“Người ta nói Ta là ai?” – Mác 8:27
“Gia đình Ngài đi ra để bắt Ngài, vì người ta nói rằng: ‘Ngài mất trí rồi!’” – Mác 3:21
“Các thầy thông giáo từ thành Giê-ru-sa-lem nói rằng: ‘Ngài bị quỷ Beelzebul ám, và bởi vua quỷ mà Ngài đuổi quỷ.’” – Mác 3:22
“Phi-e-rơ thưa cùng Chúa Giê-xu rằng: ‘Thầy là Đấng Christ!’” – Mác 8:29
Trong một cuộc bàn luận rộng hơn về trại hội mạc nơi đồng vắng, Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se rằng:
“Truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải đuổi ra khỏi trại mọi kẻ phung, mọi kẻ mắc chứng ra dịch nơi chỗ kín, và mọi kẻ ô uế vì xác chết — dù nam hay nữ cũng phải đuổi ra ngoài, để chúng không làm ô uế trại của chúng, là nơi Ta ngự giữa chúng” (Dân-số Ký 5:2–3).
Sách Mác mô tả Chúa Giê-xu gặp những kẻ ô uế theo đúng thứ tự được chép trong Dân-số ký 5. Trong Mác 1:40–45, Ngài gặp một người mắc bệnh phung; trong Mác 5:25–34, Chúa Giê-xu gặp một người đàn bà bị chứng ra huyết bất thường; và trong Mác 5:35–43, Ngài gặp xác chết của một bé gái. Trong mỗi trường hợp, người ô uế đều rời khỏi sự hiện diện của Chúa Giê-xu trong tình trạng được thanh sạch khỏi nguồn ô uế của mình. Không phải là sự tình cờ khi Mác thuật lại những câu chuyện về ba loại ô uế này; theo tư tưởng rabbi về sau, người phung (lepra), người đàn bà ra huyết bất thường, và xác chết là những nguồn ô uế mạnh mẽ nhất:
“Người đàn bà ra huyết bất thường [zavah] ô uế hơn người đàn ông tiết dịch sinh dục bất thường [và danh sách mười lăm nguồn gây ô uế nghi lễ nhỏ hơn khác]… Người phung [lepros] ô uế hơn người đàn bà ra huyết bất thường [zavah] … Một mảnh xương nhỏ bằng hột lúa mạch ô uế hơn người phung … Sự ô uế của xác chết mạnh hơn hết thảy.”
Điều Mác (và sau đó là Ma-thi-ơ và Lu-ca) muốn truyền đạt cho độc giả là Chúa Giê-xu, Đấng Thánh của Đức Chúa Trời, là nguồn thánh khiết đầy quyền năng đến nỗi ngay cả ba nguồn ô uế mạnh nhất cũng không thể chống lại Ngài. Các thế lực quỷ dữ gieo rắc ô uế trên đất cũng không thể đứng vững.
Câu chuyện trong sách Mác cho thấy độc giả phải hiểu rằng Chúa Giê-xu đang thực hiện một sứ mạng thanh tẩy trên diện rộng. Mác mô tả Chúa Giê-xu như một quyền năng di động, loại bỏ những nguồn ô uế cứng cỏi nhất mà Ngài gặp. Chúa Giê-xu không chỉ loại bỏ nguồn ô uế nghi lễ, mà còn loại bỏ ô uế đạo đức, tức là tội lỗi, khi Ngài công khai tha tội cho người bại liệt (Mác 2:4). Trong một loạt câu chuyện tranh luận, Mác thuật lại việc Chúa Giê-xu chữa lành người bại liệt. Sau khi bạn hữu của người ấy dỡ mái nhà và thả ông xuống trước mặt Chúa Giê-xu, Ngài phán cùng ông rằng: “Tội lỗi ngươi đã được tha” (2:5). Trước lời phán kỳ diệu ấy, có mấy thầy thông giáo liền hỏi: “Sao người này lại nói như vậy?” (2:7). Họ cáo buộc Ngài phạm thượng, rằng: “Ngoài một mình Đức Chúa Trời, ai có quyền tha tội?”
