Skip to main content

Chương 02: Sự Tể Trị của Đức Chúa Trời và Trách Nhiệm của Con Người

Author
Tommy Phan (MDiv., ThM., PhD.)
Inspiring the Next Generations to Love the Living Word of God

Mục tiêu của chúng ta trong chương này là suy nghĩ thấu đáo về bản chất của nhiệm vụ truyền giảng của Cơ Đốc nhân, dựa trên tiền đề đã được đồng thuận rằng Đức Chúa Trời là Đấng chủ tể trong sự cứu rỗi. Giờ đây, ngay từ đầu, chúng ta cần nhận ra rằng đây không phải là một nhiệm vụ dễ dàng. Mọi chủ đề thần học đều chứa đựng những cạm bẫy cho người thiếu cảnh giác, vì lẽ thật của Đức Chúa Trời không bao giờ hoàn toàn giống như điều con người mong đợi; và chủ đề hiện tại của chúng ta thậm chí còn hiểm hóc hơn phần lớn các chủ đề khác. Điều này là vì khi suy xét vấn đề, chúng ta phải đối diện với một nghịch lý trong sự khải thị của Kinh Thánh, và trong bối cảnh như vậy, tâm trí hữu hạn và sa ngã của chúng ta rất dễ lạc hướng một cách đặc biệt.

1- NGHỊCH LÝ GIỮA QUYỀN TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CON NGƯỜI
#

Một Nghịch Lý Là Gì?
#

The Shorter Oxford English Dictionary định nghĩa nghịch lý (antinomy) là “một mâu thuẫn giữa những kết luận có vẻ đều hợp lý, hợp lẽ hoặc cần thiết.” Tuy nhiên, đối với mục đích của chúng ta, định nghĩa này chưa thật chính xác; những từ mở đầu nên là “một điều gì đó có vẻ như là mâu thuẫn.” Vì toàn bộ điểm cốt lõi của một nghịch lý - ít nhất là trong thần học - là nó không phải là một mâu thuẫn thực sự, dù bề ngoài có vẻ là như vậy. Đó là sự không tương thích rõ ràng giữa hai chân lý rõ ràng.

Một nghịch lý tồn tại khi hai nguyên tắc đứng cạnh nhau, có vẻ không thể hòa giải, nhưng đều không thể chối bỏ. Có những lý do thuyết phục để tin vào từng nguyên tắc; mỗi nguyên tắc dựa trên bằng chứng rõ ràng và vững chắc; nhưng điều bí ẩn là bạn không hiểu được làm thế nào để chúng có thể hòa hợp với nhau. Bạn thấy rằng mỗi nguyên tắc tự nó phải là chân lý, nhưng bạn không thấy cách nào để cả hai có thể đều là đúng cùng một lúc.

Hãy để tôi đưa ra một ví dụ: ngành vật lý hiện đại đang đối mặt với một nghịch lý như vậy trong việc nghiên cứu ánh sáng. Có bằng chứng thuyết phục cho thấy ánh sáng gồm có sóng (wave), và cũng có bằng chứng thuyết phục cho thấy ánh sáng gồm có hạt (particle). Không rõ làm thế nào ánh sáng vừa có thể là sóng vừa có thể là hạt, nhưng bằng chứng thì tồn tại; vì vậy, không thể bác bỏ quan điểm này để nghiêng về quan điểm kia. Tuy nhiên, cũng không thể đơn giản hóa hoặc giải thích quan điểm này bằng quan điểm kia; hai lập trường tưởng như không thể hòa giải phải được giữ nguyên, và cả hai phải được xem là đúng. Sự cần thiết phải làm như vậy hẳn khiến đầu óc gọn gàng của chúng ta bị sốc, nhưng chẳng còn cách nào khác nếu chúng ta muốn trung thành với các sự kiện.

Vì vậy, có vẻ như một “nghịch lý” (antinomy) không giống với một “nghịch ngữ” (paradox).

Nghịch ngữ là một hình thức tu từ, một trò chơi ngôn ngữ. Đó là một cách diễn đạt tưởng như kết hợp hai ý tưởng trái ngược nhau, hoặc phủ nhận điều gì đó ngay trong chính cách khẳng định nó. Nhiều chân lý về đời sống Cơ Đốc có thể được diễn đạt dưới dạng nghịch ngữ. Ví dụ, một bài cầu nguyện trong Book of Common Prayer tuyên bố rằng “những người hầu việc Đức Chúa Trời là những người có sự tự do hoàn hảo”: đó là, con người được tự do khi trở nên đầy tớ. Phao-lô nêu ra nhiều nghịch ngữ trong chính kinh nghiệm Cơ Đốc của ông: “buồn rầu mà luôn vui mừng; nghèo khó mà khiến nhiều người trở nên giàu có; không có gì mà lại sở hữu mọi sự”; “khi tôi yếu đuối, thì tôi mới mạnh mẽ” (2 Cô-rinh-tô 6:10; 12:10). Tuy nhiên, điểm cốt yếu của một nghịch ngữ là điều tạo ra vẻ mâu thuẫn không phải là sự kiện thực tế, mà là cách diễn đạt. Mâu thuẫn mang tính ngôn từ, chứ không phải thực tế, và chỉ cần một chút suy nghĩ là có thể loại bỏ nó, để diễn đạt cùng một ý tưởng theo cách không nghịch ngữ. Nói cách khác, nghịch ngữ luôn có thể bỏ qua.

