ên hai dấu hiệu rõ ràng về sự thánh khiết của ngày Sa-bát. Thứ nhất, không có ma-na từ trời rơi xuống trong ngày thứ bảy. Thứ hai, khác với mọi ngày khác, ma-na của ngày hôm trước không hư đi, mặc dù được để qua đêm (câu 24; so sánh câu 20). Thực chất, các quy luật tự nhiên thay đổi trong ngày Sa-bát, khiến dân Y-sơ-ra-ên có thể nghỉ ngơi khỏi công việc mình. Ma-na, vốn sẽ hư thối trong những ngày khác, lại được giữ gìn bởi sự thánh khiết của ngày Sa-bát.

Luật về ngày Sa-bát này được mở rộng trong Mười Điều Răn:

“Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm công việc mình trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Đức Giê-hô-va, Đức Chúa Trời ngươi; trong ngày đó, ngươi chớ làm công việc gì, hoặc ngươi, hoặc con trai, con gái ngươi, tôi trai, tớ gái ngươi, súc vật ngươi, hay là khách ngoại kiều ở trong thành ngươi. Vì trong sáu ngày, Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì nghỉ. Bởi cớ đó, Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8–11; so sánh Phục-truyền Luật-lệ Ký 5:12–15).

Luật về ngày Sa-bát này được mở rộng hơn, quy định rõ ràng đối tượng phải giữ ngày Sa-bát: tất cả dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng nó cũng áp dụng cho những tôi tớ ngoại bang và cho khách ngoại kiều cư trú trong các thành của Y-sơ-ra-ên. Thậm chí, ngay cả súc vật của dân Y-sơ-ra-ên cũng không được làm việc. Tất cả dân Y-sơ-ra-ên và mọi người cùng cư trú lâu dài với họ, bất kể là người hay súc vật, đều phải giữ ngày Sa-bát.

Hơn nữa, Xuất Ê-díp-tô Ký 20 đưa ra lý do cho việc dân Y-sơ-ra-ên giữ ngày Sa-bát bằng cách liên kết thời gian thánh với sự sáng tạo của thế giới. Đức Chúa Trời đã nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy trong tuần sau khi dựng nên trời và đất:

“Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong công việc Ngài đã làm, và Ngài nghỉ ngày thứ bảy mọi công việc Ngài đã làm. Đức Chúa Trời ban phước cho ngày thứ bảy và làm nên ngày thánh, vì trong ngày đó Ngài nghỉ mọi công việc Ngài đã dựng nên và làm ra” (Sáng-thế Ký 2:2–3).

Theo tường thuật sáng tạo của truyền thống tế lễ, công việc nguyên thủy của Đức Chúa Trời đã hoàn tất, rồi Ngài nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy. Sự nghỉ ngơi của Đức Chúa Trời, được dệt vào trong cấu trúc của trật tự sáng tạo, trở thành nền tảng cho điều răn buộc dân Y-sơ-ra-ên nghỉ ngơi khỏi công việc mình mỗi ngày thứ bảy. Đức Chúa Trời đã phân biệt ngày thứ bảy khỏi thời gian phàm tục và phân biệt nó về bản thể khỏi phần còn lại của tuần lễ.

Khi Đức Chúa Trời truyền cho Y-sơ-ra-ên làm nên ngày Sa-bát thánh, Ngài làm như vậy bởi vì chính cách Ngài đối xử với ngày ấy, về bản chất, đã khiến nó trở nên thánh khiết; sự giữ ngày Sa-bát của Y-sơ-ra-ên đi theo trật tự sáng tạo. Sự mô tả này về ngày Sa-bát chịu ảnh hưởng của quan niệm pháp lý bản chất, tức là niềm tin rằng luật pháp có thẩm quyền và quyền năng bởi vì nó phản ánh chính bản chất thật của sự vật.

Những luật pháp khác nhấn mạnh sự thánh khiết của ngày Sa-bát bằng cách quy định hình phạt cho việc không giữ đúng:

“Hãy giữ ngày Sa-bát, vì ấy là ngày thánh cho các ngươi. Ai phạm đến nó, chắc sẽ bị xử tử. Ai làm công việc gì trong ngày đó, sẽ bị truất ra khỏi dân sự mình. Trong sáu ngày, người ta sẽ làm công việc, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ, tức là ngày Sa-bát thánh cho Đức Giê-hô-va. Ai làm công việc gì trong ngày Sa-bát, chắc sẽ bị xử tử” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:14–15; so sánh 35:2).

Hình phạt cho việc không giữ ngày Sa-bát là tử hình, và hình phạt này đã được áp dụng cho một người đi ra thâu góp củi trong ngày Sa-bát khi dân Y-sơ-ra-ên ở trong đồng vắng (Dân-số Ký 15:32–36). Câu chuyện này cho thấy thêm một chi tiết về ngày Sa-bát: những loại công việc nào bị cấm. Dù Kinh Thánh Do Thái khá dè dặt, không đưa ra một tuyên bố hệ thống về việc có thể, hay không thể làm gì, trong ngày Sa-bát, câu chuyện này lên án việc thâu góp củi để nhóm lửa, và Xuất Ê-díp-tô Ký 35:3 cấm rõ ràng việc nhóm lửa trong ngày Sa-bát. Từ câu chuyện về ma-na trong đồng vắng, chúng ta có thể kết luận rằng việc thâu góp thức ăn cũng bị cấm. Theo Nê-hê-mi 10:31, việc mua bán hàng hóa là sự vi phạm sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát (so sánh Nê-hê-mi 13:15–18; A-mốt 8:5), trong khi tiên tri Giê-rê-mi thêm rằng không được mang gánh nặng trong ngày Sa-bát (Giê-rê-mi 17:21). Sau cùng, Trito-Isaiah nói:

“Nếu ngươi giữ mình chẳng giày đạp ngày Sa-bát, chẳng làm sự vui thích mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi lấy ngày Sa-bát làm sự vui thích, lấy ngày thánh của Đức Giê-hô-va làm tôn trọng; nếu ngươi lấy làm tôn trọng, chẳng đi đường mình, chẳng tìm sự vui thích mình, chẳng nói lời vô ích; thì ngươi sẽ được vui thích trong Đức Giê-hô-va” (Ê-sai 58:13–14).

Một sự cấm đoán trừu tượng như vậy cần được bổ sung chi tiết. Điều gì được xem là tìm kiếm lợi ích riêng hay việc riêng? Dẫu có gom góp những lời quở trách rải rác về một số hoạt động, người ta vẫn không có một bức tranh đầy đủ về những hành động nào Đức Chúa Trời cho phép và những hành động nào Ngài cấm trong ngày Sa-bát. Những sự không chắc chắn này cuối cùng dẫn đến việc hình thành các danh sách về những loại công việc bị cấm trong ngày Sa-bát. Sau hết, nếu Đức Chúa Trời cấm làm việc trong ngày Sa-bát, thì chẳng phải những người muốn tôn kính cả Đức Chúa Trời lẫn ngày Sa-bát cần phải biết rõ công việc nào bị cấm sao? Nếu một chức trách chính của các thầy tế lễ, và cuối cùng của cả dân Y-sơ-ra-ên, là phân biệt giữa thánh và tục, thì người ta cần biết chính xác những hành động nào làm tục hóa ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 10:10).

Mặt khác, Kinh Thánh Do Thái cũng ngụ ý rằng một số hình thức công việc có thể diễn ra trong ngày Sa-bát mà không bị quở trách. Chẳng hạn, trong Sáng-thế Ký 17, Đức Chúa Trời truyền cho Áp-ra-ham và dòng dõi ông phải cắt bì con trai mình vào ngày thứ tám sau khi sinh. Nhiều người Do Thái sẽ phải cắt bì con trai mình trong ngày Sa-bát để làm trọn điều răn có tính thời gian này. Các thầy tế lễ cũng làm việc trong ngày Sa-bát. Theo sách Dân-số Ký, các thầy tế lễ phải dâng hai con chiên, cùng với của lễ chay, dầu, và của lễ quán mỗi ngày Sa-bát (Dân-số Ký 28:9–10; so sánh Ê-xê-chi-ên 46:1, 4, 12). Hơn nữa, A-rôn và những người kế tục chức vụ ông phải đặt mười hai ổ bánh trần thiết trước mặt Đức Chúa Trời mỗi ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 24:8). Và trong ngày lễ Chuộc Tội, một ngày mà tác giả tế lễ gọi là ngày Sa-bát nghỉ trọn vẹn (16:31), thầy tế lễ thượng phẩm phải thực hiện những nghi lễ trọng tâm để thanh tẩy cả đền thánh lẫn dân Y-sơ-ra-ên (16:31–34). Những hình thức công việc khác nhau này cho thấy rằng một số điều răn — ít nhất là việc cắt bì và sự phục vụ của thầy tế lễ — có ưu tiên hơn việc giữ ngày Sa-bát. Những công việc ấy thực ra không làm tục hóa ngày thánh này.

Một trường hợp khác về công việc trong ngày Sa-bát xảy ra trong II Các Vua. Tại đây, thầy tế lễ Giê-hô-gia-đa truyền cho lính canh đền thờ những lời dặn:

“Ấy là điều các ngươi sẽ làm: một phần ba trong các ngươi, tức là những người hết phiên trực trong ngày Sa-bát và canh giữ nhà vua … sẽ canh giữ cung điện; còn hai phần ba vào phiên trực trong ngày Sa-bát và canh giữ nhà Đức Giê-hô-va sẽ vây quanh vua, tay cầm khí giới. Ai đến gần lính canh thì phải bị giết. Hãy ở cùng vua trong khi vua ra vào” (II Các Vua 11:5–8; so sánh II Sử-ký 23:3–11).