Câu chuyện của Mác cho thấy Chúa Giê-xu quan tâm đến việc loại bỏ ô uế đạo đức của con người cũng như nguồn ô uế nghi lễ. Nhưng khác với việc chữa lành người phung, câu hỏi đặt ra là liệu Chúa Giê-xu có đủ quyền năng để loại bỏ ô uế đạo đức hay không. Mác 1:40–45 chứng minh Ngài có thể và sẵn lòng chữa lành bệnh phung, và câu chuyện này chứng minh Ngài sẵn lòng loại bỏ ô uế đạo đức. Nhưng các thầy thông giáo nhấn mạnh rằng chỉ có Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên mới đủ quyền năng để tha tội.
Phản ứng của Chúa Giê-xu, rằng dễ hơn để nói với người ta rằng tội lỗi họ đã được tha hơn là bảo họ đứng dậy đi, không hoàn toàn thỏa đáng. Người ta không thể chứng minh ngay lời tuyên bố tha tội, trong khi có thể chứng minh ngay quyền năng chữa lành người bại liệt. Chính vì thiếu bằng chứng, người ta không thể chắc chắn rằng Chúa Giê-xu có thể tha tội.
Tuy nhiên, câu chuyện tập trung vào thẩm quyền của Chúa Giê-xu trong việc tha tội, gắn liền với chủ đề lớn hơn trong sách Mác về danh tính và thẩm quyền của Ngài. Ngay trong hành động công khai đầu tiên của Chúa Giê-xu trong sách Mác, đoàn dân đã kinh ngạc về thẩm quyền trong sự giảng dạy của Ngài. Thêm vào sự kinh ngạc ấy, Chúa Giê-xu đuổi một tà linh ô uế khỏi một người (Mác 1:22, 27). Nhưng liệu thẩm quyền ấy có mở rộng đến việc loại bỏ ô uế đạo đức chăng? Câu trả lời của Mác (và Ma-thi-ơ, Lu-ca) là: Có.
Trong nghiên cứu quan trọng của mình về sự ô uế theo nghi lễ và Chúa Giê-xu lịch sử, Thomas Kazen cho rằng Chúa Giê-xu nhiều lần tỏ ra lơi lỏng đối với hệ thống thanh sạch nghi lễ của người Do Thái. Nguyên nhân của sự lơi lỏng này, Kazen kết luận, là vì,
“Chúa Giê-xu thuộc về một hướng đạo đức đặt tầm quan trọng tương đối trên luân lý … vốn không cho phép các luật thanh sạch cản trở mối liên hệ xã hội, sự thông công nơi bàn ăn và cộng đồng, [bởi vì] quan điểm lai thế học của Ngài khiến sự ô uế phải phục tùng vương quốc.”
Kết luận của Kazen gợi ý rằng Chúa Giê-xu và các môn đồ Ngài nghĩ rằng sự ô uế nghi lễ đã trở nên ít quan trọng hơn trước kia, do sự vương quốc Đức Chúa Trời đã xâm nhập vào thế gian. Trái lại, tôi cho rằng sự ô uế nghi lễ vẫn giữ vai trò nền tảng đối với các tác giả Tin Lành, nhưng họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã đem đến một điều mới để đối phó với các nguồn ô uế ấy: chính là Chúa Giê-xu.
Bằng cách đưa vào thế gian một quyền năng thánh khiết di động và lan truyền mạnh mẽ trong thân vị Chúa Giê-xu, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã báo hiệu sự đến của vương quốc — một vương quốc thánh khiết và sự sống, trong suốt chức vụ của Chúa Giê-xu đã áp đảo các thế lực và nguồn ô uế cùng sự chết, dù là ô uế thuộc linh, nghi lễ, hay đạo đức. Trong toàn bộ tường thuật về đời sống Chúa Giê-xu, Mác nhiều lần mô tả Ngài chiến thắng hết nguồn ô uế này đến nguồn ô uế khác. Câu chuyện cao trào khi Chúa Giê-xu đối diện với chính sự chết trong sự chịu đóng đinh, mang lấy sự ô uế nghi lễ vào thân thể Ngài, nhưng một lần nữa và bằng cách dứt khoát, Ngài đã chiến thắng khi Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên khiến Ngài sống lại từ kẻ chết.
