Chúng ta bắt đầu chương cuối này bằng cách tổng kết những gì đã học được về công cuộc truyền giảng.
Chúng ta đã học rằng truyền giảng là một nhiệm vụ được Đức Chúa Trời giao phó cho toàn thể dân sự của Ngài ở khắp mọi nơi. Đó là nhiệm vụ truyền đạt một sứ điệp từ Đấng Tạo Hóa đến với nhân loại phản nghịch. Sứ điệp ấy bắt đầu bằng thông tin và kết thúc bằng lời mời gọi.
Phần thông tin nói về công việc của Đức Chúa Trời trong việc khiến Con Ngài trở nên Đấng Cứu Chuộc trọn vẹn cho tội nhân. Còn lời mời gọi là tiếng gọi của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại nói chung: hãy đến với Đấng Cứu Thế để nhận lấy sự sống. Đức Chúa Trời truyền lệnh cho mọi người ở khắp nơi phải ăn năn, và hứa ban sự tha thứ cùng sự phục hồi cho bất cứ ai thực sự ăn năn.
Cơ Đốc nhân được sai vào thế gian như là người loan báo của Đức Chúa Trời và là sứ giả của Chúa Giê-xu Christ, để truyền rao sứ điệp ấy càng rộng rãi càng tốt. Đây vừa là bổn phận (vì là mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và được thúc đẩy bởi tình yêu thương dành cho người lân cận) vừa là đặc ân (vì quả là điều trọng đại khi được nói thay cho Đức Chúa Trời, và mang đến cho người lân cận phương thuốc duy nhất có thể cứu họ khỏi sự kinh khiếp của sự chết thuộc linh) của mỗi tín hữu.
Vậy thì, nhiệm vụ của chúng ta là đi đến với đồng loại mình và rao truyền Phúc Âm về Chúa Giê-xu Christ cho họ, cố gắng bằng mọi cách để giúp họ hiểu rõ, loại bỏ những chướng ngại mà họ có thể gặp phải khi tiếp nhận, khiến họ cảm nhận được sự nghiêm trọng, và thúc giục họ đáp ứng sứ điệp ấy. Đây là trách nhiệm trường tồn của chúng ta - một phần cốt lõi trong sự kêu gọi làm Cơ Đốc nhân của chúng ta.
Nhưng giờ đây chúng ta phải đối diện với câu hỏi đã hiện diện ngay từ ban đầu:
Tất cả điều này bị ảnh hưởng như thế nào bởi niềm tin của chúng ta vào sự tể trị của Đức Chúa Trời?
Chúng ta đã thấy trước đó rằng sự tể trị của Đức Chúa Trời là một trong hai lẽ thật tạo nên nghịch lý trong dòng tư tưởng của Kinh Thánh. Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh vừa là Chúa vừa là Đấng ban luật trong thế giới Ngài. Ngài vừa là Vua của loài người vừa là Đấng phán xét loài người. Vì vậy, nếu chúng ta muốn có cái nhìn theo Kinh Thánh, chúng ta phải dành chỗ trong tư duy của mình cho cả hai khía cạnh: sự tể trị của Đức Chúa Trời và trách nhiệm của con người cùng tồn tại.
Con người không thể chối bỏ trách nhiệm của mình trước Đức Chúa Trời, bởi Ngài là Đấng ban luật thiết lập bổn phận của họ, và là Đấng phán xét xem họ có thực hiện điều đó hay không. Mặt khác, Đức Chúa Trời không thể chối bỏ được vai trò tể trị của Ngài trên con người, bởi Ngài kiểm soát và định liệu mọi hành động của loài người, cũng như mọi điều khác trong vũ trụ của Ngài. Trách nhiệm của con người đối với hành động của họ, và sự tể trị của Đức Chúa Trời đối với cùng những hành động đó, như chúng ta đã thấy, đều là những thực tại tối hậu và hiển nhiên.
Sứ đồ Phao-lô buộc chúng ta phải lưu tâm đến nghịch lý này khi ông nói về ý muốn của Đức Chúa Trời (thelēma) trong mối liên hệ với cả hai cách tương tác có vẻ không thể hòa hợp giữa Đấng Tạo Hóa với loài người của Ngài - và điều đó được trình bày ngay trong một bức thư ngắn. Trong các chương 5 và 6 của thư Ê-phê-sô, Phao-lô mong muốn độc giả của mình “hiểu được ý muốn của Chúa là gì” (5:17) và “làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời từ tấm lòng” (6:6).
➡ Đây là ý muốn của Đức Chúa Trời như là Đấng ban luật pháp - ý muốn mà con người cần phải biết và vâng phục. Cũng trong ý nghĩa đó, Phao-lô viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca rằng: “Đây là ý muốn của Đức Chúa Trời, sự nên thánh của anh em: ấy là anh em phải tránh sự gian dâm” (1 Tê-sa-lô-ni-ca 4:3; so sánh với Ma-thi-ơ 7:21; 12:50; Giăng 7:17; 1 Giăng 2:17, v.v.).
Tuy nhiên, ở chương đầu tiên của thư Ê-phê-sô, Phao-lô lại nói rằng Đức Chúa Trời đã chọn ông và các tín hữu khác trong Chúa Giê-xu trước khi thế gian được dựng nên, “theo mục đích của ý muốn Ngài” (câu 5); ông gọi kế hoạch của Đức Chúa Trời trong việc quy tụ muôn vật trong Chúa Giê-xu vào thời điểm cuối cùng của thế gian là “sự mầu nhiệm của ý muốn Ngài” (câu 9); và ông gọi Đức Chúa Trời là “Đấng làm mọi việc theo ý định của ý muốn Ngài” (câu 11).
➡ Ở đây, “ý muốn” của Đức Chúa Trời rõ ràng là mục đích đời đời của Ngài cho sự định liệu các tạo vật của Ngài - ý muốn của Ngài như là Chúa Tể tể trị thế gian. Đây là ý muốn mà Đức Chúa Trời thực hiện một cách hiệu quả trong và qua mọi sự kiện xảy ra - ngay cả những sự vi phạm luật pháp của Ngài bởi con người.
Thần học cổ điển đã phân biệt hai khía cạnh này: ý muốn quy định (precept) và ý muốn định liệu (purpose) của Đức Chúa Trời - khía cạnh đầu là sự bày tỏ công khai về những gì con người phải làm, còn khía cạnh sau là quyết định (phần lớn là bí mật) về điều mà chính Ngài sẽ thực hiện. Sự phân biệt này nằm giữa luật pháp của Đức Chúa Trời và kế hoạch của Ngài. Luật pháp nói cho con người biết họ phải là gì; còn kế hoạch định rõ họ sẽ là gì. Cả hai khía cạnh của ý muốn Đức Chúa Trời đều là sự thật, mặc dù cách chúng được kết nối trong tâm trí của Ngài là điều vượt quá sự hiểu biết của chúng ta. Đó là một trong những lý do vì sao chúng ta gọi Đức Chúa Trời là Đấng không thể hiểu thấu được.
Giờ đây, câu hỏi của chúng ta trở thành:
Giả sử rằng mọi sự thật sự diễn ra dưới sự tể trị trực tiếp của Đức Chúa Trời, và rằng Ngài đã định sẵn tương lai qua sắc lệnh của Ngài, cũng như đã quyết định ai sẽ được cứu và ai thì không - thì điều này ảnh hưởng như thế nào đến bổn phận truyền giảng của chúng ta?
Đây là một câu hỏi đang làm trăn trở nhiều tín hữu Tin Lành ngày nay.
Nhóm thứ nhất bao gồm các tín hữu đã tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời một cách tuyệt đối và không nhượng bộ (theo sự nhận định của chúng tôi) đối với những gì Kinh Thánh đã trình bày. Họ hiện đang suy xét liệu có cách nào họ có thể - và nên - làm chứng cho niềm tin này bằng cách điều chỉnh các phương pháp truyền giảng mà họ đã tiếp nhận từ thế hệ trước với những niềm tin khác biệt. Họ lập luận rằng các phương pháp truyền giảng ấy được hình thành bởi những người không tin như cách họ tin vào sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời trong sự cứu rỗi. Chẳng phải tự điều này đã là lý do đủ để không tiếp tục sử dụng các phương pháp truyền giảng truyền thống hay sao?
Ở chiều ngược lại, những người không nhìn nhận giáo lý về sự tể trị của Đức Chúa Trời, hoặc không xem trọng giáo lý này đến mức tuyệt đối như nhóm trên, thì lo ngại rằng, mối bận tâm mới này - tức giáo lý về sự tin cậy tuyệt đối vào sự tể trị của Đức Chúa Trời - sẽ dẫn đến sự lụi tàn của công cuộc truyền giảng Tin Lành. Vì họ cho rằng giáo lý về sự tể trị của Đức Chúa Trời làm mất đi tính khẩn thiết của công tác truyền giáo.
Dĩ nhiên Sa-tan sẽ làm mọi điều để cản trở sự truyền giảng và gây chia rẽ giữa các tín hữu. Vì thế, hắn cám dỗ nhóm thứ nhất trở nên dè dặt và hoài nghi với mọi nỗ lực truyền giảng hiện tại, và cám dỗ nhóm thứ hai trở nên hoảng loạn và phản ứng thái quá. Cả hai nhóm đều có nguy cơ trở nên tự cho mình là công chính, cay nghiệt và kiêu căng trong khi chỉ trích lẫn nhau. Cả hai, rõ ràng, đang rất cần tỉnh táo trước những mưu chước của ma quỷ.
Vì vậy, câu hỏi trên thật sự cấp thiết. Chính Kinh Thánh đã nêu ra vấn đề này khi dạy về nghịch lý trong mối liên hệ kép giữa Đức Chúa Trời và con người. Và giờ đây, chúng ta phải hướng về Kinh Thánh để tìm câu trả lời. Câu trả lời từ Kinh Thánh có thể được trình bày qua hai mệnh đề: một tiêu cực và một tích cực.