Hãy xem những ví dụ mà tôi đã trích dẫn. Book of Common Prayer có thể đã nói rằng những người hầu việc Đức Chúa Trời thì được tự do khỏi ách thống trị của tội lỗi. Trong 2 Cô-rinh-tô 6:10, Phao-lô có thể đã nói rằng nỗi buồn vì hoàn cảnh và niềm vui trong Chúa luôn đan xen trong kinh nghiệm của ông; và rằng dù ông không sở hữu tài sản hay có số dư tài khoản, thì vẫn có một ý nghĩa trong đó mọi thứ thuộc về ông - bởi ông thuộc về Chúa Giê-xu, và Chúa Giê-xu là Chúa của muôn vật. Tương tự, trong 2 Cô-rinh-tô 12:10, ông có thể đã nói rằng Đức Chúa Trời ban sức mạnh cho ông nhiều nhất khi ông ý thức rõ nhất về sự yếu đuối tự nhiên của bản thân. Các hình thức diễn đạt xuôi (không có nghịch ngữ) khiến câu văn trở nên vụng về và nhàm chán hơn so với khi các nghịch ngữ được sử dụng, nhưng cả hai cách đều diễn đạt chính xác cùng một ý nghĩa. Bởi vì nghịch ngữ chỉ đơn thuần là cách vận dụng từ ngữ; việc sử dụng nghịch ngữ là một thủ pháp ngôn từ gây chú ý, nhưng nó không ám chỉ ngay cả vẻ bề ngoài của sự mâu thuẫn trong các sự kiện đang được mô tả.

Cũng cần lưu ý rằng một nghịch ngữ (paradox) thì luôn có thể hiểu được. Người nói hoặc người viết đưa ý tưởng của mình vào hình thức nghịch ngữ để giúp chúng trở nên dễ nhớ và khơi gợi sự suy gẫm. Nhưng người tiếp nhận phải có khả năng, qua suy ngẫm, nhận ra cách tháo gỡ nghịch ngữ đó, nếu không thì nó sẽ có vẻ như là một mâu thuẫn thật sự và do đó trở nên vô nghĩa. Một nghịch ngữ không thể hiểu được thì không thể phân biệt với một sự mâu thuẫn đơn thuần về mặt ngôn từ. Do vậy, một nghịch ngữ thuần túy sẽ bị xem như là điều vô nghĩa thuần túy.

Ngược lại, một nghịch lý (antinomy) thì vừa không thể loại bỏ, vừa không thể hiểu được. Nó không phải là một hình thức tu từ, mà là mối liên hệ được quan sát giữa hai phát biểu thực tế. Nó không được cố ý tạo ra; mà bị các sự kiện chính nó áp đặt lên chúng ta. Nó là điều không thể tránh khỏi, và không thể giải quyết. Chúng ta không phát minh ra nó, và cũng không thể giải thích nó. Không có cách nào để loại bỏ nó, trừ khi chúng ta làm sai lệch chính các sự kiện đã dẫn chúng ta đến với nó.

Vậy thì người ta phải làm gì với một nghịch lý (antinomy)? Hãy chấp nhận nó đúng như bản chất của nó, và học cách sống chung với nó. Hãy từ chối xem sự không nhất quán tưởng như đang tồn tại là điều thật sự. Hãy quy sự xuất hiện của mâu thuẫn đó cho giới hạn trong sự hiểu biết của chính bạn. Và hãy nghĩ về hai nguyên lý ấy, không phải như những lựa chọn đối nghịch, mà là - theo một cách mà hiện tại bạn chưa nắm bắt được - bổ trợ cho nhau. Vì thế, hãy cẩn trọng, đừng đặt chúng đối đầu nhau, cũng đừng rút ra những suy luận từ nguyên lý này mà làm tổn hại đến nguyên lý kia (những suy luận như vậy chắc chắn sẽ không vững chắc). Hãy sử dụng mỗi nguyên lý trong phạm vi tham chiếu riêng của nó (tức là trong khu vực được giới hạn bởi bằng chứng mà từ đó nguyên lý xuất phát). Hãy lưu ý đến những mối liên kết tồn tại giữa hai chân lý và hai hệ tham chiếu của chúng, và hãy tự rèn luyện cách tư duy về thực tại theo một cách cho phép sự chung sống hòa bình của cả hai nguyên lý - vì thực tại chính nó đã chứng tỏ rằng cả hai thực sự cùng tồn tại trong đó. Đây là cách đúng đắn để xử lý các nghịch lý, dù là trong tự nhiên hay trong Kinh Thánh. Theo sự hiểu biết của tôi, đây cũng là cách vật lý hiện đại giải quyết vấn đề về ánh sáng; và cũng chính là cách mà Cơ Đốc nhân phải đối diện với những nghịch lý trong giáo lý Kinh Thánh.

Quyền Tể Trị của Đức Chúa Trời và Trách Nhiệm của Con Người
#

Nghịch lý cụ thể mà chúng ta đang xét đến ở đây là sự đối lập rõ ràng giữa quyền tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người, hoặc (nói theo ngôn ngữ của Kinh Thánh hơn) giữa điều Đức Chúa Trời hành động với tư cách là Vua và điều Ngài thi hành với tư cách là Thẩm Phán. Kinh Thánh dạy rằng, với tư cách là Vua, Đức Chúa Trời sắp đặt và kiểm soát mọi sự — kể cả hành động của con người — theo mục đích đời đời của Ngài (xem Sáng thế ký 14:8; 50:20; Châm ngôn 16:9; 21:1; Ma-thi-ơ 10:29; Công vụ các Sứ đồ 9:27-28; Rô-ma 9:20-21; Ê-phê-sô 1:11, v.v.). Kinh Thánh cũng dạy rằng, với tư cách là Thẩm Phán, Đức Chúa Trời buộc mỗi người phải chịu trách nhiệm về các lựa chọn của mình và con đường họ theo đuổi (xem Ma-thi-ơ 25; Rô-ma 2:1-16; Khải huyền 20:11-13, v.v.).