Các tác giả Tin Lành đã hiểu Chúa Giê-xu liên hệ thế nào với đền thờ Giê-ru-sa-lem? Nói đơn giản, họ không thấy (hoặc ít nhất không thấy cần có) sự đối nghịch giữa Chúa Giê-xu và luật pháp, hay giữa Chúa Giê-xu và đền thờ, hoặc giữa Chúa Giê-xu và các thầy tế lễ. Về căn bản, tất cả đều đứng cùng một phía trong một trận chiến — trận chiến giữa Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và các thế lực ô uế. Hơn nữa, tất cả đều được Đức Chúa Trời ban quyền năng cho trận chiến này, vì Ngài là nguồn của mọi sự thánh khiết, vốn đối nghịch tận bản thể với mọi sự ô uế.
Trong tư tưởng Do Thái, đền thờ Giê-ru-sa-lem vận hành vì Đức Chúa Trời ban quyền cho nó vận hành. Đức Chúa Trời ngự tại đó, nên chính đền thờ là thánh và cần được bảo vệ khỏi sự ô uế. Đức Chúa Trời đã lập một tầng lớp thầy tế lễ trong dân Y-sơ-ra-ên để thi hành các nghi lễ Ngài ban, nhằm loại bỏ những ô uế tích tụ trong khuôn viên đền thờ. Hơn nữa, Đức Chúa Trời cũng ban nhiều nghi lễ thanh tẩy cho dân Y-sơ-ra-ên khi thân thể họ trở nên ô uế. Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký, Dân-số Ký, và Phục-truyền Luật-lệ Ký (cùng nhiều sách khác) liên tục nhấn mạnh rằng luật pháp của Y-sơ-ra-ên đến từ chính Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Nhiều lần Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se, bảo ông truyền lại cho dân Y-sơ-ra-ên (ví dụ: Xuất Ê-díp-tô Ký 30:31; 34:32; Lê-vi Ký 1:2; 7:23, 29; 9:3; 10:11; 12:2; 15:2). Những đoạn này khẳng định rằng hệ thống hội mạc (và đền thờ) có nền tảng trong ý muốn của Đức Chúa Trời và được sinh động bởi sự hiện diện của Ngài.
Hội mạc và đền thờ là khí cụ Đức Chúa Trời ban để đối phó với sự ô uế khi nó phát sinh. Nhưng, những chức năng Đức Chúa Trời ban cho đền thờ Giê-ru-sa-lem và các thầy tế lễ phần lớn mang tính phòng thủ. Chúng có giới hạn được Đức Chúa Trời định sẵn: chúng không thể và chưa bao giờ được định để tiêu diệt chính sự chết, hay chữa lành bệnh phung, hoặc giải quyết các chứng tiết dịch sinh dục ở con người. Đền thờ không thể diệt trừ nguồn gốc của sự ô uế nghi lễ, nhưng nó có thể loại bỏ hậu quả khi nguồn ô uế ấy đã rời khỏi thân thể người.
Lời nhận xét này có thể nghe như một sự phê bình, nhưng thật ra không phải. Đúng hơn, đó là sự nhìn nhận điều mà Lê-vi Ký và Dân-số Ký khẳng định về hiệu quả của đền thờ và các nghi lễ của nó; chúng vốn được định sẵn bởi Đức Chúa Trời để có giới hạn. Hoặc có thể nói rõ hơn, giới hạn ấy nằm bên ngoài đền thờ. Con người vốn phải chết, và đất cùng mọi vật trong đó đã bị nhiễm độc bởi sự chết và tội lỗi.