Những lời dặn này buộc lính canh phải làm việc trong ngày Sa-bát, mang khí giới, giáo và khiên để bảo vệ vua Giô-ách vừa được lập. Lễ đăng quang và sự hỗ trợ quân sự này dường như trái với luật Sa-bát cấm làm việc, nhưng cả tác giả của II Các Vua lẫn nhà Sử ký đều không tỏ ra bận tâm về điều đó. Nê-hê-mi cũng giao việc canh giữ cho người Lê-vi để bảo vệ các cửa thành trong ngày Sa-bát, nhằm bảo đảm rằng dân sự giữ ngày Sa-bát cách đúng đắn (Nê-hê-mi 13:22).

Ngay từ sách Jubilees, chúng ta đã thấy những nỗ lực hệ thống hóa mọi công việc bị cấm trong ngày Sa-bát:

“Phàm người nào làm việc trong ngày đó, hoặc đi đường, hoặc cày ruộng tại nhà hay nơi khác, hoặc nhóm lửa, hoặc cưỡi súc vật, hoặc đi biển bằng thuyền, hoặc giết hay cắt cổ súc vật hay chim, hoặc bẫy thú, chim hay cá, hoặc kiêng ăn hay gây chiến trong ngày Sa-bát, thì người nào làm những điều ấy trong ngày Sa-bát phải chết.”

Và cho đến thời kỳ rabbi Do Thái, chúng ta vẫn thấy những nỗ lực hệ thống hóa và làm rõ luật Sa-bát — sự bàn luận về luật Sa-bát chiếm phần lớn trong sách Mishnah. Sự chú ý này bắt nguồn từ thực tế rằng những đoạn Kinh Thánh trước đó không đưa ra những chỉ dẫn đủ cụ thể để biết cách giữ ngày Sa-bát cho đúng. Nếu ai thật sự nghiêm túc về việc giữ sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát, thì người ấy cần phải biết công việc nào bị cấm.

Chính tại điểm này mà người Do Thái có thể bất đồng với nhau. Một vài ví dụ được nêu ra ở đây sẽ đủ để chúng ta hình dung: Theo Mishnah Pesahim, những người ở thành Giê-ri-cô giữ lập trường pháp lý rằng việc lượm và ăn trái cây rụng không phá luật Sa-bát. Vì trái cây ấy là do gió làm rụng, họ kết luận rằng việc lượm nó không cấu thành hành động gặt hái trái phép. Nhưng các Thầy thông giáo lại bất đồng với lập trường pháp lý này. Thật ra, các rabbi thường bất đồng với nhau về điều gì được xem là công việc. Chẳng hạn, Rabbi Eliezer cho rằng việc lấy mật ong từ tổ ong trong ngày Sa-bát là điều cấm, trong khi các thầy thông giáo tin rằng điều đó được phép. Những bất đồng như vậy đôi khi dẫn đến những lời tranh luận gay gắt, cáo buộc rằng người bất đồng là kẻ phạm luật và làm tục hóa ngày Sa-bát, nhưng những cáo buộc ấy không phản ánh đúng thái độ hay ý định thật sự của người bị chỉ trích. Người ấy có thể tin rằng mình không hề vi phạm ngày Sa-bát. Chính trong bối cảnh tranh luận pháp lý này mà những câu chuyện tranh luận về ngày Sa-bát trong các sách Tin Lành phải được đọc và hiểu.

Trái ngược với các chủ đề trong những chương trước, luật Sa-bát không có những điểm song song đơn giản trong vùng Cận Đông cổ hay trong thế giới Hy-La ngoại bang. Dù khái niệm về thời gian thánh là điều quen thuộc với mọi nền văn hóa trong thế giới Địa Trung Hải, việc giữ một ngày nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy trong tuần dường như là điều độc đáo của dân Y-sơ-ra-ên và người Do Thái. Khi những độc giả đầu tiên của các sách Tin Lành gặp những câu chuyện tranh luận về ngày Sa-bát, họ đang bước vào một thế giới căn bản là Do Thái. Giờ đây chúng ta sẽ hướng đến những câu chuyện ấy.

2. CHÚA GIÊ-XU TRONG ĐỒNG LÚA
#

Theo sách Mác, một ngày Sa-bát kia Chúa Giê-xu và các môn đồ đi ngang qua một đồng lúa, thì các môn đồ bắt đầu bứt những bông lúa (Mác 2:23–28). Khi thấy điều này, những người Pha-ri-si hỏi Chúa Giê-xu vì sao môn đồ Ngài làm điều không hợp pháp trong ngày Sa-bát. Tường thuật của Mác đặt Chúa Giê-xu cách biệt khỏi hành động và khỏi lời cáo buộc; chính các môn đồ, chứ không phải Chúa Giê-xu, đã bứt lúa. Trong việc biên soạn lại Mác, cả Ma-thi-ơ và Lu-ca cũng tập trung vào hành động của các môn đồ (Ma-thi-ơ 12:1–8; Lu-ca 6:1–5), mặc dù trong tường thuật của Lu-ca, những người Pha-ri-si có thể bao gồm cả Chúa Giê-xu trong lời cáo buộc: “Sao các ngươi làm điều không hợp pháp trong ngày Sa-bát?” (Lu-ca 6:2).

Lời đáp của Chúa Giê-xu cho thấy Ngài cho rằng hành động của họ có thể được biện hộ về mặt pháp lý. Nhưng việc các môn đồ làm trong ngày Sa-bát — bứt lúa — được xem là công việc. Dù không phải là sự vi phạm trắng trợn luật Sa-bát như được truyền dạy trong luật pháp (chẳng hạn Xuất Ê-díp-tô Ký 20:10 và 34:21), hành động của họ chắc chắn đã vượt quá những cách giải thích phổ biến đương thời về việc giữ ngày Sa-bát (có lẽ dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 34:21, vốn đòi hỏi dân sự phải giữ ngày Sa-bát ngay cả trong mùa gặt). Tài liệu Damascus của Qumran mô tả nhiều yêu cầu về việc giữ ngày Sa-bát và đưa ra những phán quyết liên quan đến câu chuyện này: “Trong ngày Sa-bát, người ta không được ăn gì ngoại trừ thức ăn đã được chuẩn bị sẵn.” Do đó, có thể cộng đồng Qumran sẽ xem hành động bứt lúa và lột vỏ (Lu-ca 6:1) của các môn đồ là sự tục hóa ngày Sa-bát. Vào đầu thế kỷ thứ nhất, Philo cho rằng ngày Sa-bát “cũng mở rộng đến mọi loại cây và thực vật; vì người ta không được phép cắt nhánh, lá, hay bứt bất cứ trái nào.” Theo sự giải thích sau này của các rabbi, kẻ gặt là kẻ vi phạm ngày Sa-bát. Các rabbi đã khai triển phạm trù công việc này trong Tosefta — bao gồm cả việc bứt lúa như một phần của việc gặt. Những chứng cứ văn chương khác nhau này cho thấy quan điểm rằng việc bứt lúa hay thu hoạch thực phẩm là sự vi phạm ngày Sa-bát đã phổ biến rộng rãi.

Chúa Giê-xu trong sách Mác đáp lại thế nào? Trước hết, Ngài thừa nhận rằng các môn đồ đang làm việc trong ngày Sa-bát khi bứt lúa. Nói cách khác, Chúa Giê-xu cũng đồng ý với Damascus Document, Philo, và các rabbi đầu tiên rằng, theo nguyên tắc, việc gặt thực phẩm bị cấm trong ngày Sa-bát. Nhưng rồi Ngài đưa ra sự biện hộ pháp lý cho hành động của họ bằng cách chỉ đến gương của Đa-vít và những người đi với ông, đã ăn bánh trần thiết vì đói, mặc dù họ bị cấm làm như vậy (I Sa-mu-ên 21:1–6). Rõ ràng hành động của Đa-vít trong câu chuyện này trái với luật pháp, vốn quy định rằng bánh trần thiết chỉ dành cho A-rôn và các con trai ông — tức các thầy tế lễ (so sánh Lê-vi Ký 24:9). Lập luận của Chúa Giê-xu trong sách Mác tiến hành theo cách này:

  • Tiền đề 1: Kinh Thánh cho thấy rằng vì đói và cần, Đa-vít và những người đi với ông đã ăn bánh vốn không được phép cho họ.

  • Kết luận: Các môn đồ của Chúa Giê-xu có thể bứt lúa trong ngày Sa-bát.

Tường thuật của Mác làm yếu đi lập luận này. Dù ông nhấn mạnh rằng Đa-vít và những người đi với ông đã ăn bánh bị cấm vì sự đói và nhu cầu của họ vượt trên luật về bánh trần thiết, Mác lại không cho độc giả biết rằng các môn đồ của Chúa Giê-xu đang đói. Một phần thiết yếu của lập luận, vì thế, bị thiếu:

  • Tiền đề 2: Các môn đồ của Chúa Giê-xu đói và cần trong ngày Sa-bát.

Chỉ khi Tiền đề 2 được kết hợp với Tiền đề 1 thì kết luận mới trở nên có sức thuyết phục về mặt pháp lý. Hơn nữa, Mác cũng không nhắc rằng các môn đồ thực sự đã ăn những gì họ bứt. Kết quả là, người ta có thể kết luận rằng không có nhu cầu cấp bách nào khiến các môn đồ phải bứt lúa. Nếu Mác đã nói rằng các môn đồ ăn lúa, thì lập luận của ông sẽ mạnh hơn:

  • Tiền đề 1: Kinh Thánh cho thấy rằng vì đói và cần, Đa-vít và những người đi với ông đã ăn bánh vốn không được phép cho họ.

  • Tiền đề 2: Các môn đồ của Chúa Giê-xu đói và cần ăn trong ngày Sa-bát.