Vì vậy, những người nghe Phúc Âm phải chịu trách nhiệm về sự đáp ứng của họ; nếu họ từ chối Tin Lành, thì họ mắc tội không tin. “Ai không tin thì đã bị lên án rồi, vì không tin vào danh của Con Một Đức Chúa Trời” (Giăng 3:18; so với Ma-thi-ơ 11:20-24; Công vụ 13:38-41; 2 Tê-sa-lô-ni-ca 1:7-10, v.v.). Một lần nữa, Phao-lô - người được giao phó Phúc Âm - có trách nhiệm rao giảng; nếu ông chểnh mảng trong sứ mạng ấy, ông sẽ bị phạt vì sự bất trung. “Sự cần thiết buộc tôi phải giảng Tin Lành. Khốn cho tôi nếu tôi không giảng Tin Lành!” (1 Cô-rinh-tô 9:16; so với Ê-xê-chi-ên 3:17tt; 33:7tt).

Quyền tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người đều được dạy dỗ đồng thời trong Kinh Thánh - thậm chí, có khi trong cùng một đoạn văn. Cả hai đều được đảm bảo bởi thẩm quyền thiên thượng giống nhau; vì thế, cả hai đều là chân lý. Do đó, chúng ta phải nắm giữ cả hai điều này và không được sử dụng cái này để phủ nhận cái kia. Con người là một tác nhân đạo đức có trách nhiệm, mặc dù vẫn chịu sự kiểm soát thiên thượng; con người bị kiểm soát bởi Đức Chúa Trời, nhưng cũng là tác nhân đạo đức có trách nhiệm. Quyền tể trị của Đức Chúa Trời là một thực tại. Trách nhiệm của con người cũng là một thực tại. Đây chính là nghịch lý được mặc khải, là nền tảng cho việc suy nghĩ đúng đắn về công tác truyền giảng.

Tâm trí hữu hạn của chúng ta, dĩ nhiên, không thể nào hiểu thấu được điều này. Nó nghe như một sự mâu thuẫn, và phản ứng đầu tiên của chúng ta thường là cho rằng điều ấy thật vô lý. Sứ đồ Phao-lô đã ghi nhận sự phản đối này trong Rô-ma 9: “Vậy ngươi sẽ hỏi ta: ‘Tại sao Ngài còn trách móc? Vì ai có thể chống lại ý muốn Ngài?’” (Rô-ma 9:19). Nếu Đức Chúa Trời, là Chúa chúng ta, định đoạt mọi hành động của chúng ta, thì làm sao lại có thể hợp lý và công bình khi Ngài cũng xét xử chúng ta như một Thẩm Phán, và kết án những thiếu sót của chúng ta?

Hãy để ý cách Phao-lô đáp lại. Ông không cố gắng biện minh cho sự công chính trong hành động của Đức Chúa Trời; thay vào đó, ông khiển trách thái độ của câu hỏi ấy: “Hỡi người kia, ngươi là ai mà dám cãi lại Đức Chúa Trời?” Người phản đối cần nhận biết rằng mình là tạo vật, là tội nhân, và không có bất kỳ quyền gì để trách cứ những phương cách được Đức Chúa Trời bày tỏ. Tạo vật không có quyền than phiền về Đấng Tạo Hóa của mình. Như Phao-lô tiếp tục luận giải, quyền tể trị của Đức Chúa Trời là hoàn toàn công chính, bởi vì quyền định đoạt tạo vật của Ngài là tuyệt đối (Rô-ma 9:20–21). Trước đó trong thư, ông đã chứng minh rằng sự đoán xét của Đức Chúa Trời trên tội nhân cũng hoàn toàn công chính, vì tội lỗi của chúng ta hoàn toàn xứng đáng với hình phạt của Ngài (Rô-ma 1:18tt, 32; 2:1–16).

Phần của chúng ta, theo lời Phao-lô, là nhận biết những lẽ thật này, và tôn kính sự công chính của Đức Chúa Trời - cả với tư cách là Vua lẫn là Thẩm Phán. Chúng ta không nên suy luận làm sao quyền tể trị công chính của Ngài có thể hòa hợp với sự phán xét công chính của Ngài, và tuyệt đối không được nghi ngờ sự công chính của bất kỳ phương diện nào, chỉ vì chúng ta thấy mối liên hệ giữa hai điều ấy quá khó hiểu! Những suy luận của chúng ta không phải là thước đo cho Đức Chúa Trời. Đấng Tạo Hóa đã phán rằng Ngài vừa là Chúa có quyền tể trị, vừa là Thẩm Phán công chính — và đó phải là điều đủ cho chúng ta. Tại sao chúng ta ngần ngại tin vào lời Ngài? Chúng ta chẳng thể nào tín nhiệm lời phán của Ngài hay sao?

Dù sao đi nữa, chúng ta không nên ngạc nhiên khi bắt gặp những điều mầu nhiệm như thế trong Lời của Đức Chúa Trời. Bởi vì Đấng Tạo Hóa là không thể dò xét được bởi những tạo vật của Ngài. Một Đức Chúa Trời mà chúng ta có thể hiểu hết thảy, và sự bày tỏ của Ngài không đưa đến bất kỳ điều mầu nhiệm nào, thì đó sẽ chỉ là một Đức Chúa Trời được dựng nên theo hình ảnh của loài người - một Đức Chúa Trời của sự tưởng tượng, chứ hoàn toàn không phải là Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh. Bởi vì điều Đức Chúa Trời của Kinh Thánh phán rằng:

“Tư tưởng Ta chẳng phải là tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi chẳng phải là đường lối Ta, Đức Giê-hô-va phán vậy. Vì trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi bấy nhiêu, và tư tưởng Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu” (Ê-sai 55:8–9).