Tuy nhiên, các tác giả Tin Lành Cộng Quan muốn độc giả tin rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã ban cho một quyền năng thánh khiết vào trong thế gian, quyền năng ấy tấn công trực diện vào sự ô uế — Chúa Giê-xu là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. Một quyền năng thánh khiết phát ra từ thân thể Chúa Giê-xu và có thể thắng hơn mọi nguồn ô uế. Ngài là hiện thân của sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được thả lỏng trên đất. Trong khi hệ thống đền thờ chỉ loại bỏ hậu quả của nguồn ô uế, thì Chúa Giê-xu trực tiếp đối diện với chính nguồn ô uế: bệnh phung được chữa lành, các chứng tiết dịch sinh dục bất thường được chữa khỏi, xác chết được sống lại, và các tà linh ô uế bị đuổi và tiêu diệt. Lê-vi Ký có thể không hình dung ra những khả năng này, nhưng Lịch sử Phục truyền (Deuteronomistic History) thì có — Ê-li-sê chữa lành bệnh phung, và cả ông lẫn Ê-li đều khiến kẻ chết sống lại.
Nehemia Polen cho rằng văn chương tế lễ hoàn toàn thỏa lòng với hệ thống như nó vốn có: “Về phần mình, sách Lê-vi vui hưởng sự lặp lại vô tận, sự đều đặn ngày qua ngày của một con chiên buổi sáng, một con chiên buổi chiều.” Dù Lê-vi Ký không bao giờ cho độc giả cảm nhận rằng một thực tại khác là có thể hay đáng mong muốn, tôi tin rằng không chính xác nếu kết luận từ sự im lặng ấy rằng các tư tưởng tế lễ đằng sau nó và các văn bản khác thỏa lòng với tình trạng của một thế giới vốn cần đến việc tắm rửa và dâng tế lễ thường xuyên, những nghi lễ thường (nhưng không phải luôn luôn) gắn liền với sự ô uế nghi lễ và đạo đức. Tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng là một thầy tế lễ, và các tác phẩm của ông cho thấy người ta có thể hy vọng về một tương lai khác, trong đó Đức Chúa Trời sẽ vĩnh viễn giải quyết tình trạng tử vong và đạo đức sa đọa của dân Ngài, tạo nên một sự thay đổi tận bản thể trong họ. Hình dung về tương lai này, Ê-xê-chi-ên mô tả lời Đức Chúa Trời phán cùng Y-sơ-ra-ên:
“Ta sẽ rưới nước trong sạch trên các ngươi, thì các ngươi sẽ được sạch mọi sự ô uế, và mọi thần tượng của các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi sạch. Ta sẽ ban cho các ngươi một quả tim mới, và đặt một thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất quả tim bằng đá khỏi thân thể các ngươi, và ban cho các ngươi một quả tim bằng thịt. Ta sẽ đặt thần Ta trong các ngươi, khiến các ngươi bước đi theo luật lệ Ta, và giữ, làm theo mạng lịnh Ta” (Ê-xê-chi-ên 36:25–27).
Ê-xê-chi-ên mô tả một thời điểm khi Đức Chúa Trời sẽ tái tạo dân Y-sơ-ra-ên theo cách khiến họ tự nhiên giữ luật pháp của Ngài. Chúng ta thấy một hy vọng tương tự nơi tiên tri kiêm thầy tế lễ Giê-rê-mi:
“Nầy là giao ước Ta sẽ lập với nhà Y-sơ-ra-ên sau những ngày đó, Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ đặt luật pháp Ta vào lòng chúng nó, và ghi vào trí chúng nó. Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của chúng nó, và chúng nó sẽ làm dân Ta” (Giê-rê-mi 31:33; 38:33 LXX).