  • Kết luận: Các môn đồ của Chúa Giê-xu có thể bứt lúa trong ngày Sa-bát để ăn nhằm đáp ứng nhu cầu thể xác.

Hơn nữa, Mác gọi thầy tế lễ thượng phẩm trong câu chuyện của Đa-vít và những người đi với ông là A-bia-tha. Tại đây, ông dường như đã nhầm A-bia-tha với cha của ông, A-hi-mê-léc, người đã giao tiếp với Đa-vít theo câu chuyện trong I Sa-mu-ên 21:1–6. Dựa trên sai sót này, John Meier kết luận:

“Chúa Giê-xu trong sách Mác này không chỉ thiếu hiểu biết mà còn liều lĩnh, dại dột thách thức các chuyên gia Kinh Thánh trong một cuộc tranh luận công khai về cách đọc đúng một đoạn văn cụ thể — chỉ để ngay lập tức chứng minh cho cả môn đồ lẫn đối thủ thấy Ngài thiếu hiểu biết về chính đoạn văn mà Ngài đã đưa ra để thảo luận.”

Nói cách khác, trong một câu chuyện nhằm chứng minh sự tinh thông pháp lý của Chúa Giê-xu, Mác vô tình mô tả Chúa Giê-xu nhầm lẫn một thầy tế lễ với một thầy tế lễ khác.

Sau cùng, và có lẽ là điểm yếu chí tử, Mác đã bỏ sót một bước quan trọng trong logic của lập luận của Chúa Giê-xu. Khi chỉnh lại lập luận đã nêu trên, lý luận pháp lý của Chúa Giê-xu trong sách Mác dường như như sau:

  • Tiền đề giả định: Sự đói và nhu cầu lớn hơn luật về đền tạm/đền thờ

  • Chứng cứ: I Sa-mu-ên 21:1–6 cho thấy Đa-vít và những người đi với ông đã ăn bánh vốn không được phép cho họ theo luật đền thờ, bởi vì họ đói và cần.

  • Kết luận: Các môn đồ của Chúa Giê-xu có thể bứt lúa để đáp ứng nhu cầu thể xác trong ngày Sa-bát.

  • Châm ngôn 1: “Ngày Sa-bát vì loài người, chớ không phải loài người vì ngày Sa-bát” (Mác 2:27). = Loài người quan trọng hơn Ngày Sa-bát

  • Châm ngôn 2: “Con người cũng làm chủ ngày Sa-bát” (Mác 2:28). = Con người lớn hơn Ngày Sa-bát

Dựa trên hình thức lập luận này, nhiều học giả cho rằng ví dụ về Đa-vít không phù hợp với luận điểm mà Chúa Giê-xu đang đưa ra, vì chẳng có gì trong I Sa-mu-ên 21 liên quan trực tiếp đến ngày Sa-bát. Thật vậy, Stephen Westerholm lập luận rằng trong câu chuyện này,

“người ta chấp nhận và xây dựng lập luận trên chính sự kiện rằng hành động của Đa-vít là trái luật; ông đã ăn ‘điều không hiệp pháp để ăn’ (câu 26). Hành động của ông không được điều chỉnh theo luật pháp, nhưng được trích dẫn như một ví dụ Kinh Thánh nơi chữ nghĩa của luật pháp bị phá vỡ. Đây không phải là một lập luận theo kiểu Pha-ri-si.”

Tôi muốn gợi ý ngược lại rằng Mác đã không làm rõ một logic pháp lý đầy đủ hơn, vốn nâng đỡ lời của Chúa Giê-xu. Nếu sự đói và nhu cầu vượt trên sự phục vụ trong đền thờ, thì sự đói và nhu cầu (của cả loài người và Con Người) cũng phải vượt trên việc giữ ngày Sa-bát. Đây chính là hình thức ngầm ẩn của lập luận của Chúa Giê-xu trong sách Mác.

  • Tiền đề giả định 1: Sự đói và nhu cầu vượt trên luật về đền tạm/đền thờ

  • Chứng cứ: I Sa-mu-ên 21:1–6 cho thấy Đa-vít và những người đi với ông đã ăn bánh vốn bị luật đền thờ cấm, bởi vì họ đói và cần.

  • Tiền đề giả định 2: Đền tạm/đền thờ vượt trên ngày Sa-bát

  • Chứng cứ giả định: Luật pháp buộc phải dâng của lễ trong ngày Sa-bát (Lê-vi Ký 24:8; Dân Số Ký 28:9; Ê-xê-chi-ên 46:1, 4, 12).

  • Kết luận: Sự đói và nhu cầu vượt trên ngày Sa-bát

  • Châm ngôn 1: Ngày Sa-bát được ban cho loài người.

  • Châm ngôn 2: Con Người làm chủ ngày Sa-bát.

Dù tôi đã gợi ý rằng Mác không làm rõ tiền đề thứ hai, rằng sự phục vụ trong đền thờ có ưu tiên hơn việc giữ ngày Sa-bát, nhưng có thể ông giả định rằng độc giả sẽ đủ hiểu để bổ sung bước này vào lập luận. Thật vậy, chính ví dụ Kinh Thánh mà ông đưa ra, I Sa-mu-ên 21:1–6, có thể gợi nhớ đến tiền đề này, vì câu chuyện Đa-vít ăn bánh trần thiết vốn bị cấm không chỉ cho thấy sự đói và nhu cầu của con người vượt trên nghi lễ đền thờ, mà còn tạo ra mối liên hệ với ngày Sa-bát. Chính đoạn văn cấm người không phải thầy tế lễ ăn bánh trần thiết cũng buộc các thầy tế lễ phải làm việc trong ngày Sa-bát để bày bánh trần thiết ra (Lê-vi Ký 24:8–9). Mối liên hệ giữa bánh trần thiết và công việc của thầy tế lễ trong ngày Sa-bát là điều mà các văn bản rabbi sau này ghi nhận khi bàn đến I Sa-mu-ên 21 — các rabbi không chỉ nhấn mạnh sự vi phạm pháp lý của Đa-vít mà còn làm nổi bật nó bằng cách lưu ý rằng sự việc xảy ra trong ngày Sa-bát.

Sự thêm thắt này vào câu chuyện I Sa-mu-ên 21 là điều hợp lý: hoặc A-hi-mê-léc vào đền tạm không đúng thời điểm để cung ứng cho nhu cầu của Đa-vít và những người đi với ông, qua đó càng chứng minh rằng nhu cầu của con người vượt trên nghi lễ đền thờ; hoặc ông vào đền tạm trong ngày Sa-bát và do đó làm việc trong ngày Sa-bát bằng cách đem vật thánh ra để đáp ứng nhu cầu của con người.

3. MA-THI-Ơ BIÊN SOẠN LẠI CÂU CHUYỆN CỦA MÁC
#

Sự xác nhận rằng đây là cách đúng để đọc tường thuật của Mác và rằng đây là logic nền tảng trong lập luận của Chúa Giê-xu đến từ một trong những cách đọc lại đầu tiên của nó (Ma-thi-ơ 12). Bằng nhiều cách, Ma-thi-ơ đã củng cố hình thức lập luận mà Chúa Giê-xu trong sách Mác đưa ra, cho thấy sự quan tâm của ông trong việc cung cấp một sự biện hộ pháp lý cho Chúa Giê-xu và các môn đồ. Ông bỏ đi lời khẳng định sai lầm của Mác về A-bia-tha, làm rõ rằng các môn đồ của Chúa Giê-xu đang đói, khẳng định rằng họ bứt lúa để ăn, và bổ sung mắt xích quan trọng trong lập luận pháp lý của Chúa Giê-xu vốn chỉ được ngụ ý trong tường thuật của Mác. Chính sự cải thiện cuối cùng này là điều tôi muốn tập trung ở đây.

Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ hỏi: “Hay là các ngươi chưa đọc trong luật pháp rằng trong ngày Sa-bát, các thầy tế lễ trong đền thờ làm tục hóa ngày Sa-bát mà không mắc tội sao?” (Ma-thi-ơ 12:5). Chúa Giê-xu đã quan sát đúng rằng có một thứ bậc trong việc giữ luật pháp, và sẽ có những lúc một người phải vâng theo một luật, dù điều đó liên quan đến việc phá một luật khác.

Khi các thầy tế lễ làm việc trong ngày Sa-bát, họ không mắc tội, mặc dù họ không giữ ngày Sa-bát, bởi vì sự phục vụ trong đền thờ cao trọng hơn việc giữ ngày Sa-bát. Như vậy, Ma-thi-ơ đã làm rõ điều mà Mác chỉ ngụ ý. Và Mác có thể đã giả định rằng độc giả của ông sẽ tự bổ sung bước còn thiếu này vào lập luận, vì niềm tin rằng sự phục vụ trong đền thờ cao trọng hơn việc giữ ngày Sa-bát có lẽ đã được chấp nhận rộng rãi. Chẳng hạn, hai thế kỷ trước khi Mác viết sách Tin Lành của mình, tác giả sách Jubilees đã nói rõ rằng chỉ có một loại công việc có thể diễn ra trong ngày Sa-bát:

“Vì lớn lao là sự vinh hiển mà Đức Giê-hô-va đã ban cho Y-sơ-ra-ên để ăn uống và được thỏa mãn trong ngày lễ này, và nghỉ ngơi khỏi mọi công việc của loài người, ngoại trừ việc dâng hương và đem lễ vật cùng của lễ đến trước mặt Đức Giê-hô-va trong những ngày và các ngày Sa-bát. Chỉ công việc này sẽ được làm trong ngày Sa-bát tại nơi thánh của Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, để chuộc tội cho Y-sơ-ra-ên bằng lễ vật liên tục mỗi ngày, như một sự tưởng nhớ được chấp nhận trước mặt Đức Giê-hô-va. Và để Ngài nhận họ đời đời, ngày qua ngày, như Ngài đã truyền cho các ngươi.”