Nghịch lý mà chúng ta đang đối diện chỉ là một trong nhiều nghịch lý mà Kinh Thánh chứa đựng. Chúng ta có thể tin chắc rằng tất cả đều được hòa giải trong sự hiểu biết và ý định của Đức Chúa Trời - và chúng ta có thể hy vọng rằng khi ở trên thiên đàng, chính mình sẽ hiểu được chúng. Nhưng trong khi còn sống trên thế gian này, sự khôn ngoan của chúng ta là giữ cả hai lẽ thật có vẻ mâu thuẫn ấy cách mạnh mẽ như nhau, liên kết chúng lại theo cách mà Kinh Thánh đã trình bày, và nhận biết rằng đây chính là một điều mầu nhiệm mà chúng ta không thể mong chờ giải quyết được ở đời này.

2- QUYỀN TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CON NGƯỜI TRONG TRUYỀN GIÁO
#

Nói thì dễ, nhưng thực hành thì chẳng dễ chút nào. Vì tâm trí của chúng ta vốn không thích các nghịch lý. Chúng ta muốn gói gọn mọi điều vào những “hộp tư duy” gọn gàng, loại bỏ hết vẻ mầu nhiệm và không để sót lại chi tiết nào chưa được lý giải. Do đó, chúng ta thường bị cám dỗ tìm cách loại bỏ nghịch lý khỏi tâm trí bằng những phương pháp không chính đáng: bỏ qua hoặc loại bỏ một chân lý nào đó, nhân danh việc bảo vệ chân lý kia, nhằm làm cho thần học trông có vẻ dễ hiểu hơn. Trường hợp đang xét ở đây cũng như vậy. Chúng ta dễ bị cám dỗ làm tổn hại một chân lý bằng cách nhấn mạnh chân lý kia: khẳng định trách nhiệm của con người theo cách loại bỏ sự quyền tể trị của Đức Chúa Trời, hoặc quả quyết về sự quyền tể trị của Đức Chúa Trời theo cách khiến cho trách nhiệm của con người không còn giá trị. Cả hai lỗi này đều cần phải cảnh giác và tránh xa. Vì thế, đáng để chúng ta suy ngẫm về cách mà những cám dỗ này thường xuất hiện, đặc biệt là khi liên hệ đến công tác truyền giảng.

Trước hết, có một cám dỗ liên quan đến việc tập trung một cách độc đoán vào trách nhiệm của con người. Như chúng ta đã thấy, trách nhiệm của con người là một thực tế - một thực tế rất nghiêm trọng. Trách nhiệm của con người đối với Đấng Tạo Hóa chính là yếu tố nền tảng của đời sống, và không bao giờ có thể xem nhẹ. Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta là những tác nhân đạo đức có trách nhiệm, và Ngài sẽ không xem chúng ta là điều gì kém hơn thế. Lời của Ngài được phán với từng người một, và mỗi chúng ta đều chịu trách nhiệm về cách mình đáp ứng - về sự chú ý hoặc lơ là, về sự tin hoặc không tin, về sự vâng lời hoặc chống nghịch. Chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm về đáp ứng của mình đối với sự bày tỏ của Đức Chúa Trời. Chúng ta đang sống dưới luật pháp của Ngài. Chúng ta sẽ phải trả lời với Ngài về chính cuộc đời của mình.

Con người không có Chúa Giê-xu là một tội nhân có tội, phải trả lời trước Đức Chúa Trời vì đã vi phạm luật pháp Ngài. Đó là lý do tại sao con người cần đến Tin Lành. Khi nghe Tin Lành, người ấy phải chịu trách nhiệm về quyết định mà mình đưa ra liên quan đến điều ấy. Tin Lành đặt trước mặt người ấy một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết - sự chọn lựa trọng đại nhất mà bất kỳ ai có thể đối diện trong đời. Khi chúng ta trình bày Tin Lành cho một người chưa được biến đổi, rất có thể - dù không nhận thức đầy đủ - người ấy sẽ tìm cách tự làm mờ đi tính nghiêm trọng của vấn đề, và từ đó biện minh cho thái độ thờ ơ với sứ điệp ấy. Khi đó, chúng ta cần dùng mọi phương tiện hợp pháp trong khả năng của mình để giúp người ấy nhận thấy sự nghiêm trọng của quyết định đang đối diện, và khẩn thiết khuyên người ấy đừng xem nhẹ một điều hệ trọng như thế bằng thái độ thiếu trách nhiệm. Khi chúng ta rao giảng những lời hứa và lời mời gọi từ Tin Lành, và khi chúng ta giới thiệu Chúa Giê-xu cho những người nam và nữ đang sống trong tội lỗi, thì một phần trong trách nhiệm của chúng ta là phải nhấn mạnh - và lặp lại cách rõ ràng - rằng họ phải chịu trách nhiệm trước Đức Chúa Trời về cách họ đáp ứng với tin mừng về ân điển của Ngài. Nhấn mạnh về điều này không bao giờ là một điều dư thừa trong công tác truyền giảng Tin lành.

Tương tự như vậy, chính chúng ta cũng có trách nhiệm trong việc rao truyền Tin Lành. Mệnh lệnh của Chúa Giê-xu dành cho các môn đồ rằng: “Hãy đi và khiến muôn dân trở nên môn đồ” (Ma-thi-ơ 28:19), được ban cho họ trong tư cách là đại diện - đây là mạng lệnh của Đấng Christ, không chỉ dành cho các sứ đồ mà là dành cho toàn thể Hội Thánh. Truyền giảng là trách nhiệm không thể chuyển nhượng của mỗi cộng đồng Cơ Đốc, và của từng Cơ Đốc nhân. Tất cả chúng ta đều được truyền lệnh phải dâng hiến đời sống mình cho việc rao truyền tin mừng, và phải vận dụng tất cả sự sáng tạo và nỗ lực để đưa sứ điệp ấy đến với toàn thế giới. Vì vậy, người tin Chúa phải thường xuyên xét lại lương tâm mình, tự hỏi liệu mình đã làm hết sức trong lĩnh vực này hay chưa, bởi đây cũng là một trách nhiệm mà chúng ta không thể làm ngơ hay từ chối.