Christine Hayes đã mô tả tình trạng do Đức Chúa Trời tạo ra này một cách thích đáng như sau:
“Đối với cả hai tiên tri này, không phải luật pháp sẽ thay đổi trong tương lai thời Đấng Mê-si. Những luật lệ và quy tắc ấy vẫn tiếp tục vận hành như điều kiện cư trú cho những ai muốn sống trong đất của Đức Giê-hô-va. Điều sẽ thay đổi là bản chất con người. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ được định sẵn để vâng phục ý muốn của Đức Giê-hô-va mà không cần nỗ lực hay tranh chiến. Sự loại bỏ tự do đạo đức của con người chẳng khác gì một sự tái thiết lý tưởng về bản chất con người, trong đó những khó khăn gắn liền với việc thực thi tự do đạo đức bị loại bỏ. Với sự hiểu biết trọn vẹn về sự dạy dỗ của Đức Giê-hô-va, sự vâng phục luật pháp của Ngài trở nên tự động, một trạng thái có thể gọi là “sự công chính máy móc.”
Liên quan đến sự ô uế đạo đức, các tiên tri của Y-sơ-ra-ên bày tỏ niềm mong mỏi về một ngày khi Đức Chúa Trời sẽ căn bản thay đổi bản chất con người để nhân loại có thể, và một cách tự nhiên, sẽ giữ luật pháp của Ngài cách trọn vẹn.
Gắn liền với hy vọng này là niềm tin rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên một ngày kia cũng sẽ chiến thắng sự tử vong của loài người. Chúng ta thấy những hy vọng như vậy trong các đoạn Kinh Thánh như Ê-sai và sau đó là Đa-ni-ên. Chẳng hạn, Ê-sai đã nói tiên tri:
“Trên núi này, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ dọn cho muôn dân
một bữa tiệc đồ béo, một bữa tiệc rượu ngon,
đồ béo có tủy, rượu ngon đã lọc.
Trên núi này, Ngài sẽ tiêu diệt
cái màn che phủ muôn dân,
cái khăn trùm trên muôn nước;
Ngài sẽ vĩnh viễn nuốt sự chết.
Đức Giê-hô-va sẽ lau ráo nước mắt trên mọi mặt,
Ngài sẽ cất sự sỉ nhục của dân Ngài khỏi khắp đất,
vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy.” (Ê-sai 25:6–8)
Niềm hy vọng này ngụ ý rằng sự ô uế nghi lễ vốn gắn liền với thân phận hay chết của con người sẽ một ngày kia sẽ chấm dứt, khiến các luật thanh sạch nghi lễ trở nên không cần thiết nữa. Các văn bản rabbi về sau liên kết lời hứa về một tương lai không còn sự chết này với thời kỳ Đấng Mê-si:
“Trong tương lai Đấng Mê-si sẽ không còn sự chết nữa; như có chép [trong Ê-sai 25:8].”
Như Ê-sai sau này khẳng định, tương lai không còn sự chết này chính là sự sống lại từ cõi chết:
“Kẻ chết ngươi sẽ sống, xác chúng nó sẽ sống lại.
Hỡi những kẻ ở trong bụi đất, hãy tỉnh dậy và hát mừng!
Vì sương ngươi là sương sáng láng,
và đất sẽ sanh ra những kẻ chết lâu ngày.” (Ê-sai 26:19)
Sách Thi-thiên cũng dường như hình dung một thời điểm khi Đức Chúa Trời sẽ ban sự sống vô tận cho loài người:
“Người cầu xin sự sống nơi Ngài; Ngài đã ban cho người —
ngày dài lâu mãi mãi vô cùng.”” (Thi thiên 21:4)
Tương tự,
“Bởi cớ đó, lòng tôi vui mừng, linh hồn tôi khoái lạc;
thân tôi cũng sẽ an nghỉ vững vàng.