Những lời tuyên bố của các rabbi sau này cũng ghi nhận cùng một thứ bậc pháp lý: “Sự phục vụ trong đền thờ vượt trên ngày Sa-bát.” Cả sách Jubilees lẫn các rabbi sau này đều thừa nhận rằng các thầy tế lễ thực hiện sự phục vụ trong đền thờ có thể hợp pháp “phá” ngày Sa-bát. Nếu tác giả sách Jubilees hay các rabbi tin rằng có điều gì đó vượt trên sự phục vụ trong đền thờ, thì họ cũng sẽ phải kết luận rằng điều đó cũng có ưu tiên pháp lý hơn ngày Sa-bát.

Mác giả định logic này; Ma-thi-ơ thì làm cho nó rõ ràng. Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ lập luận rằng hiện nay có một điều còn lớn hơn cả đền thờ, nên nó phải có ưu tiên hơn ngày Sa-bát. Ngài thừa nhận rằng các môn đồ làm việc trong ngày Sa-bát, nhưng theo Ngài, họ buộc phải làm như vậy theo cách tương tự như bổn phận của các thầy tế lễ phải làm việc trong ngày Sa-bát. Cả hai hình thức công việc này thực ra không làm tục hóa ngày Sa-bát. Điều lớn hơn ấy là gì, Ma-thi-ơ không nói rõ, mặc dù việc ông trích dẫn Ô-sê 6:6 theo Bản LXX (“Ta [Đức Chúa Trời] muốn sự thương xót hơn của lễ”) gợi ý rằng có một thứ bậc khác tồn tại, một thứ bậc đặt sự thương xót cao hơn của lễ — tức sự phục vụ trong đền thờ. Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ đã từng nhấn mạnh câu này (Ma-thi-ơ 9:13) để biện hộ cho việc Ngài giao tiếp với kẻ có tội và người thâu thuế. Và về cuối sách Tin Lành Ma-thi-ơ, Chúa Giê-xu lại nhấn mạnh cùng một trật tự thứ bậc này như là cách để giữ luật pháp cho đúng; việc nộp phần mười rau thơm, dù có giá trị, không tương đương với những điều trọng yếu của luật pháp, như sự công bình, thương xót, và trung tín (Ma-thi-ơ 23:23).

Nói cách khác, sự thương xót có ưu tiên hơn cả sự phục vụ trong đền thờ và của lễ. Sự thương xót này là gì? Dù Ma-thi-ơ không nói rõ, câu chuyện tiếp theo mà ông nhận từ Mác, và chúng ta sẽ xét kỹ hơn ngay sau đây, minh họa ít nhất một phần của sự thương xót ấy: chữa lành và phục hồi sự sống con người (Ma-thi-ơ 12:9–14; so sánh Mác 3:1–6; Lu-ca 6:6–11). Tại đây, có lẽ trái với nhận thức của nhiều Cơ Đốc nhân hiện đại, Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ không nói gì lạ thường.

Chẳng hạn, vào nửa đầu thế kỷ thứ hai, Rabbi Simeon ben Azzai đã nói đến những điều răn nhỏ; còn vào thế kỷ thứ ba, Rabbi Yehudah ha-Nasi phân biệt giữa điều răn nhỏ và điều răn lớn. Dựa trên logic này, Tosefta chứa đựng ý kiến pháp lý vô danh rằng “sự bố thí và việc làm công chính vượt hơn mọi điều răn khác trong Torah.” Ý kiến pháp lý này có từ thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, khi nhà Shammai và nhà Hillel (theo Rabban Simeon ben Gamaliel) tranh luận về cách giữ luật pháp cho đúng. Nhà Shammai đặt ngày Sa-bát cao hơn việc bố thí hay cầu nguyện cho người bệnh, trong khi Hillel đặt việc bố thí và cầu nguyện cho người bệnh cao hơn ngày Sa-bát.

Tương tự, theo Talmud, Rabbi Eleazar vào thế kỷ thứ nhất đã nói rằng: “Người ta có thể định phần bố thí cho kẻ nghèo trong ngày Sa-bát.” Theo nguyên tắc, việc tính toán tài chính không được phép trong ngày Sa-bát, nhưng khi liên quan đến công việc bố thí, những hành động ấy được phép, bởi vì bố thí (tức là thương xót) là một yêu cầu pháp lý trọng yếu hơn việc giữ ngày Sa-bát. Khi Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ đặt sự thương xót/bố thí cao hơn sự phục vụ trong đền thờ (và do đó cao hơn ngày Sa-bát), Ngài không phải là một tiếng nói đơn độc trong một “sa mạc” của chủ nghĩa pháp lý Do Thái vô nhân đạo; đúng hơn, Ngài là một trong nhiều tiếng nói Do Thái đã đi đến kết luận rằng thương xót và bố thí có ưu tiên pháp lý hơn cả những điều trọng yếu như sự phục vụ trong đền thờ và ngày Sa-bát.

4. NGÀY SA-BÁT: VÌ SỰ SỐNG HAY SỰ CHẾT?
#

Ngay sau câu chuyện bứt lúa, Mác thuật lại một câu chuyện trong đó Chúa Giê-xu chữa lành trong ngày Sa-bát — có lẽ để cho thấy loại công việc nào có ưu tiên hơn ngày Sa-bát. Vì thế, Mác 3:1–6 minh họa cách thức và lý do tại sao ngày Sa-bát được ban cho loài người, và Con Người làm chủ cả ngày Sa-bát.

“Đoạn, Ngài lại vào nhà hội. Tại đó có một người teo tay. Người ta rình xem Ngài có chữa lành trong ngày Sa-bát chăng, để cáo trách Ngài. Ngài phán cùng người teo tay rằng: Hãy đứng dậy giữa nhà hội. Ngài lại phán cùng họ rằng: Trong ngày Sa-bát, làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng sống hay giết đi, điều nào hiệp pháp? Nhưng họ đều làm thinh. Ngài lấy giận mà nhìn họ, buồn rầu vì lòng họ cứng cỏi, rồi phán cùng người đó rằng: Giơ tay ra! Người giơ ra, thì tay được lành. Người Pha-ri-si đi ra liền hiệp mưu với phe Hê-rốt nghịch cùng Ngài, để giết Ngài” (Mác 3:1–6; so sánh Ma-thi-ơ 12:9–14; Lu-ca 6:6–11).

Vì đây là việc làm quyền năng thứ hai mà Chúa Giê-xu thực hiện trong ngày Sa-bát, có vẻ như Mác cho rằng việc trừ quỷ mà Chúa Giê-xu đã làm trong Mác 1 đã dẫn đến những quan ngại sau đó nơi ít nhất một số người đồng thời với Ngài. Do đó, khi Chúa Giê-xu vào nhà hội trong một ngày Sa-bát khác, một số người Pha-ri-si rình xem Ngài có chữa lành nữa không. Ít nhất theo cách Mác thuật lại, những người Pha-ri-si này dường như dùng người teo tay làm mồi nhử để xem có thể lôi sự nghi ngờ rằng Chúa Giê-xu khinh thường ngày Sa-bát ra ánh sáng hay không. Thay vì chữa lành cách kín đáo, Chúa Giê-xu kêu gọi cả nhà hội chú ý đến người ấy, bảo ông đứng lên giữa họ. Dùng người teo tay làm bài học, Ngài hỏi đối thủ hai câu:

  • Trong ngày Sa-bát, có hợp pháp để làm điều lành hay điều dữ?
  • Trong ngày Sa-bát, có hợp pháp để cứu mạng sống hay giết đi?

Cả hai câu hỏi, theo ý Mác, đều đưa ra lý do cho thói quen của Chúa Giê-xu chữa lành trong ngày Sa-bát.

Câu hỏi thứ hai — liệu có hiệp pháp để cứu mạng sống hay để giết đi trong ngày Sa-bát — cần được hiểu trong bối cảnh những tranh luận Do Thái đương thời, vốn phản ánh mối quan ngại về sự bất tiện trong việc giữ ngày Sa-bát khi có chiến tranh. Ngay từ thế kỷ thứ tư trước Công nguyên, vua Ptolemy I Soter của Macedonia đã chiếm được thành Giê-ru-sa-lem bởi vì ông tiến vào thành trong ngày Sa-bát. Sau đó, vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, vua Antiochus IV Epiphanes của vương triều Seleucid đã giết nhiều người Do Thái trong ngày Sa-bát, vì họ đã kiên quyết từ chối làm ô uế ngày Sa-bát bằng cách tự vệ. Thay vì xem kiểu giữ ngày Sa-bát này là đáng khen, Mattathias, một thầy tế lễ từ Modin, người khởi xướng cuộc nổi loạn chống người Syria, đã lập luận rằng người Do Thái phải chiến đấu trong ngày Sa-bát để ngăn chặn sự tàn sát như vậy xảy ra lần nữa. Quyết định này rất thực tế, xét rằng ông vốn là một người sốt sắng bảo vệ luật pháp Do Thái. Lý do của Mattathias như sau:

“Nếu chúng ta đều làm như anh em mình đã làm, không đánh giặc ngoại bang [trong ngày Sa-bát] để bảo vệ mạng sống và luật pháp mình, thì chúng nó sẽ diệt chúng ta khỏi đất này” (I Ma-ca-bê 2:41).

Với Mattathias, việc bảo tồn sự sống là luật lớn hơn việc giữ sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát. Tuy nhiên, công việc này có giới hạn: “Chúng ta hãy tiến hành chiến tranh chống lại bất cứ kẻ nào đến gây chiến với chúng ta vào ngày Sa-bát.” Chỉ khi bị tấn công trực tiếp trong ngày Sa-bát thì Mattathias và chiến sĩ của ông mới đáp trả. Phòng thủ quân sự là điều hợp pháp; nhưng tấn công quân sự thì không.