Vì vậy, cần phải xem trọng một cách hết sức nghiêm túc tư tưởng về trách nhiệm của con người - điều ảnh hưởng cả người rao giảng lẫn người nghe Tin Lành. Nhưng chúng ta không được để điều ấy khiến tư tưởng về quyền tể trị của Đức Chúa Trời bị lãng quên. Dẫu rằng chúng ta phải luôn ghi nhớ rằng việc rao giảng sự cứu rỗi là trách nhiệm của mình, thì chúng ta cũng không bao giờ được quên rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi. Chính Ngài đem những người nam và nữ đến với tiếng gọi của Tin Lành, và chính Ngài khiến họ tin vào Chúa Giê-xu. Công tác truyền giảng của chúng ta là khí cụ mà Ngài sử dụng cho mục đích ấy - nhưng quyền năng cứu rỗi không nằm trong khí cụ đó, mà nằm trong tay Đấng sử dụng khí cụ. Chúng ta không được quên lẽ thật này ở bất kỳ giai đoạn truyền giáo nào.

Vì nếu chúng ta quên rằng chỉ Đức Chúa Trời mới có quyền định kết quả khi Tin Lành được rao giảng, thì chúng ta sẽ bắt đầu nghĩ rằng việc đạt được kết quả là trách nhiệm của mình. Và nếu chúng ta quên rằng chỉ có Đức Chúa Trời mới ban đức tin, thì chúng ta sẽ nghĩ rằng việc dẫn dắt người tin Chúa - xét cho cùng - không phụ thuộc vào Đức Chúa Trời nữa, mà lệ thuộc vào chúng ta, và rằng yếu tố quyết định nằm ở cách chúng ta truyền giảng. Và nếu cứ tiếp tục suy nghĩ theo chiều hướng đó, chúng ta sẽ đi lạc rất xa.

Chúng ta hãy suy xét kỹ điều này. Nếu chúng ta xem nhiệm vụ của mình không chỉ đơn thuần là giới thiệu Chúa Giê-xu, mà là phải sản sinh ra người tin Chúa - nghĩa là không những truyền giảng một cách trung tín mà còn phải thành công - thì cách tiếp cận của chúng ta với truyền giáo sẽ trở nên thực dụng và tính toán. Chúng ta sẽ đi đến kết luận rằng những trang bị cơ bản của mình, cả trong sự tiếp xúc cá nhân lẫn khi rao giảng công khai, phải có hai yếu tố: không những phải nắm vững ý nghĩa và sự áp dụng của Tin Lành, mà còn phải sở hữu một kỹ thuật “khó cưỡng” để khiến người nghe đáp ứng. Vì vậy, chúng ta sẽ xem việc phát triển kỹ thuật ấy như là một nhiệm vụ ưu tiên. Chúng ta sẽ đánh giá mọi hoạt động truyền giảng - cả của mình và của người khác - không chỉ dựa trên nội dung được rao giảng, mà còn dựa trên kết quả rõ ràng bên ngoài. Nếu nỗ lực của mình không sinh kết quả, chúng ta sẽ cho rằng kỹ thuật vẫn cần được cải tiến. Nếu có kết quả, chúng ta sẽ xem đó là sự xác nhận cho phương pháp mà mình đã sử dụng. Chúng ta sẽ xem việc truyền giáo như một cuộc chiến ý chí giữa mình và người mà ta đang cố gắng tiếp cận - một cuộc chiến mà thắng lợi tùy thuộc vào việc ta “khai hỏa” đủ mạnh mẽ bằng hàng loạt những hiệu ứng được tính toán kỹ lưỡng. Và như thế, triết lý truyền giáo của chúng ta sẽ trở nên đáng sợ khi ngày càng giống với triết lý tẩy não. Khi có người khẳng định rằng sự tương đồng “tẩy não” này là thực tế, chúng ta sẽ không còn có thể phản bác rằng đó không phải là một quan niệm đúng về truyền giáo. Vì quả thật đó sẽ là một lập luận đúng - dù nguy hiểm - về truyền giáo, nếu việc sản sinh ra người tin Chúa là trách nhiệm của chúng ta.

Điều này cho thấy nguy cơ một khi chúng ta quên đi những hệ quả thực tiễn của sự tể trị của Đức Chúa Trời. Chúng ta hoàn toàn đúng khi công nhận trách nhiệm của mình trong việc tích cực truyền giảng Tin Lành. Chúng ta hoàn toàn đúng khi ao ước thấy những người chưa tin được biến đổi. Chúng ta hoàn toàn đúng khi mong muốn cách trình bày Tin Lành phải thật rõ ràng và đầy sức thuyết phục. Nếu chúng ta lại thích việc có ít người tin Chúa, và không quan tâm liệu sứ điệp về Chúa Giê-xu có chạm đến lòng người hay không, thì rõ ràng trong lòng chúng ta có điều gì đó không ổn.