1- SỰ TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG ÂN ĐIỂN KHÔNG LÀM THAY ĐỔI BẤT KỲ ĐIỀU GÌ CHÚNG TA ĐÃ NÓI VỀ BẢN CHẤT VÀ BỔN PHẬN TRUYỀN GIẢNG#
Nguyên tắc đang vận hành tại đây là: chuẩn mực cho bổn phận của chúng ta và mức độ trách nhiệm của chúng ta là ý muốn được bày tỏ của Đức Chúa Trời qua điều răn, chứ không phải ý muốn kín giấu của Ngài qua các biến cố. Chúng ta phải sắp đặt đời sống mình theo ánh sáng của luật pháp Ngài, không phải theo sự suy đoán của chúng ta về kế hoạch của Ngài. Môi-se đã thiết lập nguyên tắc này khi ông hoàn tất việc giảng dạy dân Y-sơ-ra-ên về luật pháp, những lời cảnh cáo và những lời hứa của Chúa: “Những điều kín giấu thuộc về Đức Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; còn những điều đã được tỏ ra thì thuộc về chúng ta và về con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo tất cả các lời của luật pháp này” (Phục truyền Luật lệ ký 29:29).
Những điều Đức Chúa Trời vui lòng giữ riêng cho Ngài (ví dụ: số lượng và danh tính của những người được chọn, và thời điểm cùng cách thức Ngài định sẽ biến đổi ai) không ảnh hưởng gì đến bổn phận của bất kỳ ai. Chúng không liên quan gì đến việc giải nghĩa bất kỳ phần nào trong luật pháp của Đức Chúa Trời. Mà điều răn truyền giảng là một phần trong luật pháp của Ngài. Nó thuộc về ý muốn đã được bày tỏ của Ngài dành cho dân sự Ngài. Về nguyên tắc, nó không thể bị ảnh hưởng dù chỉ một phần nhỏ bởi bất kỳ điều gì chúng ta tin về sự tể trị của Đức Chúa Trời trong việc chọn lựa và kêu gọi.
Chúng ta hoàn toàn có thể tin rằng (theo lời của Điều khoản XVII trong Giáo hội Anh quốc) Đức Chúa Trời “đã phán định một cách kiên định [tức là cách chắc chắn, dứt khoát] bởi ý định kín giấu đối với chúng ta, để giải cứu khỏi sự rủa sả và sự hư mất những người Ngài đã chọn trong Chúa Giê-xu từ giữa loài người, và đem họ đến sự cứu rỗi đời đời bởi Chúa Giê-xu, như những bình dùng cho sự tôn quý.” Nhưng điều đó không giúp chúng ta xác định bản chất của nhiệm vụ truyền giảng, cũng không ảnh hưởng gì đến bổn phận của chúng ta trong việc truyền giảng cách phổ quát và không phân biệt. Giáo lý về sự tể trị của Đức Chúa Trời trong ân điển không liên quan gì đến những điều này. Vậy chúng ta có thể nói rằng:
(1) Niềm tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong ân điển không làm suy giảm sự cần thiết của công cuộc truyền giảng#
Dù chúng ta tin gì về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, thực tế vẫn là: truyền giảng là điều cần thiết, vì không ai có thể được cứu nếu không có Tin Lành. Phao-lô khẳng định, “sẽ chẳng có sự phân biệt giữa người Do Thái và người Hy Lạp, vì cùng một Chúa là Chúa của tất cả, ban sự giàu có của Ngài cho hết thảy những ai kêu cầu Danh Ngài. Bởi ‘ai kêu cầu Danh Chúa [Chúa Giê-xu Christ] thì sẽ được cứu.’”
Đúng vậy; nhưng không một ai được cứu, nếu họ không kêu cầu Danh Chúa - và có những điều nhất định phải xảy ra trước khi ai đó có thể thực hiện điều ấy. Vì thế Phao-lô tiếp tục: “Vậy, họ sẽ kêu cầu Đấng mà họ chưa tin nơi Ngài thế nào? Và làm sao họ tin nơi Đấng mà họ chưa từng nghe? Và làm sao họ nghe nếu không có người rao giảng?” (Rô-ma 10:14, KJV). Người ta phải được nghe về Chúa Cứu Thế trước khi có thể tin Ngài, và phải tin Ngài trước khi có thể được cứu bởi Ngài. Sự cứu rỗi phụ thuộc vào đức tin, và đức tin thì đến từ việc biết Tin Lành. Cách của Đức Chúa Trời để cứu kẻ có tội là đem họ đến đức tin thông qua sự tiếp xúc với Phúc Âm. Do vậy, trong sự sắp đặt của Đức Chúa Trời, truyền giảng là điều thiết yếu để có ai đó được cứu.
Vì vậy, chúng ta phải nhận thức rằng khi Đức Chúa Trời sai chúng ta đi rao giảng Tin Lành, Ngài đang đặt chúng ta vào những mắt xích quan trọng trong chuỗi mục đích cứu rỗi dành cho những người được chọn của Ngài. Việc Đức Chúa Trời có một mục đích như thế – và đó (như chúng ta tin) là một mục đích tể trị không thể bị ngăn trở – không có nghĩa rằng công tác truyền giáo của chúng ta là không cần thiết để mục đích ấy được hoàn thành. Trong ẩn dụ của Chúa chúng ta, cách mà tiệc cưới được đầy khách là qua hành động của các đầy tớ của vua - những người đã vâng lệnh vua đi ra các nẻo đường và mời gọi tất cả những ai họ gặp (Ma-thi-ơ 22:1-14). Cũng một cách như vậy - và qua những hành động tương tự của các đầy tớ Đức Chúa Trời - những người được chọn bước vào sự cứu rỗi mà Đấng Cứu Chuộc đã dành sẵn cho họ.
(2) Niềm tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong ân điển không làm suy giảm tính cấp thiết của sự truyền giảng#
Dù chúng ta tin gì về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, sự thật vẫn là: con người không có Chúa Giê-xu thì đang lạc mất và đang đi vào hỏa ngục (xin thứ lỗi vì dùng cụm từ nghe có vẻ nặng nề; nhưng tôi vẫn dùng, vì tôi thật sự nghiêm túc về điều này). “Không ăn năn thì các ngươi hết thảy sẽ bị diệt vong,” Chúa chúng ta đã nói với đoàn dân đông (Lu-ca 13:3, 5). Và chúng ta - những người thuộc về Đấng Christ - được sai đi để rao truyền về Đấng duy nhất có thể cứu họ khỏi sự diệt vong.
Nhu cầu của họ chẳng phải là điều cấp thiết hay sao? Nếu quả đúng như vậy, chẳng phải điều đó là đủ khiến sự truyền giảng trở nên khẩn cấp đối với chúng ta sao? Nếu bạn biết một người đang ngủ say trong một tòa nhà đang bốc cháy, bạn sẽ xem việc cố gắng đến với họ, đánh thức họ và đưa họ ra ngoài là việc cấp thiết. Thế gian đầy dẫy những con người không hay biết rằng họ đang ở dưới cơn giận của Đức Chúa Trời. Chẳng phải đó cũng chính là sự cấp thiết kêu gọi chúng ta phải đến với họ, đánh thức họ và chỉ cho họ con đường thoát khỏi sự hủy diệt hay sao?
Chúng ta không nên bị ngăn trở bởi suy nghĩ rằng nếu ai đó không được chọn, thì họ sẽ không tin chúng ta, và mọi nỗ lực dẫn họ đến sự biến đổi sẽ thất bại. Điều đó đúng - nhưng không thuộc phần trách nhiệm của chúng ta và cũng không nên ảnh hưởng đến hành động của chúng ta.
Thứ nhất, luôn luôn là sai lầm khi từ chối làm điều lành chỉ vì sợ rằng điều đó sẽ không được đón nhận.
Thứ hai, đối với chúng ta, những người không được chọn trong thế giới này là những khuôn mặt vô danh. Chúng ta biết họ hiện hữu, nhưng chúng ta không - và cũng không thể - biết họ là ai. Việc cố đoán điều ấy vừa vô ích, vừa bất kính, vì danh tính của những người bị loại bỏ là một trong những “điều kín giấu” của Đức Chúa Trời mà dân sự Ngài không được phép dò xét.
Thứ ba, sự kêu gọi của chúng ta với tư cách là tín hữu trong Đấng Christ không phải là chỉ yêu những người được chọn của Đức Chúa Trời, mà là yêu người lân cận của mình - bất kể người ấy có được chọn hay không. Mà bản chất của tình yêu là làm điều lành và giúp đỡ người có nhu cầu. Vậy nếu người lân cận của chúng ta chưa được biến đổi, thì bổn phận yêu thương của chúng ta là chia sẻ với họ Tin Lành - bởi nếu không, họ sẽ hư mất.
Vì thế, chúng ta thấy Phao-lô đã cảnh báo và giảng dạy “mọi người” (Cô-lô-se 1:28), không chỉ vì ông là một sứ đồ, mà vì mỗi người đều là người lân cận của ông. Và mức độ cấp thiết của nhiệm vụ truyền giảng nằm ở mức độ nghiêm trọng trong nhu cầu thuộc linh của người lân cận chúng ta và tính khẩn cấp của hiểm nguy mà họ đang đối diện.
(3) Niềm tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong ân điển không làm suy giảm sự chân thật trong lời mời của Phúc Âm, cũng như lẽ thật trong các lời hứa của Phúc Âm#
Dù chúng ta tin gì về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, hay (xét cho cùng) về phạm vi của sự chuộc tội, sự thật vẫn không thay đổi: Đức Chúa Trời trong Phúc Âm thật sự ban Đấng Christ và hứa ban sự xưng công bình cùng sự sống đời đời cho “hết thảy những ai kêu cầu Danh Chúa.” “Vì ai kêu cầu Danh Chúa thì sẽ được cứu” (Rô-ma 10:13). Như Đức Chúa Trời đã truyền cho mọi người khắp nơi phải ăn năn, thì Ngài cũng mời gọi mọi người khắp nơi hãy đến với Đấng Christ để nhận lấy sự thương xót. Lời mời ấy dành cho người có tội - nhưng là dành cho mọi người có tội, không phân biệt. Không phải chỉ dành cho loại tội nhân nào đó, ví dụ như tội nhân đã được cải hóa, hay tội nhân mà lòng họ đã sẵn có một mức tối thiểu nào đó của sự đau buồn vì tội lỗi; nhưng là dành cho tội nhân với chính bản chất của họ - trong hiện trạng họ đang có. Như lời bài thánh ca đã viết:
“Chớ để lương tâm khiến bạn chần chừ,
Cũng đừng mơ mộng mình đủ xứng đáng.