Vì Ngài sẽ không bỏ tôi nơi âm phủ,
cũng không để kẻ nhân từ Ngài thấy sự hư nát.” (Thi-thiên 16:9–10)
Sau cùng, vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên, sách Đa-ni-ên cũng chứa đựng niềm hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng sự chết:
“Nhiều kẻ ngủ trong bụi đất sẽ thức dậy, kẻ thì được sống đời đời, kẻ thì bị hổ thẹn và khinh bỉ đời đời. Những kẻ khôn ngoan sẽ sáng chói như sự sáng của bầu trời, và những kẻ dẫn nhiều người đến sự công bình sẽ sáng như các ngôi sao đời đời vô cùng” (Đa-ni-ên 12:2–3).
Tất cả những đoạn Kinh Thánh này, cùng với nhiều văn bản khác trong thời kỳ Đền Thờ Thứ Hai, đều làm chứng cho sự quan tâm ngày càng lớn và niềm hy vọng về sự sống sau cái chết — một sự sống được đặc trưng bởi sự bất tử. Những văn bản này hình dung một tương lai khi Đức Chúa Trời sẽ khiến các luật lệ liên quan đến sự thanh sạch nghi lễ trở nên không còn cần thiết, bằng cách “viết lại” DNA của con người, nói một cách hình tượng. Một khi loài người trở nên bất tử, họ sẽ không còn có thể bị rơi vào tình trạng ô uế nghi lễ nữa: họ không còn bị đánh dấu bởi tính dục, không còn dễ mắc bệnh, cũng không còn phải chết.
Một số độc giả có thể muốn gọi tư tưởng này là “thuyết thay thế” (supersessionism), nhưng tôi nghĩ thuật ngữ này chưa đủ sức phản ánh mức độ phổ biến của niềm hy vọng trong Do Thái giáo sơ khai về một hình thức sự sống bất tử nào đó sẽ đến. Nếu trong một thời điểm tương lai, con người không còn phải chết, không còn bệnh tật, và không còn cần (hay thậm chí có thể) sinh sản, thì các luật liên quan đến sự ô uế nghi lễ không bị bãi bỏ, mà chỉ trở nên không còn ý nghĩa nữa.
Những người theo Đấng Christ thời ban đầu không khác biệt so với nhiều người Do Thái khác trong niềm hy vọng rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên sẽ hành động theo cách khiến tình trạng tử vong và đạo đức sa đọa của nhân loại một ngày kia sẽ bị thay thế. Nếu ai đó nhất quyết dùng từ “thuyết thay thế,” thì chúng ta phải nói rõ điều gì đang bị thay thế. Những người theo Đấng Christ thời ban đầu tin rằng trong Đấng Mê-si là Chúa Giê-xu, vũ trụ cũ đang bị thay thế bởi một sự sáng tạo mới, trong đó Sa-tan và các quỷ dữ, sự chết, và tội lỗi — tức là sự ô uế thuộc linh, nghi lễ, và đạo đức — sẽ không còn tồn tại nữa.
Các tác giả Tin Lành khác biệt với những người Do Thái cùng thời ở chỗ họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đã khởi sự trận chiến cuối cùng với sự chết, và thực ra đã giáng cho nó một vết thương chí tử trong thân vị Chúa Giê-xu. Chúa Giê-xu trong sách Mác tóm gọn sứ mạng của Ngài bằng những lời sau: “Kỳ đã mãn, nước Đức Chúa Trời gần rồi; hãy ăn năn và tin đạo Tin Lành” (Mác 1:15).
Sách Ma-thi-ơ mô tả cả Giăng và Chúa Giê-xu đều rao giảng về sự đến của nước thiên đàng (Ma-thi-ơ 3:2; 4:17), và ông liên kết sự rao giảng này với các phép chữa lành của Chúa Giê-xu, chính vì cõi trời không thể dung chứa những ô uế nghi lễ và bệnh tật gắn liền với tình trạng tử vong của loài người (4:23; 9:35; 10:7–8). Hơn nữa, Chúa Giê-xu trong sách Ma-thi-ơ tuyên bố rằng chính việc Ngài đuổi quỷ (các tà linh ô uế) bởi Thần Linh (thánh) của Đức Chúa Trời chứng minh rằng nước thiên đàng đã đến trên những người nghe Ngài (12:28).