Nhưng điều không đúng chính là khi chúng ta tự gánh lấy vai trò vượt ngoài điều Đức Chúa Trời giao phó cho chúng ta. Điều không đúng là khi chúng ta xem việc khiến người ta tin Chúa là trách nhiệm của mình, và dựa vào những nỗ lực, kỹ thuật của bản thân để đạt được điều mà chỉ Đức Chúa Trời mới có thể làm thành. Làm như vậy là chúng ta đã tự xen vào công tác của Đức Thánh Linh, và tự nâng mình lên như những “tác nhân của sự tái sinh”.

Điều mà chúng ta cần phải hiểu rõ là: chỉ khi để sự nhận biết về quyền tể trị của Đức Chúa Trời chi phối cách chúng ta hoạch định, cầu nguyện, và phục vụ, thì chúng ta mới có thể tránh khỏi sai lầm này. Vì nơi nào chúng ta không dựa vào Đức Chúa Trời cách có ý thức, thì nơi đó chúng ta chắc chắn sẽ dựa vào chính mình. Và tinh thần tự lực chính là điều phá hoại công tác truyền giảng. Nhưng thật ra, đó lại là hậu quả không thể tránh khỏi khi người ta quên mất quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi linh hồn. Song cũng có một cám dỗ ngược lại đang đe dọa chúng ta: tức là cám dỗ chỉ quan tâm đến quyền tể trị thiên thượng mà quên mất trách nhiệm của con người.

Có những tín hữu mà tâm trí của họ luôn bị chi phối bởi tư tưởng về sự tể trị của Đức Chúa Trời. Lẽ thật ấy mang một ý nghĩa vô cùng sâu sắc đối với họ. Có thể nó đến với họ một cách đột ngột, như một sự mặc khải mạnh mẽ phi thường. Họ sẽ nói rằng điều ấy đã gây ra một cuộc “cách mạng Copernicus” thật sự trong thế giới quan của mình - nó đã đặt một trọng tâm mới cho toàn hệ thống vũ trụ cá nhân của họ.

Trước kia, như họ hiện nay nhận thấy, con người từng là trung tâm trong thế giới của họ, còn Đức Chúa Trời chỉ ở bên rìa. Họ từng nghĩ về Ngài như một khán giả của những gì diễn ra trong thế giới, chứ không phải là tác giả của chúng. Họ từng cho rằng yếu tố kiểm soát trong mọi tình huống là cách con người xử lý, thay vì là kế hoạch của Đức Chúa Trời. Và họ từng xem hạnh phúc của con người là điều quan trọng và thú vị nhất trong thế giới tạo vật - cả đối với Đức Chúa Trời lẫn chính họ.

Nhưng giờ đây, họ thấy rõ rằng cái nhìn lấy con người làm trung tâm ấy là tội lỗi và trái với Kinh Thánh. Họ nhận ra rằng, từ một góc độ nào đó, mục đích toàn bộ của Kinh Thánh là để phá bỏ cách nhìn ấy - và rằng những sách như Phục truyền Luật lệ ký, Ê-sai, sách Phúc Âm Giăng và thư Rô-ma đã “đập tan” hệ thống suy nghĩ đó cả họ trong hầu hết mọi chương. Họ hiểu rằng từ nay về sau, Đức Chúa Trời phải là trung tâm trong tư tưởng và mối quan tâm của họ - cũng như Ngài vốn đã là trung tâm trong thực tại của thế giới Ngài. Giờ đây, họ cảm nhận sức mạnh của lời tuyên bố nổi tiếng trong Câu hỏi thứ nhất của Giáo lý ngắn Westminster: “Mục đích tối thượng của con người là tôn vinh Đức Chúa Trời, và tận hưởng Ngài đời đời.” Giờ họ thấy rằng cách để tìm được niềm vui mà Đức Chúa Trời hứa ban không phải là tìm kiếm nó như một mục tiêu tối thượng, mà là quên đi chính mình trong việc mỗi ngày chuyên tâm theo đuổi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, làm theo ý muốn Ngài, và kinh nghiệm quyền năng Ngài giữa mọi thăng trầm, thử thách trong đời sống. Họ nhận thấy rằng chính sự vinh hiển và ngợi khen Đức Chúa Trời phải là điều cuốn hút họ từ nay, trong thì giờ và trong cõi đời đời. Họ nhận ra rằng mục đích của sự tồn tại của họ là để bằng cả tấm lòng và cuộc đời mà thờ phượng và tôn cao Đức Chúa Trời. Vì vậy, trong mọi hoàn cảnh, câu hỏi duy nhất của họ là: Điều gì sẽ đem lại vinh hiển lớn nhất cho Đức Chúa Trời? Tôi nên làm gì để trong hoàn cảnh này, Đức Chúa Trời được tôn cao?

Và khi họ đặt ra câu hỏi ấy, họ nhận ra rằng - dù Đức Chúa Trời có sử dụng con người như công cụ để thực thi ý muốn Ngài - thì rốt cuộc, không điều gì thực sự phụ thuộc vào con người; mà mọi điều đều phụ thuộc vào Đức Chúa Trời, là Đấng khiến con người đứng lên để thi hành ý chỉ của Ngài. Họ cũng thấy rằng Đức Chúa Trời xử lý mọi tình huống ngay cả trước khi các đầy tớ Ngài bước vào - và Ngài tiếp tục hành động trong đó, thực hiện ý muốn Ngài qua từng việc họ làm: cả qua lỗi lầm và thất bại, không kém gì qua những thành công cá nhân. Họ nhận ra rằng mình không bao giờ cần phải lo sợ cho “hòm giao ước của Đức Chúa Trời” như U-xa từng lo lắng; bởi chính Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ chương trình của Ngài. Họ thấy rằng mình không nên lặp lại sai lầm của U-xa - là tự gánh quá nhiều trách nhiệm và làm công việc của Đức Chúa Trời một cách không đúng đắn, chỉ vì sợ rằng nếu không làm như vậy thì chương trình của Ngài sẽ không được thực hiện (2 Sa-mu-ên 6:6–7). Họ nhận ra rằng bởi Đức Chúa Trời luôn kiểm soát, thì họ không cần phải sợ việc giới hạn chính mình theo phương thức mà Ngài đã chỉ định sẽ khiến Ngài “chịu thiệt hại”. Họ thấy rằng bất kỳ giả định nào khác đều là sự phủ nhận sự khôn ngoan và quyền tể trị của Đức Chúa Trời - hoặc là cả hai.