Tất cả những gì Ngài đòi hỏi nơi bạn,
Là bạn cảm nhận mình cần đến Ngài.”
Sự thật là lời mời gọi trong Phúc Âm là tự do và không giới hạn - “Chúa Giê-xu tiếp nhận tội nhân,” “hãy đến và được đón tiếp bởi Chúa Giê-xu Christ” - chính là vinh quang của Phúc Âm như là sự mặc khải về ân điển thiên thượng.
Có một khoảnh khắc đầy ý nghĩa trong nghi lễ Tiệc Thánh của Giáo hội Anh quốc, khi người hầu việc Chúa cất lên những “lời an ủi.” Trước hết, cả hội chúng xưng nhận tội lỗi của mình trước Đức Chúa Trời bằng những lời lẽ đầy sức nặng (“tội lỗi và sự gian ác đa dạng của chúng con đã chọc giận Ngài một cách công chính; gánh nặng của những điều ấy thật không thể chịu nổi. Xin thương xót chúng con, xin thương xót chúng con”). Sau đó, người hầu việc Chúa quay mặt lại với hội chúng và công bố những lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho họ.
Hãy lắng nghe những lời yên ủi mà Đấng Cứu Thế chúng ta, Chúa Giê-xu, đã phán với hết thảy những người thật lòng quay trở về với Ngài:
“Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.” (Ma-thi-ơ 11:28)
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy thì không bị hư mất, mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)
Hãy nghe thêm lời sứ đồ Phao-lô đã công bố:
“Lời này là chắc thật, đáng được mọi người tiếp nhận: Đó là Chúa Giê-xu Christ đã đến thế gian để cứu kẻ có tội.” (1 Ti-mô-thê 1:15)
Hãy nghe thêm lời sứ đồ Giăng đã viết:
“Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có một Đấng biện hộ trước mặt Cha: ấy là Chúa Giê-xu Christ, Đấng công chính. Ngài là của lễ chuộc tội cho chúng ta.”(1 Giăng 2:1–2)
Tại sao những lời này “đầy an ủi”? Bởi vì chúng là lời của Đức Chúa Trời, và tất cả đều chân lý. Đây chính là cốt lõi của Tin Lành, là những lời hứa và sự đảm bảo mà Cơ Đốc nhân khi đến bàn Tiệc Thánh cần đến với lòng tin cậy. Đây là lời được chính lễ Tiệc Thánh xác nhận. Hãy lưu tâm đến chúng một cách cẩn trọng.
Trước hết, hãy để ý đến nội dung của những lời ấy. Đối tượng của đức tin mà chúng trình bày không chỉ là giáo lý chính thống, không chỉ là chân lý về sự hy sinh chuộc tội của Đấng Christ. Không dừng lại ở đó, mà còn hơn thế nữa. Chúng hướng lòng tin đến chính Đấng Christ hằng sống - Đấng Cứu Chuộc hoàn toàn của tội nhân - Đấng mang trong chính Ngài toàn bộ quyền năng của công trình cứu chuộc đã hoàn tất trên thập tự giá. “Hãy đến cùng Ta … Ngài là của lễ chuộc tội cho chúng ta.” Những lời hứa này hướng chúng ta đặt lòng tin cậy, không phải vào sự đóng đinh như một sự kiện, mà vào Đấng Christ - Đấng bị đóng đinh; không phải vào công tác cứu chuộc của Ngài như một khái niệm trừu tượng, mà vào chính Ngài - Đấng đã thực hiện công tác ấy.
Thứ hai, hãy lưu tâm đến tính phổ quát của những lời hứa này. Chúng đem Đấng Christ đến cho hết thảy những ai cần đến Ngài - tất cả “những ai thật lòng ăn năn quay trở về cùng Ngài”, bất kỳ ai đã phạm tội đều có thể nhận lấy ân điển. Không ai bị loại khỏi lòng thương xót, ngoại trừ những kẻ tự loại mình ra vì lòng không ăn năn và sự vô tín.
Một số người lo ngại rằng giáo lý về sự chọn lựa và loại bỏ đời đời sẽ dẫn đến khả năng rằng Đấng Christ sẽ không tiếp nhận một số người mong muốn được Ngài tiếp nhận, bởi vì họ không thuộc trong số những người được chọn. Tuy nhiên, những “lời yên ủi” trong các lời hứa của Phúc Âm hoàn toàn loại trừ khả năng đó. Như Chúa chúng ta đã khẳng định rõ ràng và dứt khoát ở nơi khác: “Ai đến với Ta, Ta sẽ không từ chối người ấy bao giờ” (Giăng 6:37).
Đúng là từ trước vô cùng Đức Chúa Trời đã chọn người nào Ngài sẽ cứu. Đúng là Đấng Christ đã đến cách đặc biệt để cứu những người mà Đức Chúa Cha đã ban cho Ngài. Nhưng cũng đúng rằng Đấng Christ tự nguyện ban chính Ngài như là Đấng Cứu Chuộc cho mọi người, và Ngài đảm bảo sẽ đem đến vinh hiển cho hết thảy những ai đặt lòng tin nơi Ngài với tư cách là Đấng Cứu Thế. Hãy xem chính Ngài đã cố ý đặt song song hai lẽ thật này trong phân đoạn sau:
“Ta từ trời xuống không phải để làm theo ý riêng của Ta, mà để làm theo ý Đấng đã sai Ta. Và đây là ý muốn của Đấng đã sai Ta: rằng Ta không làm mất một ai trong tất cả những người Ngài đã ban cho Ta, nhưng sẽ làm cho họ sống lại vào ngày sau hết. Vì đây là ý muốn của Cha Ta: rằng hễ ai nhìn lên Con và tin nơi Ngài thì được sự sống đời đời, và Ta sẽ làm cho người ấy sống lại vào ngày sau hết.” (Giăng 6:38-40)
“Tất cả những người Ngài đã ban cho Ta” - đây là sứ mạng cứu rỗi của Đấng Christ được định nghĩa theo ý nghĩa của toàn thể những người được chọn, mà Ngài đến để cứu cách đặc biệt. “Hễ ai nhìn lên Con và tin nơi Ngài” - đây là sứ mạng cứu rỗi của Đấng Christ được định nghĩa theo ý nghĩa của cả nhân loại lạc mất, là những người Ngài ban chính Ngài cho họ một cách không phân biệt, và Ngài chắc chắn sẽ cứu nếu họ tin. Hai chân lý này được đặt song song trong các câu Kinh Thánh này, và đó là vị trí thích hợp. Chúng đi chung với nhau. Chúng đồng hành. Không điều nào phủ nhận tính chân thật của điều kia. Không điều nào nên lấn át tâm trí chúng ta để loại bỏ điều kia. Đấng Christ nói những gì Ngài có ý muốn nói - khi Ngài cam kết cứu mọi người đặt lòng tin nơi Ngài không kém gì so với khi Ngài cam kết cứu tất cả những người mà Cha đã ban cho Ngài.
Vì thế, John Owen - một nhà thần học Thanh giáo, người đã bảo vệ cả hai giáo lý về sự chọn lựa vô điều kiện và sự chuộc tội có giới hạn - đã phải (thậm chí bắt buộc phải) kêu gọi những người chưa tin như sau:
Hãy suy ngẫm về sự hạ mình vô hạn và tình yêu của Đấng Christ, khi Ngài mời gọi và kêu gọi bạn đến với Ngài để nhận lấy sự sống, sự giải cứu, lòng thương xót, ân điển, bình an và sự cứu rỗi đời đời. Qua sự tuyên bố và rao giảng những điều đó, Chúa Giê-xu Christ vẫn đứng trước những người có tội, kêu gọi, mời gọi và khích lệ họ đến với Ngài.
Đây là phần nào lời Ngài hiện đang phán cùng bạn: “Sao các ngươi muốn chết? Sao các ngươi muốn bị diệt vong? Sao các ngươi không có lòng thương xót cho chính linh hồn mình? Tấm lòng của các ngươi có thể chịu đựng nổi không, hay tay các ngươi có thể mạnh mẽ được chăng, trong ngày thịnh nộ đang đến gần? Hãy nhìn vào ta và được cứu; hãy đến cùng ta, và ta sẽ cất khỏi các ngươi mọi tội lỗi, sầu muộn, sợ hãi, gánh nặng, và ban sự yên nghỉ cho linh hồn các ngươi. Hãy đến, ta khẩn nài các ngươi; hãy gác lại mọi sự lần lữa, mọi sự trì hoãn; đừng từ chối ta nữa; cõi đời đời đang ở ngay ngưỡng cửa. Đừng ghét ta đến nỗi các ngươi thà chịu diệt vong còn hơn nhận lấy sự giải cứu bởi ta.”
Những lời này và những lời tương tự, Chúa Cứu Thế không ngừng tuyên bố, rao truyền, nài xin và khẩn thiết đặt vào lòng những người có tội. Ngài thực hiện điều đó qua việc giảng dạy lời Kinh Thánh, như thể Ngài đang hiện diện với bạn, đang đứng giữa vòng các bạn, và đang trực tiếp nói với từng người trong các bạn. Ngài đã chỉ định các đầy tớ rao giảng Phúc Âm xuất hiện trước mặt các bạn, và tiếp xúc với các bạn thay cho Ngài, công nhận lời mời gọi được ban ra nhân danh Ngài là chính lời mời gọi của Ngài (II Cô-rinh-tô 5:19-20).
Thật vậy, điều đó là đúng. Những lời mời gọi của Đấng Christ là lời của Đức Chúa Trời. Chúng là chân thật. Chúng có ý nghĩa. Chúng là những lời mời gọi chân thành. Chúng phải được nhấn mạnh đối với những người chưa tin đúng như vậy. Không có điều gì chúng ta tin về quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong ân điển có thể làm thay đổi chân lý này.
(4) Niềm tin rằng Đức Chúa Trời có quyền tể trị trong ân điển không hề ảnh hưởng đến trách nhiệm của người có tội đối với phản ứng của họ trước Phúc Âm#
Dù chúng ta có tin gì về sự chọn lựa của Đức Chúa Trời, thì sự thật vẫn là: người nào khước từ Đấng Christ thì chính người đó trở thành nguyên nhân cho sự bị đoán phạt của mình. Sự vô tín trong Kinh Thánh là điều mang tội, và người vô tín không thể viện lý do rằng họ không được chọn để tự biện hộ. Người không tin thật sự đã được Phúc Âm ban cho sự sống, và đã có thể nhận được sự sống ấy, nếu người ấy chịu mở lòng. Chính họ - chứ không ai khác - phải chịu trách nhiệm vì đã từ chối sự cứu rỗi và giờ đây phải gánh chịu hậu quả do việc từ khước đó.
Giám Mục J. C. Ryle viết:
“Ở khắp nơi trong Kinh Thánh, nguyên tắc chủ đạo: con người có thể tự đánh mất linh hồn mình; và nếu cuối cùng linh hồn đó bị hư mất, thì đó là lỗi của chính họ, máu họ sẽ ở trên đầu họ. Chính quyển Kinh Thánh được soi dẫn bởi Thánh Linh vốn bày tỏ giáo lý về chọn lựa của Đức Chúa Trời, cũng là quyển sách chứa đựng những lời sau: ‘Hỡi nhà Y-sơ-ra-ên, sao các ngươi muốn chết?’ - ‘Các ngươi không chịu đến cùng ta để được sự sống’ - ‘Đây là sự đoán phạt: ánh sáng đã đến thế gian, nhưng loài người yêu bóng tối hơn ánh sáng vì việc làm của họ là gian ác’ (Ê-xê-chi-ên 18:31; Giăng 5:40; 3:19).
Kinh Thánh không bao giờ nói rằng tội nhân lỡ mất thiên đàng vì họ không được chọn, nhưng bởi vì họ ‘xem thường sự cứu rỗi lớn lao’, bởi vì họ không chịu ăn năn và tin. Ngày phán xét cuối cùng sẽ chứng minh đầy đủ rằng điều hủy hoại các linh hồn bị hư mất không phải là sự thiếu chọn lựa của Đức Chúa Trời, mà là sự biếng nhác, yêu thích tội lỗi, vô tín, và không muốn đến với Đấng Christ.
Đức Chúa Trời ban cho con người điều họ lựa chọn, chứ không phải điều ngược lại với sự lựa chọn của họ. Vì vậy, những ai chọn sự chết, thì chỉ có thể trách chính mình, vì Đức Chúa Trời đã ban cho họ sự sống, nhưng họ khước từ. Giáo lý về quyền tể trị của Đức Chúa Trời không làm thay đổi tình huống này theo bất kỳ cách nào.
Trên đây là phần lập luận thứ nhất và mang tính phủ định. Tiếp theo sẽ là lập luận khẳng định.
2- QUYỀN TỂ TRỊ CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG ÂN ĐIỂN CHÍNH LÀ NIỀM HY VỌNG DUY NHẤT CỦA CHÚNG TA CHO SỰ THÀNH CÔNG TRONG CÔNG TÁC TRUYỀN GIẢNG#
Một số người lo sợ rằng niềm tin vào ân điển tể trị của Đức Chúa Trời sẽ dẫn đến kết luận rằng công việc truyền giảng là vô ích, bởi vì Đức Chúa Trời sẽ cứu những người được chọn bất kể họ có nghe Phúc Âm hay không. Điều đó, như chúng ta đã thấy, là một kết luận sai lầm dựa trên một giả định sai lầm. Nhưng giờ đây chúng ta cần tiến xa hơn nữa và chỉ ra rằng sự thật hoàn toàn ngược lại.
Quyền tể trị của Đức Chúa Trời trong ân điển không làm cho công việc truyền giảng trở nên vô nghĩa; trái lại, đó chính là điều duy nhất khiến công việc ấy có ý nghĩa. Chính quyền tể trị đó mở ra khả năng - thậm chí là sự chắc chắn - rằng sự truyền giảng sẽ kết quả. Nếu không có ân điển tể trị của Đức Chúa Trời, thì công tác truyền giảng sẽ chẳng có chút hy vọng nào để sinh bông trái. Nếu không có ân điển ấy, thì công tác truyền rao Phúc Âm sẽ là nỗ lực vô ích và phù phiếm nhất mà thế giới từng biết, và sẽ chẳng có hành động nào dưới mặt trời là uổng công hơn việc rao giảng Tin Lành của Đấng Christ.
🔻Vì sao lại như vậy?
Bởi vì con người trong tội lỗi đã mất năng lực thuộc linh. Hãy để Phao-lô, nhà truyền giáo vĩ đại nhất, giải thích điều này cho chúng ta: Người sa ngã, theo lời Phao-lô, có tâm trí bị mù lòa và không thể hiểu được lẽ thật thuộc linh. “Người có tính xác thịt không tiếp nhận những điều thuộc về Thánh Linh của Đức Chúa Trời; vì nó là sự rồ dại đối với người ấy, và người ấy không thể hiểu được, bởi vì phải xem xét cách thuộc linh” (1 Cô-rinh-tô 2:14). Thêm nữa, con người có bản tính bại hoại và chống đối Đức Chúa Trời: “Vì tâm trí xác thịt [tức là tâm trí của người chưa được tái sinh] thù nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục tùng luật pháp của Đức Chúa Trời; thật vậy, nó không thể phục tùng” - hệ quả là gì? “Những ai sống theo xác thịt thì không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời” (Rô-ma 8:7-8).
Trong cả hai đoạn này, Phao-lô đưa ra hai khẳng định rõ ràng về con người sa ngã đối với lẽ thật của Đức Chúa Trời, và tiến trình suy luận trong cả hai đều giống nhau: trước tiên, ông xác định sự thất bại của người chưa tái sinh như một thực tế: người ấy “không tiếp nhận những điều thuộc về Thánh Linh” và “không phục tùng luật pháp của Đức Chúa Trời”. Nhưng rồi Phao-lô diễn giải rằng sự thất bại này là tất yếu theo bản chất của con người - một điều chắc chắn, không thể tránh khỏi, phổ quát và bất biến - vì trong con người chẳng có khả năng nào để làm điều khác đi. “Người ấy không thể hiểu được” - “Thật vậy, nó không thể”.
Con người trong A-đam không có khả năng hiểu các thực tại thuộc linh hay vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời từ tấm lòng mình. Sự thù nghịch với Đức Chúa Trời, dẫn đến sự phản nghịch Ngài, là quy luật trong bản chất của họ. Có thể nói đó là bản năng: né tránh, đàn áp, chối bỏ lẽ thật của Đức Chúa Trời, gạt bỏ thẩm quyền của Ngài, và coi thường luật pháp của Ngài - đúng vậy, và khi nghe Phúc Âm, thì cũng không tin và không vâng theo. Họ là loại người như vậy.
Phao-lô nói: họ “đã chết vì sự vi phạm và tội lỗi” (Ê-phê-sô 2:1) - hoàn toàn bất lực để có phản ứng tích cực với lời của Đức Chúa Trời, điếc trước tiếng phán của Ngài, mù trước sự bày tỏ của Ngài, không thể cảm nhận được sự thúc giục của Ngài. Nếu bạn nói chuyện với một xác chết, sẽ không có phản hồi gì - người ấy đã chết. Cũng vậy, khi lời của Đức Chúa Trời được truyền đến cho tội nhân, thì cũng không có sự đáp ứng; vì họ “đã chết trong sự vi phạm và tội lỗi.”
Nhưng đó chưa phải là tất cả. Phao-lô cũng cho chúng ta biết rằng Sa-tan (người mà ông không bao giờ xem nhẹ về quyền năng và ý muốn độc ác của hắn) luôn hành động để giữ tội nhân trong tình trạng tự nhiên của họ. Sa-tan “đang hành động trong các con của sự không vâng phục” (Ê-phê-sô 2:2) để ngăn cản họ vâng phục luật pháp của Đức Chúa Trời. Và “thần đời này đã làm mù lòng của những người không tin, để họ không thấy ánh sáng của Phúc Âm vinh quang của Đấng Christ” (2 Cô-rinh-tô 4:4).
Vì vậy, có hai chướng ngại lớn đối với công việc truyền giảng hiệu quả:
- Thứ nhất, xu hướng tự nhiên và không cưỡng lại được của con người trong việc chống lại Đức Chúa Trời; và
- Thứ hai, sự siêng năng của Sa-tan trong việc dẫn dắt con người theo con đường vô tín và bất tuân.
🔻Điều này có ý nghĩa gì đối với công tác truyền giảng?
Rất đơn giản, điều đó có nghĩa là việc truyền giảng - như chúng ta đã mô tả - thì không thể nào thành công được. Dù chúng ta có trình bày Phúc Âm rõ ràng và thuyết phục đến đâu, thì chúng ta vẫn không có hy vọng thuyết phục thành công hay hoán cải bất kỳ ai. Bạn hay tôi, bằng những lời nói nhiệt thành, có thể phá vỡ quyền lực của Sa-tan trên đời sống một người sao? Không. Bạn hay tôi có thể ban sự sống cho người đã chết về thuộc linh sao? Không. Chúng ta có thể hy vọng khiến tội nhân hiểu lẽ thật của Phúc Âm qua những lời giải thích kiên nhẫn không? Không. Chúng ta có thể hy vọng thúc đẩy con người vâng phục Phúc Âm qua lời nài xin mà chúng ta thốt ra không? Không.
Cách tiếp cận của chúng ta đối với truyền giảng sẽ không thực tế cho đến khi chúng ta đối diện với thực tế nghiệt ngã này, và để sự thật ấy tác động đúng mực lên chúng ta. Khi một giáo viên cố gắng dạy học sinh môn toán hay ngữ pháp và nhận ra các em học quá chậm, thì ông tự nhủ rằng: rồi thế nào các em cũng hiểu ra thôi, và ông tiếp tục kiên nhẫn dạy dỗ. Hầu hết chúng ta đều có thể dốc ra nguồn kiên nhẫn lớn lao nếu chúng ta tin rằng sẽ có khả năng thành công cuối cùng trong những gì mình đang cố gắng. Nhưng trong trường hợp truyền giảng thì không có một khả năng như vậy.