Lu-ca cũng liên kết sự rao giảng nước Đức Chúa Trời của Chúa Giê-xu với các phép chữa lành và sự đuổi quỷ (Lu-ca 4:40–44; 8:1–3; 9:2, 11; 10:9; 11:20). Mỗi mô tả về Chúa Giê-xu đều cho thấy Ngài liên tục tiếp xúc với những người ô uế và phá hủy điều khiến họ bị ô uế. Và mỗi cuộc gặp gỡ ấy đều là sự nếm trước điều mà các tác giả tin rằng Chúa Giê-xu cuối cùng sẽ ban cho những ai theo Ngài: sự tiêu diệt mọi thế lực ô uế qua món quà sự sống đời đời (Mác 10:30; Ma-thi-ơ 19:29; 25:46; Lu-ca 18:30; so sánh Giăng 3:15, v.v.).
Các tác giả Tin Lành mô tả Chúa Giê-xu trước hết phá hủy những ô uế mà Ngài gặp, rồi ban cho các môn đồ quyền năng và thẩm quyền để làm như Ngài, và sau đó chính Ngài bước vào nguồn gốc của mọi sự ô uế: sự chết. Dù các sách Tin Lành không bàn nhiều về điều đã xảy ra trong sự chết của Chúa Giê-xu, Ma-thi-ơ mô tả kết quả của sự đóng đinh Ngài như một quyền năng thánh khiết ban sự sống khiến kẻ chết sống lại, như tôi đã ghi nhận trong chương 6. Còn Lu-ca nhấn mạnh trong sách Công-vụ rằng sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu đã gây ra sự hủy diệt chính sự chết. Trong lời công bố công khai đầu tiên, sau khi các môn đồ nhận được Thánh Linh, Phi-e-rơ nói với dân chúng ở thành Giê-ru-sa-lem:
“Chúa Giê-xu ở Na-xa-rét, là người được Đức Chúa Trời đã làm chứng cho các ngươi bằng những phép lạ, sự lạ, và dấu kỳ mà Đức Chúa Trời đã thực hiện giữa các ngươi, như chính các ngươi đều biết; Ngài đã bị nộp theo ý định và sự biết trước của Đức Chúa Trời, các ngươi đã đóng đinh Ngài và giết đi bởi tay của những kẻ vô luật pháp. Nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại, giải thoát Ngài khỏi xiềng xích của sự chết, vì không thể nào sự chết giữ Ngài lại được." (Công-vụ 2:22–24).
Đây là những lời tuyên bố táo bạo, nhất là vì vào thời điểm Lu-ca viết sách Công-vụ, những người theo Đấng Christ đã thấy rõ rằng sự chết và tội lỗi vẫn còn có quyền trên đất. Để mượn lời một người theo Đấng Christ khác, sự chết chưa phải là “không còn nữa” (Khải-huyền 21:4), vì các sứ đồ vẫn tiếp tục đối diện với sự chết và ma quỷ trong suốt câu chuyện của sách Công-vụ. Ngay cả sau khi Chúa Giê-xu đã chiến thắng các thế lực ô uế và cuối cùng là sự chết trên thập tự giá, sự chết vẫn còn tồn tại. Nếu Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên thật sự hành động trong Chúa Giê-xu để giết chết sự chết, thì tại sao sự chết lại dường như vẫn đầy sức sống?
Nói đơn giản, nếu các tác giả sách Tin Lành Cộng Quan sai trong sự mô tả về Chúa Giê-xu, thì đi theo Ngài chẳng những là bất kính mà còn là tự sát. Nhưng nếu họ đúng, nếu Chúa Giê-xu là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời, là quyền năng thánh khiết phá hủy các thế lực của sự chết vốn sinh ra sự ô uế nghi lễ, thì đi theo Ngài chính là bước đi trong đường lối thánh khiết và sự sống.