Trái ngược với cách tiếp cận thực tế của Mattathias và những lập luận rabbi sau này, sách Jubilees lên án mọi hoạt động quân sự trong ngày Sa-bát. Ở cuối phần bàn luận về ngày Sa-bát, tác giả tuyên bố rằng việc gây chiến là một trong những hình thức công việc bị cấm trong ngày Sa-bát. Không ngoại lệ, ít nhất đối với tác giả sách Jubilees, việc gây chiến trong ngày Sa-bát sẽ dẫn đến án tử hình. Như Meier kết luận, việc tham chiếu đến chiến tranh kết thúc phần bàn luận của tác giả về ngày Sa-bát cho thấy rằng vấn đề này đã gây tranh cãi khi ông viết sách. Và một văn bản rời rạc từ Qumran cũng có thể ủng hộ quan điểm của Jubilees, vì nó dường như cấm việc đi ra để đối đầu với kẻ thù tấn công. Tuy nhiên, chính lý thuyết “chiến tranh công chính” mà Mattathias đã nêu ra mới là điều thắng thế trong cộng đồng Do Thái vào nửa sau của thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai. Chính Josephus cũng đưa ra hai lập trường pháp lý khác nhau về chiến tranh và ngày Sa-bát, đặt những lời sau đây vào miệng vua Herod Agrippa II, người tìm cách thuyết phục đồng bào Do Thái của mình đừng nổi loạn chống lại La Mã.

“Hãy xét đến sự khó khăn trong việc giữ luật lệ tôn giáo khỏi bị ô uế [trong chiến tranh], ngay cả khi các ngươi đối diện với kẻ thù không quá mạnh; và nếu các ngươi buộc phải phạm chính những nguyên tắc mà trên đó các ngươi đặt hy vọng về sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, thì các ngươi sẽ khiến Ngài lìa bỏ mình. Nếu các ngươi giữ phong tục ngày Sa-bát và từ chối hành động trong ngày đó, chắc chắn các ngươi sẽ dễ dàng bị đánh bại, như tổ phụ các ngươi đã bị Pompey đánh bại khi bị vây hãm mà vẫn bất động; nhưng nếu các ngươi phạm luật pháp của tổ phụ mình, thì ta không thấy các ngươi còn có mục đích gì để gây chiến nữa, vì mục tiêu duy nhất của các ngươi là giữ gìn trọn vẹn mọi thể chế của tổ phụ. Làm sao các ngươi có thể kêu cầu sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, sau khi cố ý bỏ qua sự phục vụ mà các ngươi mắc nợ Ngài?”

Ngược lại, lập trường của Mattathias đặt nền trên niềm tin rằng việc bảo tồn sự sống quan trọng hơn việc giữ ngày Sa-bát, một niềm tin được lưu giữ trong văn chương rabbi sau này: “Bất cứ điều gì có nghi ngờ liên quan đến việc cứu mạng sống đều vượt trên ngày Sa-bát.” Văn bản này nêu ra nhiều trường hợp có thể khiến mạng sống một người bị nguy hiểm. Chẳng hạn, nếu một người đói khát dữ dội, người ta có thể cho ăn bất cứ thứ gì, kể cả thức ăn ô uế, để cứu mạng sống; một người bị chó dại cắn thì, theo một số ý kiến, nên được cho ăn một phần gan của con chó, dù không phải là thức ăn tinh sạch; và một người bị đau họng thì phải được cho thuốc, ngay cả trong ngày Sa-bát. Truyền thống rabbi sau này gọi nguyên tắc pháp lý này là piqquaḥ nefesh: bổn phận pháp lý-tôn giáo phải cứu mạng sống.

Tuy nhiên, các tài liệu pháp lý từ Qumran gợi ý rằng có những người tin rằng ngày Sa-bát cao trọng hơn mạng sống con người — điều này phù hợp với việc cấm chiến tranh trong ngày Sa-bát được tìm thấy trong sách Jubilees4Q264. Chẳng hạn, Tài liệu Damascus viết:

“Phàm người nào sống mà rơi xuống nước hay xuống một nơi […], thì chớ ai đem người ấy lên bằng thang, bằng dây, hay bằng dụng cụ.”

Mặt khác, một văn bản khác từ Qumran quy định rằng người ta có thể dùng chính áo mình đang mặc để giúp người ấy ra khỏi hố, nhưng không được về nhà lấy vật khác để cứu người đang gặp hoạn nạn.

Chính trong bối cảnh tranh luận pháp lý của người Do Thái này, chúng ta mới có thể hiểu được những tranh cãi xoay quanh các hành động của Chúa Giê-xu vào ngày Sa-bát. Lời của Chúa Giê-xu trong Mác 3 nằm trong dòng truyền thống nhấn mạnh việc bảo tồn sự sống hơn là việc giữ ngày Sa-bát, mặc dù sự đối chiếu của Ngài giữa việc cứu sự sống và giết đi cũng có thể là một lời phê phán nhắm đến việc gây chiến trong ngày Sa-bát. Nếu đối thủ của Chúa Giê-xu trả lời rằng được phép cứu mạng sống trong ngày Sa-bát, thì họ đã thừa nhận rằng hành động của Ngài có thể được biện hộ về mặt pháp lý. Bằng cách từ chối trả lời, đối thủ của Chúa Giê-xu ngầm chọn sự chết thay vì sự sống, qua đó bày tỏ lòng cứng cỏi của họ.

Việc các đối thủ Chúa Giê-xu ưu tiên việc giết thay vì ban sự sống xuất hiện lần nữa ở cuối câu chuyện; Mác mô tả những người Pha-ri-si và phe Hê-rốt rời khỏi nhà hội để lập mưu giết Chúa Giê-xu. Xác nhận rằng họ đã chọn sự chết thay vì sự sống, làm điều dữ thay vì điều lành, họ trở nên phạm tội tục hóa ngày Sa-bát bằng cách làm công việc lập mưu tạo ra cả sự ô uế đạo đức lẫn sự ô uế bởi xác chết. Như Joel Marcus nói:

“Trái ngược với nguyên tắc của người Pha-ri-si về việc cứu mạng sống trong ngày Sa-bát và mối quan tâm được tuyên bố của họ về sự thánh khiết của ngày ấy, chính họ đã tục hóa ngày Sa-bát bằng cách dùng nó để lập mưu giết Chúa Giê-xu.”

Thật vậy, những người theo quan điểm pháp lý của Qumran hay Jubilees sẽ xem việc lập mưu của người Pha-ri-si và phe Hê-rốt là một sự vi phạm không được phép trong ngày Sa-bát, vì quan điểm này cấm việc bàn luận về công việc trong ngày Sa-bát, điều này chắc chắn bao gồm cả việc lập mưu giết một người. Tác phẩm Qumran được gọi là 4Q264a dường như mở rộng sự cấm đoán này:

“Chớ ai tính toán [bằng miệng] [để theo đuổi việc riêng trong ngày Sa-bát. Người ấy chớ nói] về bất cứ việc gì hay công việc hay tài sản hay [mua] [bán hay đi lại] trong ngày hôm sau. Người ấy chỉ được [nói] những lời về [sự thánh] như thường lệ và có thể [nói] để chúc tụng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, người ta có thể nói [về những điều] liên quan đến ăn uống […], [… và liên quan đến bất cứ] sự vui thích nào trong ngày Sa-bát […].”

Lập trường pháp lý được bảo tồn một cách sơ sài trong văn bản này gợi ý rằng bất cứ cuộc trò chuyện nào không liên quan đến sự vui thích của ngày Sa-bát đều là sự vi phạm tính thánh khiết của ngày ấy. Do đó, bất cứ ai giữ lập trường này sẽ xem cuộc bàn luận rùng rợn của người Pha-ri-si và phe Hê-rốt là trái luật. Dựa trên những lập luận trong các chương trước, thật đáng chú ý rằng Mác và Ma-thi-ơ (nhưng không phải Lu-ca) mô tả người Pha-ri-si và phe Hê-rốt dùng thời gian thánh để lập mưu tạo ra sự ô uế bởi xác chết. Câu chuyện của Mác nhằm chứng minh rằng chính người Pha-ri-si và phe Hê-rốt đã phá ngày Sa-bát và qua đó làm gia tăng sự ô uế nghi lễ.

Khác với người Pha-ri-si và phe Hê-rốt trong câu chuyện này, “Chúa Giê-xu thực sự chẳng làm gì cả. Ngài chỉ ban hai mệnh lệnh ngắn gọn, đơn giản cho người bị bệnh.” Những lời Chúa Giê-xu phán, trái ngược với lời của người Pha-ri-si và phe Hê-rốt, liên quan đến sự vui thích của ngày Sa-bát. Chắc chắn cả người bị bệnh lẫn những người có mặt trong nhà hội đều vui mừng vì bàn tay được chữa lành. Nhưng trái với câu chuyện này, ở nơi khác Chúa Giê-xu đã chữa lành người khác bằng sự chạm trong ngày Sa-bát (chẳng hạn Mác 1:31; Giăng 9:14).