Họ cũng thấy rằng tín hữu không được phép, dù chỉ một giây phút, tưởng rằng mình là không thể thay thế đối với Đức Chúa Trời - hoặc hành xử như thể mình là như vậy. Đức Chúa Trời, Đấng đã sai phái họ và vui lòng cộng tác với họ, hoàn toàn có thể làm thành công việc của Ngài mà không cần đến họ. Tín hữu phải sẵn sàng dâng hiến đời sống mình cho các công việc mà Đức Chúa Trời giao phó; nhưng không được bao giờ tưởng rằng nếu Đức Chúa Trời đặt họ sang một bên và dùng người khác thì Hội Thánh sẽ bị thiệt hại không thể bù đắp. Họ không được nghĩ rằng: “Chương trình của Đức Chúa Trời sẽ sụp đổ nếu thiếu tôi và công việc tôi đang làm” - bởi điều đó không bao giờ đúng. Không bao giờ có chuyện Đức Chúa Trời bị lúng túng vì thiếu bạn và tôi. Những người bắt đầu thấu hiểu quyền tể trị của Đức Chúa Trời sẽ nhìn thấy tất cả những điều ấy. Vì vậy, họ tìm cách tự xóa mình khỏi ánh hào quang trong mọi công việc phục vụ Đức Chúa Trời. Bằng cách đó, họ thể hiện một chứng cứ thực tiễn cho niềm tin rằng Đức Chúa Trời là vĩ đại và đang trị vì - bằng việc cố gắng trở nên nhỏ bé, và hành động theo cách thể hiện rằng những kết quả trong mục vụ Cơ Đốc của họ hoàn toàn phụ thuộc nơi Đức Chúa Trời, chứ không phải nơi bản thân. Và đến điểm này, họ đã đi đúng hướng.

Tuy nhiên, họ lại đối diện với đúng kiểu cám dỗ ngược lại so với điều đã được đề cập trước đó. Trong sự sốt sắng nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời bằng cách công nhận quyền tể trị của Ngài trong ân điển, và bằng việc từ chối nghĩ rằng sự hầu việc Chúa của bản thân là không thể thiếu đối với Ngài, họ bị cám dỗ dẫn đến việc đánh mất tầm nhìn về trách nhiệm của Hội Thánh trong việc truyền giảng. Họ có xu hướng lý luận như sau: “Đồng ý rằng thế gian là vô đạo, nhưng chắc chắn rằng nếu chúng ta làm ít hơn, thì Đức Chúa Trời sẽ càng được vinh hiển hơn khi Ngài xuất hiện và khôi phục mọi sự. Điều quan trọng nhất chúng ta cần làm là đảm bảo rằng chúng ta để quyền chủ động trong tay Ngài.” Vì thế, họ bị cám dỗ nghi ngờ mọi nỗ lực trong công tác truyền giáo - bất kể là được tổ chức chính thức hay là cá nhân tự thực hiện - như thể có điều gì đó vốn mang tính tôn vinh con người không thể tránh khỏi trong mỗi nỗ lực ấy. Họ bị ám ảnh bởi nỗi sợ rằng mình sẽ “đi trước” Đức Chúa Trời, và cảm thấy không điều gì cấp thiết hơn là phải đề phòng khả năng xảy ra chuyện như thế.

Có lẽ ví dụ kinh điển nhất cho cách suy nghĩ này đã xuất hiện từ hai thế kỷ trước, tại một buổi nhóm thông công của các mục sư, nơi William Carey đưa ra đề xuất thành lập một hội truyền giáo. “Ngồi xuống đi, chàng trai trẻ,” vị trưởng lão chiến lược ấy nói, “khi Đức Chúa Trời vui lòng hoán cải dân ngoại, Ngài sẽ làm điều đó mà không cần sự giúp sức của tôi hay của anh!” Ý tưởng chủ động ra đi để tìm kiếm người thuộc mọi dân tộc cho Chúa Giê-xu đã khiến ông cảm thấy đó là điều không thích hợp - thậm chí là tự phụ.

Vậy thì, hãy suy nghĩ kỹ trước khi lên án người trưởng lão đó. Ông không phải là người hoàn toàn thiếu hiểu biết. Ít nhất, ông đã nhận ra một điều: chính Đức Chúa Trời là Đấng cứu rỗi, và Ngài cứu theo mục đích riêng của Ngài, không phải theo mệnh lệnh từ con người. Ông cũng hiểu rằng chúng ta không bao giờ được giả định rằng Đức Chúa Trời sẽ bất lực nếu không có sự giúp đỡ của chúng ta. Nói cách khác, ông đã học cách xem trọng một cách tuyệt đối quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Sai lầm của ông là không xem trọng tương xứng trách nhiệm truyền giảng của Hội Thánh. Ông đã quên rằng cách Đức Chúa Trời chọn để cứu con người là sai phái các đầy tớ Ngài ra đi công bố Tin Lành - và rằng Hội Thánh đã được giao nhiệm vụ đi khắp thế gian chính vì mục đích đó.