Khi được nhìn nhận như một nỗ lực của con người, công cuộc truyền giảng là một công việc vô vọng. Về nguyên tắc, nó không thể tạo ra điều mong muốn. Chúng ta có thể rao giảng một cách rõ ràng, lưu loát và thu hút; có thể trò chuyện với cá nhân theo lối trực diện và thách thức nhất; có thể tổ chức những buổi nhóm đặc biệt, phát truyền đạo đơn, dán áp phích, và phủ cả xứ sở bằng các chiến dịch truyền thông - mà vẫn không có chút hy vọng nào rằng tất cả công sức ấy sẽ đem một linh hồn nào về cùng Đức Chúa Trời. Nếu không có yếu tố nào khác hiện diện trong tình huống - vượt trên nỗ lực của chính chúng ta - thì mọi hành động truyền giảng đều bị định trước là sẽ thất bại. Đây là sự thật - sự thật phũ phàng, căn bản như đá tảng - mà chúng ta phải đối diện.
Tôi nghi rằng chính tại đây, chúng ta tìm thấy căn bệnh ngấm ngầm đang thực sự làm suy yếu công tác truyền giảng trong các vòng tín hữu Tin Lành ngày nay. Dường như ai cũng đồng thuận rằng công cuộc truyền giảng hiện không ở trong tình trạng lành mạnh, nhưng lại không có sự đồng thuận về bản chất của chứng bệnh ấy hoặc cách để chữa lành.
Một số người, như chúng ta đã nêu, dường như nghĩ rằng vấn đề cốt lõi chính là sự phục hưng đức tin vào quyền tể trị trong ân điển của Đức Chúa Trời đang diễn ra ở nhiều nơi - một đức tin được bày tỏ qua việc nhấn mạnh trở lại các giáo lý về sự chọn lựa vô điều kiện và sự kêu gọi hiệu quả. Biện pháp của họ, có vẻ như, là cố gắng bác bỏ hoặc kìm hãm những giáo lý này và ngăn cản người khác coi trọng chúng. Tuy nhiên, vì nhiều nhà truyền giảng và giáo sĩ vĩ đại nhất trong lịch sử đã nắm giữ chính những giáo lý này, nên rõ ràng - ít nhất là theo lẽ thường - chẩn đoán đó không thuyết phục, và phương thuốc được đề ra cũng chẳng thích hợp. Thêm vào đó, điều hiển nhiên là công cuộc truyền giảng đã trở nên uể oải trong khoảng thời gian giữa hai cuộc thế chiến, từ lâu trước khi việc nhấn mạnh trở lại các giáo lý ấy được khởi xướng.
Một số người khác, như chúng ta cũng đã đề cập, dường như cho rằng vấn đề nằm ở loại hình các buổi truyền giảng đang được tổ chức phổ biến hiện nay. Họ nghĩ rằng nếu chúng ta loại bỏ sự vui vẻ, khiến các buổi nhóm trở nên nghiêm trọng hơn, dẹp bỏ phần kêu gọi, phòng tư vấn và các hoạt động sau giờ nhóm, thì công tác truyền giảng sẽ tự động được hồi sinh. Nhưng điều đó cũng không rõ ràng.
Tôi nghi rằng căn nguyên của sự trì trệ trong công tác truyền giảng ngày nay nằm sâu hơn cả hai chẩn đoán kể trên. Tôi nghi rằng nguyên nhân thực sự dẫn đến cảm giác mỏi mòn trong công tác truyền giảng chính là một trạng thái suy sụp tinh thần lan rộng, một sự thiếu can đảm chưa được thừa nhận, bắt nguồn từ việc lâu dài không nhận diện thực tế rằng truyền giảng, khi được xét như một công việc của nhân loại, thì phải được kỳ vọng là sẽ thất bại. Để tôi giải thích.
Trong khoảng một thế kỷ qua, điều đặc trưng của các tín hữu Tin Lành (đúng hay sai - chúng ta không cần bàn luận ở đây) là họ xem công tác truyền giảng như một hoạt động chuyên biệt, tốt nhất nên được thực hiện theo những đợt ngắn và mạnh mẽ (“chiến dịch” hoặc “sứ mạng”), và cần có kỹ thuật đặc thù để đạt hiệu quả - cả trong việc giảng luận lẫn tiếp xúc cá nhân.
Ngay từ giai đoạn đầu của thời kỳ này, các tín hữu Tin Lành đã mặc định rằng truyền giảng chắc chắn sẽ thành công nếu có sự cầu nguyện thường xuyên và được tổ chức đúng cách (tức là sử dụng phương pháp đặc thù đó). Điều này là vì trong những năm đầu tiên, dưới sự dẫn dắt của những người như Moody, Torrey, Haslam và Hay Aitken, các chiến dịch truyền giảng thường rất thành công - không phải vì chúng luôn được hoạch định và điều hành tốt (theo chuẩn thế kỷ hai mươi mốt thì nhiều chiến dịch không đạt yêu cầu), mà là bởi vì Đức Chúa Trời đã hành động tại Anh Quốc vào thời kỳ ấy theo một cách rõ ràng là không giống như hiện nay. Ngay cả lúc đó, người ta vẫn thấy rõ rằng chiến dịch truyền giảng lần thứ hai tại một nơi hiếm khi hiệu quả bằng lần đầu, và lần thứ ba thường kém hơn lần thứ hai.
Nhưng trong khoảng năm mươi năm trở lại đây, khi đất nước chúng ta càng ngày càng rời xa nền tảng Cơ Đốc giáo, thì quy luật hao mòn đã tác động mạnh mẽ hơn nhiều. Những chiến dịch truyền giảng ngày càng trở nên ít sinh kết quả. Và thực trạng này khiến chúng ta hoang mang.
🔻Tại sao điều đó lại khiến chúng ta bất an?
Vì chúng ta đã không chuẩn bị tinh thần cho nó. Chúng ta từng mặc nhiên cho rằng việc tổ chức tốt và có kỹ thuật hiệu quả, được hỗ trợ bằng thói quen cầu nguyện, tự thân là đủ để đảm bảo thành quả. Chúng ta từng tin rằng có một sức mạnh gần như kỳ diệu trong các buổi nhóm đặc biệt, ban hát và người hát đơn đặc biệt, cũng như người giảng đặc biệt. Chúng ta từng tin chắc rằng điều sẽ luôn mang sự sống đến cho một Hội thánh đã nguội lạnh, hay một thị trấn khô hạn, chính là một chiến dịch truyền giảng chuyên sâu.
Trong tâm trí, nhiều người trong chúng ta vẫn nghĩ như vậy - hoặc ít nhất là nói rằng mình nghĩ như vậy. Chúng ta nói với nhau rằng đó là sự thật, và lập kế hoạch để truyền giảng dựa trên nền tảng đó. Thế nhưng trong sâu thẳm, nơi trái tim thật sự của mình, chúng ta lại trở nên chán nản, vỡ mộng và lo âu. Ngày trước, chúng ta từng cho rằng truyền giảng có kế hoạch chắc chắn sẽ thành công; nhưng hiện tại, mỗi khi bắt đầu, chúng ta lại lo sợ rằng nó sẽ thất bại - giống như đã từng thất bại biết bao lần trước đó. Tuy nhiên, chúng ta lại sợ thừa nhận nỗi sợ của chính mình, vì chúng ta không biết phải nghĩ sao trong một hoàn cảnh mà truyền giảng có chuẩn bị tốt lại thất bại. Vì vậy, chúng ta nén đi nỗi sợ ấy, và sự vỡ mộng của chúng ta trở thành một chứng rối loạn làm tê liệt tâm hồn. Việc thực hành truyền giảng của chúng ta trở nên uể oải, nhạt nhẽo, không còn lửa nhiệt thành như thuở ban đầu. Căn bản, vấn đề nằm ở những nghi ngờ chưa được thú nhận về giá trị thật sự của những gì chúng ta đang làm.
🔻Tại sao chúng ta có những nghi ngờ này?
Vì chúng ta đã bị vỡ mộng.
🔻Chúng ta đã vỡ mộng như thế nào?
Bởi những lần thất bại lặp đi lặp lại của các phương pháp truyền giảng mà chúng ta từng đặt hết lòng tin tưởng.
🔻Vậy đâu là phương thuốc cho sự vỡ mộng của chúng ta?
Trước hết, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã quá ngây thơ khi nghĩ rằng bất kỳ phương pháp truyền giảng nào - dù khéo léo đến đâu - có thể tự nó đảm bảo việc dẫn đưa linh hồn về với Chúa.
Thứ hai, chúng ta phải nhận biết rằng vì lòng người vốn chai lì trước Lời của Đức Chúa Trời, nên không có gì là quá ngạc nhiên khi truyền giảng đôi khi không đem lại những cuộc hoán cải.
Thứ ba, chúng ta phải ghi nhớ rằng mục tiêu trong sự kêu gọi của chúng ta là sự trung tín, chứ không phải là sự thành công.
Thứ tư, chúng ta phải học cách đặt trọn niềm hy vọng về kết quả truyền giảng nơi ân điển toàn năng của Đức Chúa Trời.
Vì Đức Chúa Trời làm điều mà loài người không thể làm. Ngài hành động bởi Đức Thánh Linh của Ngài qua Lời của Ngài trong lòng của những người tội lỗi, để đưa họ đến sự ăn năn và đức tin. Đức tin là món quà đến từ Đức Chúa Trời. “Vì anh em đã được ban cho đặc ân, vì cớ Đấng Christ, được tin Ngài,” Phao-lô viết cho Hội Thánh tại Phi-líp (Phi-líp 1:29). “Vì bởi ân điển mà anh em được cứu, nhờ đức tin,” ông nói với người Ê-phê-sô. “Điều đó không phải do anh em tự làm ra, mà là món quà của Đức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 2:8).
Tương tự như vậy, sự ăn năn cũng là món quà đến từ Đức Chúa Trời. Phi-e-rơ đã nói với Hội đồng Công luận rằng: “Đức Chúa Trời đã tôn Chúa [Chúa Giê-xu] lên làm Đấng Lãnh Đạo và Cứu Chúa, để ban sự ăn năn cho dân Y-sơ-ra-ên và sự tha thứ tội lỗi” (Công vụ 5:31). Khi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem nghe rằng Phi-e-rơ được sai đến để rao giảng cho Cornelius, và Cornelius đã tin nhận, họ nói: “Vậy thì, Đức Chúa Trời cũng đã ban sự ăn năn dẫn đến sự sống cho người ngoại nữa.”
Bạn và tôi không thể khiến người có tội ăn năn và tin nhận Đấng Christ chỉ bằng lời nói của mình; nhưng Đức Chúa Trời hành động trong lòng người qua Đức Thánh Linh của Ngài, để gây dựng đức tin và sự ăn năn. Phao-lô gọi đây là công việc “kêu gọi” của Đức Chúa Trời. Các nhà thần học cổ điển gọi đó là “sự kêu gọi hiệu quả”, để phân biệt với sự kêu gọi vô hiệu khi Phúc Âm được rao giảng nhưng lòng người chưa được Đức Chúa Trời vận hành. Đó là công tác mà Đức Chúa Trời khiến người tội lỗi hiểu và đáp ứng lời mời gọi của Phúc Âm. Đây là một công việc mang quyền năng sáng tạo: qua đó, Đức Chúa Trời ban cho con người tấm lòng mới, giải phóng họ khỏi ách nô lệ của tội lỗi, phá bỏ sự bất lực trong việc nhận biết và làm theo lẽ thật của Đức Chúa Trời, và dẫn dắt họ thực sự quay về với Ngài, đặt lòng tin nơi Đấng Christ là Đấng Cứu Rỗi.
Cũng bởi công việc này, Đức Chúa Trời phá tan quyền lực của Sa-tan trên họ, giải cứu họ khỏi vương quốc của sự tối tăm và đem họ vào “vương quốc của Con yêu dấu Ngài” (Cô-lô-se 1:13). Đây là sự kêu gọi sản sinh ra chính sự đáp ứng mà nó tìm kiếm, và ban phước lành mà nó mời gọi. Người ta thường gọi công tác này là “ân điển đi trước”, vì nó xảy ra trước khi có bất kỳ chuyển động nào trong lòng người hướng về Đức Chúa Trời. Thỉnh thoảng, nó được mô tả (dù có thể gây hiểu nhầm) là “ân điển không thể cưỡng lại”, đơn giản vì nó hiệu quả trong việc đánh đổ ý chí muốn chống lại ân điển.
Bản Tín Điều Westminster phân tích đây là hành động của Đức Chúa Trời đối với con người sa ngã: “Ngài soi sáng tâm trí họ cách thuộc linh và đầy năng quyền để hiểu được những sự thuộc về Đức Chúa Trời; loại bỏ quả tim bằng đá, ban cho họ quả tim bằng thịt; đổi mới ý chí họ, và bởi quyền năng toàn năng của Ngài khiến họ chọn điều lành; kéo họ đến với Chúa Giê-xu Christ cách hiệu quả; nhưng đồng thời khiến họ đến cách hoàn toàn tự do, vì đã được biến đổi bởi ân điển Ngài.”
Chính Chúa Giê-xu đã dạy về sự cần thiết phổ quát của sự kêu gọi bởi Lời Đức Chúa Trời và Thánh Linh. “Chẳng ai đến với ta được, nếu Cha là Đấng đã sai ta không kéo người ấy đến” (Giăng 6:44). Ngài cũng dạy về hiệu quả phổ quát của sự kêu gọi ấy: “Phàm ai đã nghe và học nơi Cha thì sẽ đến cùng ta” (Giăng 6:45). Và cùng với đó, Ngài dạy về sự chắc chắn phổ quát dành cho tất cả những ai Đức Chúa Trời đã chọn: “Tất cả những người Cha ban cho ta thì sẽ đến cùng ta” (Giăng 6:37). Họ sẽ nghe về Ngài, và lòng họ sẽ được cảm động để đặt niềm tin nơi Ngài. Đó là mục đích của Đức Chúa Cha, và là lời hứa của Đức Chúa Con.
Phao-lô nói về “sự kêu gọi hiệu quả” như là sự thể hiện của mục đích chọn lựa của Đức Chúa Trời. Với người Rô-ma, ông viết: “Những người Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để được trở nên giống như hình ảnh của Con Ngài. Những người Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi; những người Ngài đã gọi, thì Ngài cũng xưng công bình; và những người Ngài đã xưng công bình, thì Ngài cũng làm cho vinh hiển” (Rô-ma 8:29-30). Với người Tê-sa-lô-ni-ca, ông viết: “Đức Chúa Trời đã chọn anh em làm trái đầu mùa để được cứu, qua sự nên thánh bởi Thánh Linh và niềm tin nơi lẽ thật. Vì điều đó mà Ngài đã gọi anh em qua Tin Lành chúng tôi rao giảng, để anh em có thể nhận được sự vinh hiển của Chúa Giê-xu Christ chúng ta” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 2:13-14). Theo lời của vị sứ đồ, Đấng khởi xướng sự kêu gọi là Đức Chúa Trời; phương thức của sự kêu gọi là qua Phúc Âm; và kết quả của sự kêu gọi ấy là được dự phần trong vinh quang.
Và nếu đúng là như vậy, thì chúng ta ngay lập tức thấy rõ lý do tại sao Phao-lô, người đã nhìn nhận rất thực tế về sự nô lệ của con người sa ngã đối với tội lỗi và Sa-tan, lại có thể tránh khỏi sự vỡ mộng và nản lòng như chúng ta ngày nay, khi ngày càng nhận ra rõ ràng rằng, theo cách nhìn của con người, truyền giảng dường như là một công việc vô vọng.
Lý do là vì Phao-lô luôn giữ ánh mắt mình hướng về chủ quyền trong ân điển của Đức Chúa Trời. Ông biết rằng Đức Chúa Trời đã từ lâu tuyên bố: “Lời ra từ miệng ta sẽ không trở về ta một cách vô ích, nhưng sẽ làm thành điều ta đã định, và sẽ thành công trong việc ta sai nó đi” (Ê-sai 55:11). Ông biết rằng lẽ thật này áp dụng cho Tin Lành cũng như mọi lời tuyên phán khác của Đức Chúa Trời. Do đó, ông tin chắc rằng sự rao giảng Phúc Âm của chính ông sẽ không vô ích về lâu dài - Đức Chúa Trời sẽ đảm bảo điều đó. Ông biết rằng bất cứ nơi nào Phúc Âm được rao truyền, Đức Chúa Trời sẽ làm cho kẻ chết sống lại. Ông biết rằng Lời ấy sẽ trở thành nguồn sự sống cho một số người nghe nó. Sự hiểu biết này khiến ông trở nên tự tin, không mệt mỏi và tràn đầy mong đợi trong công tác truyền giáo.
Và nếu đôi khi gặp phải những giai đoạn khó khăn, với nhiều sự chống đối và ít kết quả thấy được, Phao-lô không hoảng sợ hay nản lòng. Bởi vì ông biết rằng nếu Đấng Christ đã mở cánh cửa cho ông rao truyền Tin Lành tại một nơi nào đó, thì điều đó có nghĩa là Đấng Christ có mục đích thu hút tội nhân đến với Ngài tại nơi đó. Lời Ngài sẽ không trở về cách vô ích. Vì vậy, công việc của ông là kiên nhẫn và trung tín rao truyền Tin Lành cho đến khi mùa gặt đến.
Đã từng có thời điểm tại Cô-rinh-tô khi mọi việc trở nên vô cùng khó khăn; dù đã có một số người cải đạo, sự chống đối vẫn cứ gia tăng, và ngay cả Phao-lô, người không biết sợ hãi, cũng đang tự hỏi liệu có nên tiếp tục kiên trì ở đó không. “Và,” như Lời Chúa phán, “Chúa [Chúa Giê-xu] hiện đến với Phao-lô trong một khải tượng vào ban đêm và nói: ‘Đừng sợ, cứ tiếp tục giảng dạy và đừng im lặng, vì Ta ở cùng ngươi, và sẽ không ai làm hại ngươi; bởi Ta có nhiều người trong thành này là thuộc về Ta’” (Công vụ 18:9-10). Ấy như thể Ngài đang nói: hãy tiếp tục rao giảng và dạy dỗ, hỡi Phao-lô, đừng để điều gì ngăn trở ngươi; vì có nhiều người tại đây ta định sẽ đưa về với chính mình thông qua lời chứng của ngươi về Phúc Âm của ta.
Richard B. Rackham nhận định: “Điều này xác nhận sự nhấn mạnh của Lu-ca về sự lựa chọn tiền định của Đức Chúa Trời.” Và sự nhấn mạnh ấy phản ánh niềm xác quyết của Phao-lô, dựa trên sự đảm bảo của chính Đấng Christ dành cho ông. Vậy thì, chính sự tể trị của Đức Chúa Trời trong ân điển đã đem đến cho Phao-lô niềm hy vọng về sự thành công khi ông rao giảng cho những lỗ tai điếc, trình bày Đấng Christ trước những đôi mắt mù lòa, và kêu gọi những trái tim hóa đá. Niềm tin của ông nằm ở chỗ: nơi nào Đấng Christ sai mang Phúc Âm đến, thì nơi đó Ngài có dân sự của Ngài - dẫu đang bị giam cầm trong xiềng xích tội lỗi, nhưng sẽ được giải thoát đúng thời điểm, qua sự đổi mới quyền năng trong lòng họ khi ánh sáng Phúc Âm rọi vào nơi tăm tối, và Đấng Cứu Thế kéo họ về với chính Ngài.
Trong một bài thánh ca tuyệt vời mà Charles Wesley đã viết ngay sau khi được hoán cải (có lẽ chỉ một ngày sau đó), ông đã mô tả trải nghiệm thuộc linh của mình như sau:
Linh hồn tôi đã bị cầm tù từ lâu
Bị trói chặt trong tội lỗi và bóng tối tự nhiên;
Nhưng ánh mắt Ngài chiếu rọi một tia sáng phục sinh
Tôi thức tỉnh, ngục tối bừng sáng ánh quang;
Xiềng xích tôi rơi xuống, lòng tôi được tự do,
Tôi đứng dậy, bước đi, và theo Ngài.
Đây không chỉ là một lời mô tả sống động về kinh nghiệm thuộc linh - mà còn là một tuyên ngôn thần học tuyệt vời. Chính điều này xảy ra với những người chưa được biến đổi ở bất kỳ nơi nào Phúc Âm của Chúa Giê-xu được rao giảng. Phao-lô đã biết rõ lẽ ấy, vì vậy ông có sự tự tin và lòng mong đợi đầy hy vọng mỗi khi thi hành công tác truyền giảng.
Sự tự tin của Phao-lô cũng phải là sự tự tin của chúng ta. Chúng ta không được đặt niềm tin vào những phương pháp cá nhân hay hình thức tổ chức các chương trình truyền giảng, dù chúng ta nghĩ chúng thật xuất sắc. Không có sự nhiệm màu nào trong các phương pháp - ngay cả những phương pháp có vẻ chuẩn xác về thần học. Khi chúng ta rao giảng Phúc Âm, niềm tin của chúng ta phải đặt nơi Đức Chúa Trời, là Đấng làm cho người chết sống lại. Ngài là Chúa Toàn Năng, Đấng xoay chuyển lòng người, và Ngài sẽ ban sự hoán cải theo thời điểm của Ngài.
Trong khi chờ đợi điều đó, phần của chúng ta là trung tín trong việc rao truyền Phúc Âm với lòng tin chắc rằng công khó ấy sẽ không bao giờ là vô ích. Đây chính là cách chân lý về sự tể trị trong ân điển của Đức Chúa Trời tác động lên công tác truyền giảng của chúng ta.
🔻Vậy niềm tin và sự chắc chắn ấy nên tạo ra những ảnh hưởng nào trong thái độ của chúng ta khi truyền giảng?
Ít nhất là ba điều:
(1) Lẽ thật ấy phải khiến chúng ta mạnh mẽ.#
Lẽ thật ấy phải giữ chúng ta không bị nao núng khi, như thường thấy, phản ứng đầu tiên của con người với Phúc Âm là sự thờ ơ, hoặc thậm chí khinh miệt. Phản ứng như vậy không nên khiến chúng ta ngạc nhiên - đó là điều tự nhiên từ những kẻ đang bị nô lệ bởi tội lỗi và Sa-tan. Cũng đừng để điều đó làm chúng ta nản lòng, bởi không có trái tim nào quá cứng cỏi đối với ân điển của Đức Chúa Trời.
Phao-lô từng là một kẻ chống đối cay nghiệt với Phúc Âm, nhưng Đấng Christ đã đặt tay Ngài trên Phao-lô, và ông đã bị khuất phục, được tái sinh trong sự sống mới. Chính bạn, kể từ khi trở thành Cơ Đốc nhân, đã liên tục nhận ra sự gian trá, bại hoại và lừa dối trong lòng mình - trước đó, lòng bạn còn tăm tối hơn. Thế nhưng Đấng Christ đã cứu bạn. Và điều đó đủ để thuyết phục bạn rằng Ngài có thể cứu bất kỳ ai.
Vì vậy, hãy kiên trì giới thiệu Đấng Christ cho những người chưa tin, mỗi khi có cơ hội. Bạn không phải đang làm điều dại dột. Bạn không đang lãng phí thời gian của mình hay của họ. Bạn không có lý do gì để xấu hổ về sứ điệp mình rao giảng, hay rụt rè trong cách trình bày. Bạn có mọi lý do để mạnh dạn, tự nhiên, đầy hy vọng về sự thành công - vì Đức Chúa Trời có thể ban cho chân lý của Ngài hiệu quả mà bạn và tôi không thể tạo ra. Đức Chúa Trời có thể khiến chân lý của Ngài chiến thắng và biến đổi những người tưởng chừng cứng lòng nhất. Bạn và tôi sẽ không bao giờ dám cho rằng ai đó là vô vọng hay vượt ngoài tầm với của Đức Chúa Trời, nếu chúng ta thật sự tin vào sự tể trị đầy ân điển của Ngài.
(2) Niềm tin đó cũng phải khiến chúng ta trở nên nhẫn nại.#
Nó phải giữ chúng ta không bị nản lòng khi thấy những nỗ lực truyền giảng của mình không nhận được phản hồi ngay lập tức. Đức Chúa Trời cứu người theo thời điểm của Ngài, và chúng ta không nên nghĩ rằng Ngài phải vội vã như chúng ta.
Chúng ta cần ghi nhớ rằng mình là con cái của thời đại này, và tinh thần của thời đại là sự hấp tấp, vội vã. Đó là một tinh thần thực dụng - luôn đòi hỏi kết quả nhanh chóng. Lý tưởng của thế hệ hôm nay là làm được nhiều hơn bằng cách nỗ lực ít hơn. Đây là thời đại của máy móc hỗ trợ lao động, của sơ đồ hiệu suất, của sự tự động hóa. Tất cả điều đó nuôi dưỡng một thái độ thiếu kiên nhẫn đối với bất kỳ điều gì đòi hỏi thời gian và công sức bền bỉ.
Chúng ta đang sống trong một thời đại cẩu thả; chúng ta khó chịu khi phải dành thời gian làm điều gì một cách kỹ lưỡng. Và tinh thần ấy dễ dàng lây lan sang công tác truyền giảng của chúng ta (chưa kể đến các lĩnh vực khác trong đời sống Cơ Đốc), gây ra hậu quả tai hại. Chúng ta dễ bị cám dỗ phải gấp gáp với những người mà mình muốn dẫn đến với Đấng Christ. Và rồi, khi không thấy kết quả tức thì, chúng ta trở nên thiếu kiên nhẫn, u sầu, thậm chí mất đi sự quan tâm với họ - cảm thấy rằng việc dành thêm thời gian là vô ích. Thế là chúng ta từ bỏ nỗ lực truyền giảng và để họ dần biến mất khỏi vòng quan tâm của mình. Nhưng cách làm đó là hoàn toàn sai lầm. Đó là sự thiếu hụt cả tình yêu dành cho linh hồn người ta, lẫn đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời.
Sự thật là: công việc truyền giảng Phúc Âm đòi hỏi một lòng kiên trì sâu sắc và bền bỉ - một sự dồi dào của tình yêu thương và chăm sóc kiên nhẫn - vượt quá khả năng mà phần lớn chúng ta, những Cơ Đốc nhân thế kỷ hai mươi mốt, sẵn có. Đây là công việc không hề hứa hẹn kết quả nhanh chóng; vì vậy, việc không thấy kết quả tức thời không phải là dấu hiệu của sự thất bại.
Đây cũng là công việc mà chúng ta không thể mong đợi thành công nếu không sẵn lòng bước đi lâu dài với con người. Quan niệm rằng chỉ một bài giảng truyền giảng, hay một cuộc trò chuyện nghiêm túc, là đủ để đưa một ai đó đến với Đấng Christ là một điều hết sức ngây ngô. Nếu bạn thấy có ai đó tiếp nhận đức tin chỉ qua một bài giảng hay một lần trò chuyện, thì thường bạn sẽ phát hiện ra rằng tấm lòng của người đó đã được chuẩn bị từ trước bởi nhiều lần được dạy dỗ và huấn luyện thuộc linh. Luật thuộc linh vận hành trong những trường hợp ấy là: “người này gieo, kẻ khác gặt” (Giăng 4:37).
Ngược lại, nếu bạn gặp một người chưa hề được chuẩn bị - một người chưa có sự xác tín về chân lý Phúc Âm, thậm chí còn không biết Phúc Âm là gì hoặc có ý niệm sai lạc về Phúc Âm - thì thật tai hại khi cố gắng thúc ép họ phải ra một “quyết định tức thời.” Bạn có thể khiến họ lâm vào một khủng hoảng tâm lý nào đó, nhưng đó không phải là đức tin cứu rỗi, và sẽ chẳng ích gì cho họ. Bạn cần dành thời gian với họ, kết bạn với họ, đồng hành với họ, khám phá xem họ đang đứng ở đâu trong nhận thức thuộc linh, và bắt đầu từ chính điểm đó. Bạn phải giải thích Phúc Âm cho họ, và đảm bảo rằng họ thật sự hiểu và tin vào lẽ thật của Phúc Âm, trước khi bạn thúc giục họ đáp lại cách chủ động. Bạn cần sẵn sàng giúp họ, nếu cần, vượt qua một giai đoạn tìm kiếm sự ăn năn và tin nhận, trước khi họ nhận biết trong lòng rằng mình đã tiếp nhận Đấng Christ, và được Ngài tiếp nhận.
Tại mỗi bước, bạn phải sẵn lòng đi cùng họ theo tốc độ của Đức Chúa Trời - dù có thể bạn thấy tốc độ ấy sao mà chậm lạ lùng. Nhưng đó là việc của Đức Chúa Trời, không phải việc của bạn. Việc của bạn chỉ là bước theo điều Ngài đang làm trong đời sống của họ. Sự sẵn lòng kiên nhẫn với họ theo cách ấy chính là bằng chứng về tình yêu thương bạn dành cho họ, và đức tin bạn đặt nơi Đức Chúa Trời. Nếu bạn không sẵn lòng như vậy, thì cũng đừng mong rằng Đức Chúa Trời sẽ ban ân huệ để bạn có thể dẫn người ta đến sự cứu rỗi.
Vậy, sự kiên nhẫn - yếu tố không thể thiếu trong công tác truyền giảng Phúc Âm - đến từ đâu? Từ việc chúng ta suy gẫm lẽ thật rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong ân điển, và rằng lời Ngài không trở về với Ngài cách vô ích. Từ việc nhận biết rằng chính Ngài ban cho chúng ta những cơ hội để chia sẻ sự hiểu biết về Đấng Christ cho người khác, và rằng Ngài sẽ, vào thời điểm tốt lành của Ngài, soi sáng họ và đưa họ đến đức tin.
Đức Chúa Trời thường huấn luyện sự kiên nhẫn của chúng ta trong lĩnh vực này, cũng như trong nhiều lĩnh vực khác. Như Ngài đã để Áp-ra-ham chờ đợi suốt hai mươi lăm năm cho sự ra đời của người con trai, thì Ngài cũng thường để các Cơ Đốc nhân chờ đợi những điều họ ao ước được thấy - như sự hoán cải của những người bạn thân yêu. Vì vậy, chúng ta cần sự kiên nhẫn nếu muốn làm phần việc của mình trong việc giúp người khác đến với đức tin. Và cách để chúng ta trưởng dưỡng lòng kiên nhẫn ấy, chính là học biết sống theo sự hiểu biết của mình về sự tể trị đầy ân điển và tự do của Đức Chúa Trời.
(3) Cuối cùng, sự xác tín đó phải khiến chúng ta trở nên người cầu nguyện.#
Cầu nguyện, như đã nói từ đầu, là sự xưng nhận sự bất lực và nhu cầu; là sự thừa nhận rằng chúng ta không thể tự giúp mình, rằng chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời, và là sự kêu xin quyền năng toàn năng của Ngài để làm điều mà chính mình không thể làm được.
Trong công tác truyền giảng, như chúng ta đã thấy, chúng ta bất lực. Chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào Đức Chúa Trời để lời chứng của mình trở nên hiệu quả; chỉ bởi vì Ngài có thể ban cho con người một tấm lòng mới, thì chúng ta mới có hy vọng rằng qua việc giảng rao Phúc Âm, người tội nhân có thể được tái sinh. Những lẽ thật ấy phải thúc đẩy chúng ta đến với sự cầu nguyện.
Đó chính là ý muốn của Đức Chúa Trời: trong điều này cũng như trong nhiều điều khác, Ngài muốn chúng ta nhận ra và xưng nhận sự bất lực của mình, trình dâng lên Ngài sự lệ thuộc tuyệt đối, và khẩn cầu Ngài hành động để danh Ngài được vinh hiển. Phương cách của Đức Chúa Trời thường là trì hoãn sự ban phước cho đến khi dân sự Ngài bắt đầu cầu nguyện: “Anh em không được gì, là vì anh em không xin” (Gia-cơ 4:2); “Hãy xin, thì sẽ được; hãy tìm, thì sẽ gặp; hãy gõ cửa, thì sẽ mở cho” (Ma-thi-ơ 7:7).
Nhưng nếu bạn và tôi quá kiêu ngạo hoặc lười biếng để cầu xin, thì cũng không nên mong đợi rằng mình sẽ nhận lãnh điều gì. Đây là quy luật phổ quát - trong công tác truyền giảng cũng như trong mọi lĩnh vực khác. Đức Chúa Trời muốn chúng ta cầu nguyện trước khi Ngài ban phước trên công khó của chúng ta, để chúng ta luôn học lại rằng mọi điều đều đến từ sự lệ thuộc vào Ngài. Và khi Ngài cho chúng ta được chứng kiến những cuộc đời được thay đổi, những linh hồn được hoán cải, thì chúng ta sẽ không bị cám dỗ gán điều đó cho khả năng, kỹ năng, sự khôn ngoan hay tài thuyết phục của chính mình - nhưng sẽ nhận biết rằng ấy là công việc của chính Đức Chúa Trời. Và khi ấy, chúng ta sẽ biết chính xác mình phải cảm tạ ai vì mọi điều đã xảy ra.
🔻Vậy thì, sự hiểu biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong ân điển, và rằng chúng ta bất lực trong việc đưa linh hồn về với Ngài, phải khiến chúng ta cầu nguyện và giữ mình luôn trong sự cầu nguyện. Vậy nội dung chính trong lời cầu nguyện của chúng ta là gì?
Chúng ta phải cầu nguyện cho những người mà mình tìm cách dẫn về với Chúa Giê-xu, rằng Đức Thánh Linh sẽ mở lòng họ; đồng thời, chúng ta cũng cần cầu nguyện cho chính mình trong chức vụ làm chứng, và cho mọi người đang rao giảng Phúc Âm, rằng quyền năng và thẩm quyền của Đức Thánh Linh sẽ ngự trên họ. Phao-lô viết cho Hội Thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca: “Hãy cầu nguyện cho chúng tôi, để lời Chúa được lan truyền nhanh chóng và được tôn kính” (2 Tê-sa-lô-ni-ca 3:1).
Phao-lô là một nhà truyền giảng vĩ đại, người đã thấy nhiều trái ngọt thuộc linh, nhưng ông biết rõ rằng từng kết quả nhỏ nhất đều đến từ Đức Chúa Trời; và rằng nếu Đức Chúa Trời không tiếp tục hành động trong ông và trong những người ông đang rao giảng cho, thì ông chẳng thể đem ai đến sự cứu rỗi. Vì vậy, ông khẩn cầu sự cầu nguyện, để công tác truyền giảng của ông tiếp tục sinh kết quả. Ông nài xin, hãy cầu nguyện để lời Phúc Âm được vinh hiển qua sự giảng dạy của ông, và qua tác động của nó biến đổi đời sống con người. Hãy cầu nguyện để lời ấy liên tục được sử dụng để đưa tội nhân đến sự hoán cải.
Đối với Phao-lô, đây là một lời khẩn cầu khẩn thiết, vì ông thấy rõ rằng lời giảng của ông chẳng thể cứu ai, nếu Đức Chúa Trời - trong sự thương xót tể trị - không vui lòng ban phước và sử dụng nó cho mục đích này. Bạn thấy đấy, Phao-lô không hề nghĩ rằng vì Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong việc cứu tội nhân, thì việc cầu nguyện trở nên không cần thiết; cũng như ông không nghĩ rằng sự giảng dạy Phúc Âm là thừa thãi. Ngược lại, ông tin rằng: chính vì sự cứu rỗi của tội nhân hoàn toàn phụ thuộc vào Đức Chúa Trời, nên việc cầu nguyện để sự giảng dạy Phúc Âm sinh kết quả là điều càng thiết yếu hơn nữa.
Ngày nay, những ai đồng quan điểm với Phao-lô, tin chắc rằng chính quyền năng tể trị của Đức Chúa Trời - và chỉ mình Ngài - là Đấng đưa tội nhân đến với Đấng Christ, thì phải chứng minh niềm tin ấy qua việc trở thành những người cầu nguyện trung tín nhất, sốt sắng nhất, kiên trì nhất, để xin ơn lành của Đức Chúa Trời tuôn đổ trên sự rao giảng Lời Ngài, và để dưới ánh sáng Lời ấy, những tội nhân được tái sinh. Đây chính là sự kết tinh cuối cùng của niềm tin vào sự tể trị trong ân điển của Đức Chúa Trời đối với công tác truyền giảng Phúc Âm.
Như đã nói ở phần đầu chương này, giáo lý này không hề làm giảm hay thu hẹp phạm vi của sứ mạng truyền giảng Phúc Âm. Bây giờ chúng ta thấy rằng, không những không thu hẹp, mà nó thực sự mở rộng phạm vi ấy. Vì nó cho chúng ta đối diện với thực tế rằng sứ mạng truyền giảng có hai mặt: không chỉ rao giảng, mà còn phải cầu nguyện; không chỉ nói với con người về Đức Chúa Trời, mà còn phải nói với Đức Chúa Trời về con người. Sự giảng dạy và sự cầu nguyện phải đi đôi với nhau; công tác truyền giảng của chúng ta sẽ không theo sự thông sáng, và cũng không được ban phước, nếu thiếu một trong hai điều ấy.
Chúng ta phải rao giảng - bởi nếu con người không có sự hiểu biết về Phúc Âm, họ không thể được cứu. Và chúng ta phải cầu nguyện - bởi chỉ có Đức Thánh Linh trong chủ quyền tể trị của Ngài, ngự trong lòng chúng ta và trong lòng con người, mới có thể khiến sự giảng dạy trở nên hiệu quả để đem lại sự cứu rỗi. Đức Chúa Trời sẽ không sai Thánh Linh của Ngài đến nơi không có sự cầu nguyện.
Ngày nay, nhiều tín hữu Tin Lành đang nỗ lực cải tổ các phương pháp truyền giảng, điều đó là tốt. Nhưng công cuộc ấy sẽ không sinh kết quả nếu Đức Chúa Trời cũng không cải tổ đời sống cầu nguyện của chúng ta, và tuôn đổ trên chúng ta một tinh thần mới của sự khẩn cầu cho công tác truyền giáo. Hướng đi phía trước trong công tác truyền giảng chính là: chúng ta phải được dạy lại cách làm chứng về Chúa Giê-xu và Phúc Âm của Ngài - ở nơi công khai và riêng tư, qua giảng luận và trò chuyện cá nhân - với sự mạnh dạn, kiên nhẫn, quyền năng, thẩm quyền và tình yêu. Song song với điều ấy, chúng ta cũng phải được dạy lại cách cầu nguyện xin sự ban phước của Đức Chúa Trời trên lời chứng của mình - trong sự khiêm nhu và sự khẩn thiết. Đơn giản là như vậy, và cũng thách thức là như vậy. Dù đã bàn luận nhiều về việc cải tổ các phương pháp truyền giáo, cuối cùng vẫn không có con đường nào khác ngoài con đường này. Nếu chúng ta không đi con đường ấy, chúng ta sẽ không tiến bước được.
Vậy là bánh xe lập luận của chúng ta đã quay trọn một vòng. Chúng ta đã bắt đầu bằng việc nhắc đến thực hành cầu nguyện như bằng chứng của đức tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời. Giờ đây, chúng ta kết thúc bằng việc lấy chính đức tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời làm động lực cho đời sống cầu nguyện.
Vậy, chúng ta nói gì về ý kiến cho rằng niềm tin vững chắc vào sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời là điều gây trở ngại cho công tác truyền giảng? Chúng ta phải nói rằng: ai đưa ra nhận định ấy thì chứng tỏ rằng họ chưa hiểu đúng ý nghĩa của giáo lý về sự tể trị của Đức Chúa Trời. Không những giáo lý này hỗ trợ cho công tác truyền giảng và nâng đỡ người truyền giảng bằng cách tạo ra một hy vọng thành công mà không thể có được từ bất kỳ nguồn nào khác. Giáo lý này cũng dạy chúng ta kết nối sự giảng dạy và sự cầu nguyện lại làm một. Và trong khi nó khiến chúng ta mạnh dạn và đầy lòng tin cậy trước mặt người đời, thì cũng khiến chúng ta trở nên khiêm nhường và khẩn thiết trước mặt Đức Chúa Trời. Chẳng phải đây là điều đúng đắn sao?
Chúng ta không dám nói rằng con người không thể rao giảng Phúc Âm nếu chưa chấp nhận giáo lý này; nhưng chúng ta tin rằng, nếu mọi yếu tố khác là ngang bằng, thì người tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời sẽ truyền giảng cách hiệu quả hơn.