Chúa Giê-xu có thể đã làm điều lành trong ngày Sa-bát khi chữa lành người ấy, nhưng làm sao các tác giả sách Tin Lành có thể biện hộ cho hàm ý rằng Chúa Giê-xu đang cứu mạng sống trong ngày Sa-bát (Mác 3:4; so sánh Ma-thi-ơ 12:12; Lu-ca 6:9) khi Ngài chữa lành những người mắc bệnh không nguy hiểm đến tính mạng? Sau hết, một người có bàn tay teo lâu ngày thì khó có thể chết ngay vì nó. Ít nhất, Ma-thi-ơ đã điều chỉnh câu hỏi của Chúa Giê-xu cho phù hợp với hành động chữa lành: “Có hợp pháp để chữa lành trong ngày Sa-bát chăng?” (Ma-thi-ơ 12:10). Nhưng còn Mác và Lu-ca thì sao? Một phần câu trả lời có thể được tìm thấy trong tư tưởng Do Thái cổ về bệnh tật, mà Jon Levenson gợi ý rằng khác với quan niệm hiện đại về bệnh tật. Đặc biệt trong ánh sáng của những tiến bộ y học hiện đại, chúng ta nhìn nhận bệnh tật theo cách sau:

  • Sự sống -> Bệnh tật ‖ Sự chết

Nghĩa là, trong tư tưởng hiện đại có sự phân biệt rõ ràng giữa sự sống (dù khỏe mạnh hay đau yếu) và sự chết. Ngược lại, tư tưởng Do Thái cổ gắn bệnh tật gần hơn với sự chết:

  • Sự sống ‖ Bệnh tật -> Sự chết

Nếu bệnh tật gắn chặt với sự chết, thì việc chữa lành bệnh, bất kể loại nào, là một nỗ lực đưa một người vượt qua ranh giới ngăn cách sự sống với sự chết và bệnh tật. Cách suy nghĩ này cũng tạo ra một mối liên hệ khái niệm giữa nhiều phép chữa lành của Chúa Giê-xu cho những người mắc đủ loại bệnh tật và những phép chữa lành cụ thể hơn cho những người chịu tình trạng gây ra sự ô uế nghi lễ. Vì sự ô uế nghi lễ tượng trưng cho sự chết, và vì bệnh tật cũng có thể gắn với sự chết, nên tất cả những việc làm quyền năng này mô tả một Chúa Giê-xu có quyền năng trên sự chết và có thể giải phóng những người bị áp bức bởi quyền lực của sự chết.

Thêm nữa, một bàn tay teo có lẽ là một bàn tay bị liệt, và vì thế có thể được gắn với những hoạt động gây chết chóc của ma quỷ. Chẳng hạn, dù được viết muộn hơn, sách Testament of Solomon gắn sự liệt các chi thể với hoạt động hủy diệt của một quỷ tên là Sphandor. Và trong tư tưởng y học Hy-La, những phần cơ thể bị teo được xem là vô sinh khí hay chết. Một chi thể teo là một chi thể chết. Việc phục hồi chi thể ấy là chuyển một phần thân thể (và có lẽ cả thân thể) từ sự chết sang sự sống. Như trong câu chuyện Chúa Giê-xu và các môn đồ trong đồng lúa, Ma-thi-ơ bổ sung cho câu chuyện của Mác bằng cách thêm một lập luận pháp lý khác vào cuộc thảo luận:

“Nếu một người trong các ngươi có một con chiên, và nó sa xuống hố trong ngày Sa-bát, thì người ấy há chẳng nắm lấy nó mà kéo lên sao? Huống chi loài người quý trọng hơn chiên là dường nào! Vậy nên, trong ngày Sa-bát, làm điều lành là hợp pháp” (Ma-thi-ơ 12:11–12).

Trong khi Lu-ca theo sát tường thuật của Mác, ở nơi khác ông thêm một lời biện hộ pháp lý tương tự liên quan đến việc chữa lành một người mắc bệnh thủy thũng:

“Nếu một người trong các ngươi có con trai hay con bò sa xuống giếng, thì há chẳng lập tức kéo lên trong ngày Sa-bát sao?” (Lu-ca 14:5).

Về câu chuyện sau này, ít nhất một tác giả cổ, Diogenes Laertius, đã xem bệnh thủy thũng (hydrōpikos) là có thể nguy hiểm đến tính mạng vì nó đẩy nhanh cái chết của con người. Tuy nhiên, Lu-ca không nói rõ niềm tin như vậy.

Khi thêm chi tiết này vào các câu chuyện tranh luận của Mác, cả Ma-thi-ơ và Lu-ca đều cung cấp sự biện hộ pháp lý cho thói quen chữa lành trong ngày Sa-bát của Chúa Giê-xu. Lập luận của Chúa Giê-xu trong cả hai câu chuyện này giả định rằng thính giả của Ngài sẽ trả lời “có” cho câu hỏi của Ngài; quả thật, họ sẽ cứu súc vật của mình trong ngày Sa-bát. Và nếu giả định sự đồng ý này, thì huống chi người ta phải cứu mạng sống con người. Logic của lời tuyên bố tiến hành như sau:

  • Tiền đề được nêu: Sự sống của súc vật vượt trên ngày Sa-bát

  • Tiền đề giả định: Sự sống con người vượt trên sự sống súc vật

  • Kết luận: Sự sống con người vượt trên ngày Sa-bát

Nhưng một số người đã lập luận rằng giả định của Chúa Giê-xu rằng thính giả sẽ đồng ý rằng người ta nên hoặc sẽ gác lại sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát để cứu một con vật khỏi hố là vô căn cứ, vì những văn bản ít ỏi đề cập đến khả năng này lại gợi ý ngược lại. Chẳng hạn, Tài liệu Damascus khẳng định rằng:

“Chớ ai giúp một con vật sanh nở trong ngày Sa-bát; và nếu nó sa xuống giếng hay hố, chớ ai kéo nó lên trong ngày Sa-bát … Phàm người nào sống mà rơi xuống nước hay xuống một nơi […], thì chớ ai đem người ấy lên bằng thang, bằng dây, hay bằng dụng cụ.”

Tác phẩm này kết luận rằng người ta không được làm công việc nào để bảo tồn sự sống của súc vật trong ngày Sa-bát. Tác giả và những người theo quan điểm này sẽ bất đồng với tiền đề được nêu của Chúa Giê-xu trong câu chuyện. Thật ra, họ cũng nghĩ rằng việc giữ ngày Sa-bát quan trọng hơn việc bảo tồn sự sống của con người. Một văn bản liên quan, 4Q265, chứa đựng một lập trường pháp lý hơi khác:

“Chớ ai kéo một con vật lên khỏi nước trong ngày Sa-bát. Nhưng nếu một người sống rơi xuống nước trong ngày Sa-bát, thì người ta phải giơ áo mình cho người ấy để kéo lên bằng nó, nhưng chớ mang dụng cụ nào trong ngày Sa-bát.”

Ở đây, văn bản lại gợi ý rằng người ta không thể làm công việc trong ngày Sa-bát để cứu sự sống của súc vật. Tuy nhiên, trái với Tài liệu Damascus, nó đưa ra một sự nhượng bộ quan trọng liên quan đến sự sống con người: người ta có thể dùng chính áo mình đang mặc để cứu một người khác, nhưng không được về nhà lấy dụng cụ để giúp người đang gặp hoạn nạn. Vì thế, cả hai tác phẩm này đều vật lộn với việc sắp xếp thứ tự cho những khía cạnh có thể cạnh tranh của luật pháp Do Thái: nhu cầu bảo tồn sự sống và nhu cầu giữ sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát.

Chúng ta thấy một nỗ lực tương tự để ưu tiên giữa những luật cạnh tranh trong văn chương rabbi sau này. Chẳng hạn, theo Tosefta, Rabban Simeon ben Gamaliel kết luận rằng trong ngày Sa-bát người ta có thể cho súc vật ăn nếu nó sa xuống hố, nhưng không thể kéo nó lên khỏi hố cho đến khi ngày Sa-bát chấm dứt. Talmud cũng lưu giữ một lời nói được gán cho Rav vào thế kỷ thứ ba:

“Nếu một con vật sa xuống mương, người ta đem gối và nệm đặt dưới nó, và nếu nó lên được thì nó lên. Có người phản đối: Nếu một con vật sa xuống mương, thì người ta chỉ chuẩn bị thức ăn cho nó tại chỗ để nó khỏi chết. Vậy thì chỉ thức ăn, chứ không phải gối và nệm sao? — Không khó hiểu: ở đây là khi có thể chuẩn bị thức ăn; còn kia là khi không thể. Nếu có thể chuẩn bị thức ăn thì tốt; nhưng nếu không, người ta đem gối và nệm đặt dưới nó. Nhưng như vậy là làm cho một dụng cụ mất sự sẵn sàng để dùng? — Sự tránh cho súc vật câm chịu khổ là luật Kinh Thánh, nên luật Kinh Thánh đến và vượt trên sự cấm đoán của các rabbi.”

Những văn bản này cho thấy người Do Thái đã tranh luận đến mức nào về việc họ có thể giảm bớt sự khổ sở của súc vật trong ngày Sa-bát. Dù các tác giả khác nhau đưa ra câu trả lời khác nhau, không ai gợi ý rằng người ta có thể kéo một con vật ra khỏi hố trong ngày Sa-bát. Có lẽ lời tuyên bố của Chúa Giê-xu phản ánh những thực hành không thuộc Qumran và không thuộc rabbi (hay không thuộc Pha-ri-si).

Người ta cũng có thể đưa ra một lập luận Kinh Thánh cho giả định của Chúa Giê-xu. Như lời cuối cùng của đoạn Talmud được trích dẫn ở trên ghi nhận, Kinh Thánh Do Thái buộc dân Y-sơ-ra-ên phải giảm bớt sự khổ sở của súc vật, ngay cả súc vật ghét chủ mình hay thuộc về kẻ thù mình (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:5; Phục-truyền Luật-lệ Ký 22:4). Vậy điều gì xảy ra khi luật này và luật ngày Sa-bát xung đột? Hãy nhớ lại lời của chính trị gia và luật sư La Mã Cicero:

“Người ta phải so sánh các luật bằng cách xét xem luật nào liên quan đến những vấn đề quan trọng nhất, tức là điều cần thiết, đáng tôn trọng hay hữu ích nhất. Kết luận từ đó là nếu hai luật (hay nhiều hơn) không thể cùng được giữ vì chúng mâu thuẫn, thì luật có liên quan đến vấn đề lớn nhất sẽ có quyền ưu tiên để được giữ.”

Thêm nữa, luật ngày Sa-bát rõ ràng buộc dân Y-sơ-ra-ên phải cho súc vật nhà mình nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát. Người ta có thể lập luận rằng một con vật sa xuống hố thì không thể hưởng sự nghỉ ngơi của ngày Sa-bát mà Đức Chúa Trời đã định cho nó, vì nó sẽ khổ sở, liên tục tìm cách thoát khỏi tình trạng ấy. Nếu người ta phải cho súc vật nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát, thì có thể cần phải cứu nó khỏi sự khổ sở và nguy hại. Logic này có thể đã nâng đỡ niềm tin của Chúa Giê-xu rằng nhiều người nghe Ngài sẽ thấy việc cứu súc vật trong ngày Sa-bát là điều không gây tranh cãi.

Thêm nữa, các rabbi cũng nhấn mạnh rằng người ta có thể làm bất cứ điều gì cần thiết trong ngày Sa-bát để cứu mạng sống của một người. Chẳng hạn, nếu ai thấy một đứa trẻ rơi xuống biển, người ta có thể dùng lưới để kéo nó lên an toàn. Nếu ai thấy một đứa trẻ bị kẹt sau cửa đóng, người ta có thể mở cửa để cho nó ra (dù mạng sống nó không bị nguy hiểm). Và họ kết luận rằng nếu ai thấy một đứa trẻ rơi xuống hố, người ta có thể bẻ đất để giúp nó ra ngoài — một sự song song gần gũi với lời của Chúa Giê-xu. Và nếu một tòa nhà sụp đổ trong ngày Sa-bát, người ta có thể đào bới để cứu một người còn sống.

Sau này, sách Numbers Rabbah khẳng định rằng nếu dân ngoại hay kẻ trộm đuổi theo một người trong ngày Sa-bát, thì người ấy có thể tục hóa ngày Sa-bát để cứu mạng sống mình. Nếu những lập trường pháp lý như vậy đã tồn tại trong thế kỷ thứ nhất, và chắc chắn là có, vì văn chương Qumran cho thấy sự tồn tại của lập trường này bằng cách bất đồng với nó, thì các tác giả sách Tin Lành đã cho thấy cách mà sự biện hộ pháp lý của Chúa Giê-xu trùng khớp với một số lập luận của những người đồng thời với Ngài.

5. SÁCH TIN LÀNH GIĂNG VÀ NHỮNG PHÉP CHỮA LÀNH TRONG NGÀY SA-BÁT CỦA CHÚA GIÊ-XU
#

Những tranh luận về ngày Sa-bát cũng xuất hiện trong sách Tin Lành Giăng và cho thấy Giăng muốn mô tả hành động của Chúa Giê-xu là phù hợp với việc giữ ngày Sa-bát. Nhưng Chúa Giê-xu trong sách Giăng đưa ra một lập luận pháp lý khác để biện hộ cho hành động của Ngài trong ngày Sa-bát. Sau khi bị chỉ trích vì chữa lành trong ngày Sa-bát, Chúa Giê-xu phán:

“Nếu một người chịu phép cắt bì trong ngày Sa-bát để luật pháp Môi-se khỏi bị phạm, thì sao các ngươi giận ta vì ta đã chữa lành trọn thân thể một người trong ngày Sa-bát?” (Giăng 7:23).

Chúa Giê-xu dựa trên thực tế rằng phép cắt bì, vì có điều khoản thời gian rằng nó phải được thực hiện vào ngày thứ tám sau khi sinh (Sáng-thế Ký 17:12, 14; Lê-vi Ký 12:3), nên có ưu tiên hơn ngày Sa-bát. Công việc cắt bì, vì thế, khiến cho việc “phá” luật ngày Sa-bát trở nên hợp pháp. Đây không phải là một lập luận mới; chúng ta thấy cùng một lập trường pháp lý này được lưu giữ nhiều lần trong văn chương rabbi sau này. Chẳng hạn, Mishnah nói: “Mọi điều cần thiết cho việc cắt bì đều được làm trong ngày Sa-bát.” Như Rabbi Yosé vào thế kỷ thứ hai đã nói: “Lớn lao thay phép cắt bì, vì nó vượt trên ngày Sa-bát.”

Dựa trên lập trường pháp lý này, các rabbi đã suy rộng từ luật cắt bì để bàn đến việc bổn phận pháp lý phải cứu mạng sống vượt trên việc giữ ngày Sa-bát. Đây là lập luận của Rabbi Eliezer, người sống vào khoảng thế kỷ thứ nhất và thứ hai:

“Về phép cắt bì, vì nó khiến người ta vượt trên những điều cấm của ngày Sa-bát, tại sao lại như vậy? Ấy là vì người ta sẽ bị truất bỏ [so sánh Sáng-thế Ký 17:14] nếu không làm đúng thời giờ. Vậy thì, điều này đưa đến một lập luận theo lẽ thường: Nếu vì một chi thể duy nhất của con người [tức là dương vật], người ta vượt trên những điều cấm của ngày Sa-bát, thì há chẳng hợp lý rằng người ta phải vượt trên những điều cấm của ngày Sa-bát vì sự cứu cả thân thể sao?”

Các rabbi thường khẳng định rằng phép cắt bì đem lại sự toàn vẹn cho thân thể. Họ dựa trên Sáng-thế Ký 17:1, nơi Đức Chúa Trời gọi Áp-ram hãy bước đi trước mặt Ngài và được trọn vẹn (tiếng Hê-bơ-rơ: tamim). Chẳng hạn, theo Mishnah, Rabbi Meir vào thế kỷ thứ hai đã dạy:

“Lớn lao thay phép cắt bì, vì mặc dù Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, đã làm mọi điều răn, ông chỉ được gọi là trọn vẹn [shalom] khi ông tự cắt bì mình, như có chép rằng: Hãy bước đi trước mặt ta và được trọn vẹn [tamim].”

Vậy thì, lập luận pháp lý mà cả Chúa Giê-xu và Rabbi Eliezer ben Azariah đưa ra được triển khai như sau:

  • Tiền đề: Phép cắt bì vượt trên ngày Sa-bát

  • Tiền đề mở rộng: Sự cứu mạng sống vượt trên ngày Sa-bát

Kết luận: Chữa lành trọn thân thể trong ngày Sa-bát là hợp pháp.

  • Tiền đề 1: Phép cắt bì vượt trên việc giữ ngày Sa-bát

  • Chứng cứ: Sáng-thế Ký 17:12–14 và Lê-vi Ký 12:3, vốn buộc phép cắt bì phải được thực hiện vào ngày thứ tám sau khi sinh.

  • Tiền đề 2: Phép cắt bì chữa dương vật khỏi một khuyết điểm (bao quy đầu)

  • Chứng cứ: Sáng-thế Ký 17:1 nói rằng phép cắt bì khiến một người được trọn vẹn.

  • Tiền đề 3: Cả thân thể vượt trên một chi thể (dương vật)

Kết luận: Làm cho cả thân thể được trọn vẹn vượt trên việc giữ ngày Sa-bát

Một lần nữa, lập luận của Chúa Giê-xu tiến hành theo cách pháp lý. Không có sự chối bỏ ngày Sa-bát ở đây; đúng hơn, Chúa Giê-xu trong sách Giăng tham gia vào cuộc tranh luận về việc sắp xếp các luật sao cho công bằng với những điều trọng yếu nhất của luật pháp trước tiên.

6. NGÀY SA-BÁT THÁNH: TỪ Ô UẾ SANG SỰ TINH SẠCH VÀ THÁNH KHIẾT
#

Như các tác giả sách Tin Lành mô tả, hành động của Chúa Giê-xu và lý do Ngài hành động trong ngày Sa-bát nằm trong dòng tư tưởng Do Thái nhấn mạnh sự ưu tiên của sự sống con người (người ta có thể gọi đây là sự nhấn mạnh về thương xót/bố thí) hơn là việc giữ ngày Sa-bát. Do đó, Lutz Doering đã kết luận đúng rằng:

“Chúa Giê-xu đã lấy một nguyên tắc được nhiều người Do Thái đương thời chia sẻ (rằng việc cứu mạng sống đặt ngày Sa-bát sang một bên) làm điểm khởi đầu và mở rộng sự áp dụng của nó (Mác 3:4). Sự bất đồng về vấn đề pháp lý này vì thế phải được xem là về ‘những điểm tinh tế’ của luật pháp, chứ không phải là sự đối đầu thẳng thừng hay sự bãi bỏ.”

Nếu, như Jacob Milgrom đã lập luận, sự thánh khiết tượng trưng cho sự sống, và sự ô uế tượng trưng cho sự chết trong thế giới quan của các thầy tế lễ, thì khi Chúa Giê-xu cất đi bệnh tật (dù có gây ra sự ô uế nghi lễ hay không), Ngài đang thực hiện việc chuyển người ta từ cõi chết sang cõi sống. Thật vậy, ở nơi khác Chúa Giê-xu trong sách Lu-ca liên kết công việc ngày Sa-bát của Ngài với sự giải cứu khỏi kẻ cầm quyền của những pneumata ô uế — tức Sa-tan — khi Ngài hỏi những kẻ chỉ trích rằng một người đàn bà Do Thái có nên được giải phóng trong ngày Sa-bát khỏi sự trói buộc của Sa-tan, vốn khiến bà đau yếu (Lu-ca 13:16; so sánh Công-vụ các Sứ-đồ 10:38). Với Lu-ca, không có thời điểm nào tốt hơn ngày Sa-bát để chữa lành và giải phóng khỏi sự ô uế và áp bức của ma quỷ. Trong những phép chữa lành của Ngài, Chúa Giê-xu cứu người và phục hồi họ vào sự trọn vẹn của sự sống trong thời gian thánh, tức ngày Sa-bát.

7. KẾT LUẬN
#

Tất cả những câu chuyện tranh luận về ngày Sa-bát này đều mô tả Chúa Giê-xu đáp lại những lời chỉ trích về hành động của Ngài trong ngày Sa-bát bằng những lập luận pháp lý vốn quen thuộc và về lý thuyết có thể được chấp nhận bởi những người khác. Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành là một Chúa Giê-xu tìm cách giữ luật pháp Do Thái và đưa ra sự biện hộ pháp lý cho hành động của Ngài dựa trên luật pháp Do Thái. Người ta có thể bất đồng với một số khía cạnh của những lập luận này, dù là tiền đề hay kết luận, nhưng không bất đồng với loại lập luận mà Ngài đưa ra. Do đó, những mô tả này cho thấy các tác giả sách Tin Lành mong muốn trình bày Chúa Giê-xu theo cách chứng minh, ít nhất trong suy nghĩ của họ, rằng Ngài đã giữ luật pháp cách đúng đắn. Trọng tâm của bất cứ việc giữ luật nào (luật Do Thái hay luật khác) là nhu cầu phải sắp xếp đúng thứ tự các quy định tạo nên một hệ thống luật, để khi hai luật dường như mâu thuẫn, người ta biết luật nào có ưu tiên hơn. Theo Chúa Giê-xu trong các sách Tin Lành và nhiều rabbi, sự sống con người có ưu tiên hơn ngày Sa-bát. Từ lập trường pháp lý này, Chúa Giê-xu kết luận rằng việc chữa lành là một công việc hợp pháp trong ngày Sa-bát. Những hành động như vậy có thể được biện hộ về mặt pháp lý, như Marcus lập luận:

“Đối với Chúa Giê-xu trong sách Mác, cuộc chiến lai thế học đã bùng nổ, và trên chiến trường ấy mọi hành động của con người hoặc là một đòn giáng vào sự sống, hoặc là một đòn giáng vào sự chết; vùng đất trung dung thận trọng, nơi người ta có thể chần chờ vài phút trước khi làm điều lành, đã biến mất. Và nếu Chúa Giê-xu là ‘Đấng Thánh của Đức Chúa Trời,’ mà sự thánh khiết của Ngài hàm ý sự hủy diệt tận thế của ma quỷ và bệnh tật (so sánh Mác 1:24), thì việc Ngài chữa lành người teo tay trong ngày Sa-bát là sự ứng nghiệm chứ không phải sự vi phạm điều răn ‘Hãy nhớ ngày Sa-bát để giữ nó làm ngày thánh.’”

Tôi kết thúc chương này bằng một câu chuyện trong truyền thống rabbi đã được nhắc đến ở trên. Theo Tosefta, trường phái Shammai kết luận rằng người ta không được cầu nguyện cho người bệnh hay thăm viếng người bệnh trong ngày Sa-bát. Lập trường pháp lý này có thể khiến một số độc giả thấy vô nhân đạo, nhưng trường phái này tin chắc rằng công việc như vậy phá ngày Sa-bát, vì ngày Sa-bát phải là ngày vui mừng, trong khi việc cầu nguyện cho hay thăm viếng người bệnh không góp phần vào sự vui mừng.

Ý tưởng rằng ngày Sa-bát là một ngày lễ hội đến từ Ê-sai 58:13, nơi gọi nó là ngày “khoái lạc” (Bản LXX: tryphera), một từ gợi nhớ đến vườn Ê-đen, vì Sáng-thế Ký 3:23–24 LXX gọi Ê-đen là vườn khoái lạc (tryphē). Tương tự, Ê-xê-chi-ên có nhắc đến vườn Ê-đen trong nguyên ngữ tiếng Hê-bơ-rơ (Ê-xê-chi-ên 28:13; 31:9), nhưng người dịch LXX đã dịch là “vườn khoái lạc” (ho paradeisos tēs tryphēs). Philo gọi ngày lễ là biểu tượng của niềm vui của linh hồn, sử dụng một thuật ngữ bao gồm và có lẽ ám chỉ cụ thể đến ngày Sa-bát - một ngày thích hợp để cảm tạ Đức Chúa Trời. Ở nơi khác ông nói rằng người Do Thái giữ ngày Sa-bát cách vui vẻ và bình an.

Sự hiểu biết này về ngày Sa-bát cũng ngầm thể hiện qua lệnh cấm kiêng ăn trong ngày Sa-bát được ghi chép rộng rãi tại Qumran, trong sách Jubilees, và trong văn chương rabbi sau này. Mặc dù không phải là lệnh cấm kiêng ăn rõ ràng, sách Judith mô tả nhân vật chính kiêng ăn trong suốt mọi ngày góa bụa của bà, ngoại trừ ngày trước Sa-bát, chính ngày Sa-bát, và những ngày lễ, vì đó là những ngày vui mừng (Judith 8:6). Và theo Pesiqta Rabbati, một thiên sứ của Đức Chúa Trời gọi người ta ra khỏi Sheol để họ có thể vui hưởng ngày Sa-bát. Bất cứ công việc nào lấy đi niềm vui của ngày Sa-bát đều phải là công việc bị cấm.

Có lẽ điều này giải thích một lý do tại sao các tác giả sách Tin Lành mô tả Ma-ri Ma-đơ-len, Ma-ri mẹ Gia-cơ, và Sa-lô-mê đến mộ để xức dầu cho xác của Chúa Giê-xu chỉ sau khi ngày Sa-bát đã kết thúc (Mác 16:1; Ma-thi-ơ 28:1; Lu-ca 23:56 [Lu-ca nói rõ rằng họ đã nghỉ ngơi theo điều răn]). Một hành động trang trọng như vậy không phù hợp cho ngày vui mừng là ngày Sa-bát. Tương tự, Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ bảo những người đang nghe Ngài rằng hãy cầu nguyện để ngày hoạn nạn không xảy ra trong ngày Sa-bát, có lẽ vì ngày đó sẽ là một thời điểm bất hạnh của việc chạy trốn để bảo toàn mạng sống chứ không phải là một ngày vui mừng (Ma-thi-ơ 24:20).

Nếu cảm nhận này thực sự là một nguyên tắc pháp lý để đánh giá điều gì được phép làm trong ngày Sa-bát, thì người giữ lập trường ấy sẽ nhìn nhận hành động của Chúa Giê-xu thế nào? Nói đơn giản, hành động chữa lành bệnh tật của Chúa Giê-xu hoàn toàn khác với việc thăm viếng người bệnh, chính vì những việc Ngài làm thực sự gia tăng niềm vui. Ngài không chỉ thăm người bệnh; đúng hơn, Ngài chữa lành và phục hồi họ, khiến họ được trọn vẹn trở lại. Ngài đã đưa họ từ cõi chết sang cõi sống.

Thật vậy, dù phải thận trọng khi dùng văn chương muộn hơn, chúng ta thấy các tác giả sau này đã xây dựng trên ý tưởng rằng ngày Sa-bát là một ngày vui mừng, và cho rằng nó thực sự là sự nếm trước Thế Giới Đời Sau. Chẳng hạn, trong Life of Adam and Eve bằng tiếng La-tinh, thiên sứ trưởng Mi-ca-ên bảo Seth đừng than khóc sự chết của Ê-va quá sáu ngày:

“Người của Đức Chúa Trời, chớ kéo dài sự than khóc người chết quá sáu ngày, vì ngày thứ bảy là dấu hiệu của sự sống lại, sự nghỉ ngơi của đời sau, và trong ngày thứ bảy Đức Chúa Trời đã nghỉ khỏi mọi công việc Ngài.”

Tương tự, Mishnah nhắc đến Thi-thiên 92, vốn có tiêu đề kêu gọi hát trong ngày Sa-bát, và diễn đạt lại tiêu đề ấy: “Trong ngày Sa-bát, họ hát một thi thiên, một bài ca cho ngày Sa-bát — một thi thiên, một bài ca cho đời sau, vốn là sự nghỉ ngơi Sa-bát trọn vẹn cho sự sống đời đời.” Vào cuối thế kỷ thứ ba, Rabbi Ḥanina ben Isaac cũng vang vọng lời này: “Ngày Sa-bát là hình thức chưa trọn vẹn của đời sau.” Và Talmud lưu giữ lời nhận xét vô danh rằng ngày Sa-bát là một phần nhỏ (chính xác là một phần sáu mươi) của đời sau.

Những mối liên hệ giữa ngày Sa-bát và đời sau này hoàn toàn trùng khớp với những lời tuyên bố thường xuyên của Chúa Giê-xu rằng vương quốc Đức Chúa Trời đã xâm nhập vào thế giới này. Với các tác giả sách Tin Lành, Đấng Thánh của Đức Chúa Trời đã đến trong thế giới và đang đem đến sự sống, sự trọn vẹn, sự tinh sạch, và sự thánh khiết vốn cấu thành vương quốc Đức Chúa Trời. Nếu Mác, Ma-thi-ơ, và Lu-ca đúng khi nói rằng vương quốc Đức Chúa Trời đã đến trong Chúa Giê-xu, thì còn thời điểm nào tốt hơn để Chúa Giê-xu chữa lành hơn là hiện tại, đặc biệt trong ngày Sa-bát, vì nó là sự nếm trước tất cả những gì vương quốc sẽ đem đến?

CHÚA GIÊ-XU VÀ CÁC THẾ LỰC CỦA SỰ CHẾT