Nhưng đây là điều chúng ta không bao giờ được phép quên. Mệnh lệnh của Chúa Giê-xu có nghĩa là tất cả chúng ta phải dốc toàn bộ nguồn lực - cả sự khéo léo và sự nhiệt thành - để thực hiện nhiệm vụ khiến Tin Lành được biết đến bằng mọi cách có thể, cho mọi người có thể tiếp cận. Sự thờ ơ và không hành động trong việc truyền giảng vì thế không bao giờ có thể biện hộ được. Giáo lý về quyền tể trị của Đức Chúa Trời sẽ bị áp dụng sai một cách nghiêm trọng nếu chúng ta viện dẫn nó theo cách làm giảm đi sự cấp bách, tính khẩn thiết, ưu tiên, và tính bắt buộc của mạng lệnh truyền giáo. Không một lẽ thật nào đã được mặc khải có thể được sử dụng để bao che cho tội lỗi. Đức Chúa Trời không dạy chúng ta về thực tại của sự tể trị của Ngài để cho chúng ta có cớ biện minh cho việc phớt lờ những mệnh lệnh của Ngài.

Trong ngụ ngôn về các ta-lâng của Chúa chúng ta (Ma-thi-ơ 25:14-30), những đầy tớ “tốt lành và trung tín” là những người đã làm lợi cho chủ bằng cách tận dụng một cách sáng tạo và hợp pháp những gì được giao phó. Người đầy tớ đã chôn giấu ta-lâng của mình, không làm gì khác ngoài việc giữ nguyên nó, hẳn nghĩ rằng mình rất tốt và trung tín - nhưng chủ của người ấy lại gọi anh ta là “gian ác,” “biếng nhác” và “vô dụng.” Vì những gì Đấng Christ ban cho chúng ta để sử dụng thì phải được đem ra sử dụng - đơn giản cất giấu thì không đủ. Điều này có thể áp dụng vào sự quản trị của chúng ta đối với Phúc Âm. Lẽ thật về sự cứu rỗi đã được tỏ bày cho chúng ta không phải chỉ để giữ gìn (dù chắc chắn ta phải bảo tồn), mà trên hết là để truyền bá. Ánh sáng không được dùng để giấu dưới cái thùng, nhưng để soi rạng; và trách nhiệm của chúng ta là làm cho ánh sáng ấy tỏa sáng. “Các ngươi là ánh sáng của thế gian,” Chúa Giê-xu phán (Ma-thi-ơ 5:14-16). Người nào không dâng chính mình cho công cuộc truyền bá Phúc âm trong mọi cách mà mình có thể thì không thể được xem là một đầy tớ ngay lành và trung tín của Chúa Giê-xu.

Vậy là chúng ta đối mặt với hai cạm bẫy đối nghịch: như thể giữa Scylla và Charybdis của sai lầm. Mỗi cái đều là hệ quả của một cái nhìn phiến diện, tức là một sự mù quáng phần nào; và cả hai đều bộc lộ sự thất bại trong việc đối diện thẳng thắn với nghịch lý của Kinh Thánh giữa trách nhiệm của con người và quyền tể trị của Đức Chúa Trời. Cả hai đều cùng cảnh báo chúng ta không nên đặt những lẽ thật này đối đầu nhau, cũng như không để lẽ thật này làm lu mờ hoặc lấn át lẽ thật kia trong tâm trí. Cả hai cũng cùng nhau cảnh báo chúng ta không được phản ứng cực đoan - từ sai lầm này nhảy sang sai lầm kia - bởi nếu làm thế, tình trạng sau có thể còn tồi tệ hơn lúc đầu.

Vậy chúng ta phải làm gì? Phải hướng cuộc hành trình của mình theo con đường hẹp dẫn giữa Scylla và Charybdis - nghĩa là tránh cả hai thái cực. Làm sao để được như vậy? Bằng cách xem việc tin cậy cả hai giáo lý này là trách nhiệm của chúng ta, với tất cả tâm trí và sức lực; và luôn đặt cả hai lẽ thật ấy trước mắt để hướng dẫn và quản trị đời sống của mình.

Chúng ta sẽ tiến hành theo nguyên tắc này. Trong những điều tiếp theo, chúng ta sẽ cố gắng xem cả hai giáo lý một cách hết sức nghiêm túc - như Kinh Thánh đã làm - và nhìn nhận chúng trong mối liên hệ tích cực theo Kinh Thánh. Chúng ta sẽ không đặt chúng đối lập nhau, vì Kinh Thánh không làm điều đó. Chúng ta cũng sẽ không dùng giáo lý này để làm giảm nhẹ, điều chỉnh hay pha loãng giáo lý kia - vì đó cũng không phải là điều Kinh Thánh làm. Điều Kinh Thánh thực hiện là khẳng định cả hai lẽ thật song song với nhau bằng những ngôn từ mạnh mẽ và rõ ràng nhất, như hai sự thật tối hậu. Vậy nên, đây chính là lập trường mà chúng ta cần giữ trong suy nghĩ của mình.

C. H. Spurgeon từng được hỏi liệu ông có thể hòa giải hai lẽ thật này với nhau hay không. “Tôi không hề cố gắng làm điều đó,” ông trả lời. “Tôi chưa bao giờ hòa giải những người bạn.” Những người bạn? - Phải, cả hai chính là bạn của nhau. Đó là điểm mà chúng ta cần nắm bắt. Trong Kinh Thánh, quyền tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người không phải là kẻ thù. Chúng cũng không phải là hàng xóm đầy bất ổn; không sống trong một trạng thái chiến tranh lạnh không hồi kết. Chúng là những người bạn, và chúng cùng nhau hành động. Tôi hy vọng những điều tôi sắp nói về về truyền giảng sẽ giúp làm sáng tỏ điều này.


TRUYỀN GIÁO VÀ SỰ TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI