Tôi không có ý định dành thời gian để chứng minh cho bạn lẽ thật phổ quát rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trên thế gian này. Điều đó không cần thiết, bởi tôi biết rằng nếu bạn là một tín hữu, bạn đã tin điều ấy rồi. Làm sao tôi biết được? Vì tôi biết rằng nếu bạn là một tín hữu, thì bạn cầu nguyện - và việc nhìn nhận sự tể trị của Đức Chúa Trời chính là nền tảng của sự cầu nguyện đó.
Trong sự cầu nguyện, bạn cầu xin và dâng lời tạ ơn. Tại sao vậy? Bởi vì bạn công nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng ban cho và là nguồn gốc của mọi điều tốt lành mà bạn từng nhận được, cũng như mọi điều bạn hy vọng sẽ nhận được trong tương lai. Đây là triết lý căn bản của sự cầu nguyện Cơ Đốc: lời cầu nguyện không phải là nỗ lực buộc Đức Chúa Trời phải hành động theo ý mình, nhưng là sự thừa nhận khiêm nhường rằng chúng ta bất lực và phụ thuộc vào Ngài.
Khi chúng ta quỳ gối, chúng ta biết rằng mình không phải là người kiểm soát thế giới này; chúng ta không có quyền năng để tự cung ứng nhu cầu của mình bằng sức riêng. Mọi điều tốt lành mà chúng ta mong muốn cho bản thân và cho người khác đều phải được tìm kiếm từ nơi Đức Chúa Trời, và nếu có, thì chỉ có thể đến như một món quà từ tay Ngài. Nếu điều đó đúng đối với đồ ăn hàng ngày của chúng ta (như Lời Cầu Nguyện Chung đã dạy), thì lại càng đúng hơn đối với các phước lành thuộc linh. Tất cả điều này trở nên sáng tỏ khi chúng ta thực sự cầu nguyện, cho dù sau đó chúng ta có thể nói khác đi trong những cuộc tranh luận. Thực tế là, mỗi khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta đang thú nhận sự bất lực của mình và công nhận sự tể trị của Đức Chúa Trời. Và chính việc một người Cơ Đốc cầu nguyện là bằng chứng rõ ràng rằng người ấy tin vào quyền chủ tể của Đức Chúa Trời mình.
Tôi cũng không có ý định dành thời gian để chứng minh cho bạn lẽ thật riêng rằng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong sự cứu rỗi. Vì lẽ thật đó, bạn cũng đã tin rồi. Có hai bằng chứng cho thấy điều này.
Thứ nhất, bạn dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời vì sự hối cải của bạn. Tại sao bạn lại làm như vậy? Bởi vì trong lòng mình, bạn biết rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều ấy. Bạn đã không tự cứu lấy mình; Ngài đã cứu bạn. Lời tạ ơn của bạn chính là sự công nhận rằng sự hối cải của bạn không phải là công việc của bạn, mà là công việc của Ngài. Bạn không cho rằng việc bạn chịu ảnh hưởng Cơ Đốc vào thời điểm đó là sự tình cờ hay ngẫu nhiên. Bạn không xem việc mình đến Hội Thánh, nghe được Phúc Âm, có bạn bè Cơ Đốc, xuất thân từ một gia đình Cơ Đốc, được tiếp cận với Kinh Thánh, nhận ra nhu cầu của mình và đặt niềm tin nơi Chúa Giê-xu là điều xảy ra một cách ngẫu nhiên. Bạn không quy việc ăn năn và tin nhận của mình là kết quả của sự khôn ngoan, thận trọng, nhận định đúng đắn, hay cảm quan tốt của bản thân. Có thể, trong những ngày bạn tìm kiếm Chúa Giê-xu, bạn đã cố gắng và trăn trở rất nhiều, đọc và suy gẫm rất nhiều, nhưng tất cả sự nỗ lực đó cũng không làm cho sự hối cải trở thành công việc của bạn. Hành động đức tin khi bạn tiếp nhận Chúa Giê-xu là của bạn, theo nghĩa là chính bạn đã làm điều đó; nhưng điều ấy không có nghĩa là bạn đã tự cứu lấy mình. Thật ra, bạn chưa bao giờ có ý nghĩ rằng mình đã tự cứu mình.
Khi bạn nhìn lại, bạn nhận lấy trách nhiệm cho sự mù quáng, thờ ơ, cứng lòng và lẩn tránh của mình trước sứ điệp Phúc Âm trong quá khứ. Nhưng bạn không tự khen mình vì đã được Đấng Christ đầy kiên trì chinh phục. Bạn không hề nghĩ đến chuyện chia sẻ công lao cứu rỗi giữa Đức Chúa Trời và bản thân. Bạn chưa từng cho rằng phần đóng góp quyết định trong sự cứu rỗi của mình là đến từ bạn mà không phải từ Đức Chúa Trời. Bạn chưa bao giờ thưa với Đức Chúa Trời rằng, dù bạn biết ơn về những phương tiện và cơ hội ân điển mà Ngài đã ban, nhưng bạn nghĩ rằng mình cần phải cảm ơn chính mình vì đã đáp lại lời mời gọi ấy. Trái tim bạn phản nghịch trước ý tưởng thưa chuyện với Đức Chúa Trời theo kiểu như vậy. Thực ra, bạn cảm tạ Ngài cách chân thành không chỉ vì đã ban Chúa Giê-xu để bạn có thể tin cậy và hướng về, mà còn vì Ngài đã ban cho bạn ân tứ của đức tin và sự ăn năn. Từ ngày bạn trở thành một người tin Chúa, tấm lòng bạn luôn hướng dẫn bạn như thế. Bạn dâng mọi vinh hiển cho Đức Chúa Trời về mọi phương diện trong sự cứu rỗi của mình, và bạn biết rằng sẽ là một sự phạm thượng nếu bạn không cảm tạ Ngài vì đã đem bạn đến với đức tin. Qua cách bạn suy nghĩ và cảm tạ về sự hoán cải của mình, bạn đã thừa nhận sự tể trị của ân điển thiên thượng. Và mọi tín hữu khắp thế giới cũng đều làm như vậy.
Thật có ích khi suy ngẫm lời kể của Charles Simeon về cuộc trò chuyện của ông với John Wesley vào ngày 10 tháng 12 năm 1784 (ngày này được ghi lại trong nhật ký của Wesley):
“Thưa ông, tôi nghe rằng ông được gọi là người theo thuyết Arminius; còn tôi thì đôi lúc bị gọi là người theo thuyết Calvin. Vậy nên tôi đoán là chúng ta chuẩn bị tuốt gươm giao chiến. Nhưng trước khi tôi đồng ý bước vào trận, với sự cho phép của ông, tôi xin được hỏi vài câu: Thưa ông, ông có cảm thấy mình là một tạo vật bại hoại, đến mức nếu Đức Chúa Trời không chủ động đặt vào lòng mình thì ông chẳng bao giờ nghĩ đến việc quay trở về cùng Ngài không?”
“Vâng,” vị lão niên đáp, “Tôi thật sự cảm thấy như vậy.”
“Vậy ông có hoàn toàn tuyệt vọng trong việc tự làm cho mình được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời? Và ông chỉ tìm sự cứu rỗi qua huyết và sự công chính của Chúa Giê-xu thôi phải không?”
“Vâng, hoàn toàn chỉ qua Chúa Giê-xu.”
“Nhưng thưa ông, giả sử ông đã được cứu bởi Chúa Giê-xu, chẳng lẽ về sau ông phải tự cứu lấy mình qua việc làm của chính mình sao?”
“Không, tôi phải được cứu bởi Chúa Giê-xu từ đầu đến cuối.”
“Nếu vậy, cho rằng ông đã được cảm hóa lần đầu bởi ân điển Đức Chúa Trời, chẳng lẽ ông phải giữ vững đức tin của mình bởi sức riêng sao?”
“Không.”
“Vậy thì, thưa ông, ông có được nâng đỡ từng giờ từng phút bởi Đức Chúa Trời giống như một em bé trong vòng tay mẹ không?”
“Vâng, trọn vẹn như thế.”
“Và tất cả niềm hy vọng của ông là ở trong ân điển và lòng thương xót của Đức Chúa Trời để Ngài gìn giữ ông cho đến ngày của vương quốc thiên thượng của Ngài sao?”
“Vâng, tôi không có niềm hy vọng nào khác ngoài Ngài.”
“Vậy thì, thưa ông, với sự đồng ý của ông, tôi sẽ thu lại thanh gươm. Vì đây chính là toàn bộ sự dạy dỗ của tôi về thuyết Calvin: đây là sự chọn lựa, sự xưng công bình bởi đức tin, sự vững bền đến cuối cùng - tất cả những gì tôi tin, và đúng như cách tôi tin. Vậy nên, thay vì tìm kiếm từ ngữ và thuật ngữ để tạo ra sự tranh cãi giữa chúng ta, xin hãy cùng nhau hiệp một cách chân thành trong những điều mà chúng ta đồng lòng.”
Bằng chứng thứ hai cho thấy bạn thừa nhận Đức Chúa Trời là Đấng tể trị trong sự cứu rỗi là qua việc bạn cầu nguyện cho sự hoán cải của người khác. Vậy, khi bạn cầu thay cho họ, bạn cầu xin bằng những lời lẽ nào? Có phải bạn chỉ đơn giản cầu xin Đức Chúa Trời đưa họ đến điểm mà họ có thể tự cứu mình, tách biệt khỏi Ngài? Tôi không nghĩ bạn làm thế. Tôi tin rằng bạn cầu nguyện cách rõ ràng và dứt khoát rằng Đức Chúa Trời sẽ cứu họ - rằng Ngài sẽ mở mắt tâm linh họ, làm mềm lòng chai đá, đổi mới bản chất của họ, và lay chuyển ý chí họ để tiếp nhận Đấng Cứu Thế là Chúa Giê-xu. Bạn cầu xin Đức Chúa Trời hành động trong họ mọi điều cần thiết cho sự cứu rỗi. Bạn chẳng bao giờ nghĩ tới việc thêm vào lời cầu nguyện rằng bạn không thực sự mong Ngài dẫn họ đến đức tin - như thể đó là điều Ngài không thể làm. Hoàn toàn không!
Khi bạn cầu nguyện cho những người chưa hoán cải, bạn cầu nguyện với niềm tin rằng Đức Chúa Trời có quyền năng đem họ đến đức tin. Bạn nài xin Ngài thực hiện chính điều đó, và sự vững tin khi cầu nguyện đến từ sự chắc chắn rằng Ngài có thể làm thành điều bạn cầu xin Ngài. Và quả thật, Ngài có thể! Sự xác tín này, vốn thúc đẩy những lời cầu thay của bạn, chính là chân lý thuộc về Đức Chúa Trời, được Đức Thánh Linh ghi khắc trong lòng bạn. Khi cầu nguyện - và chính lúc cầu nguyện, Cơ Đốc nhân tỉnh táo và khôn ngoan nhất - bạn biết rằng chính Đức Chúa Trời cứu con người. Bạn biết rằng điều khiến người ta quay về với Chúa là chính công việc đầy ân điển của Ngài trong việc kéo họ lại gần Ngài. Và nội dung lời cầu nguyện của bạn được xác định bởi nhận thức đó. Vậy nên, qua việc cầu thay cũng như qua việc cảm tạ Chúa về sự hối cải của chính mình, bạn công nhận và tuyên xưng sự tể trị của ân điển Đức Chúa Trời. Và mọi tín hữu trên khắp thế giới cũng làm như vậy.
Cuộc tranh luận lâu dài trong Hội Thánh xoay quanh việc liệu Đức Chúa Trời có thật sự là Chúa đối với hành vi con người và đức tin cứu rỗi hay không. Nhưng những điều đã được trình bày cho chúng ta thấy rõ cách chúng ta nên nhìn nhận cuộc tranh luận này. Thực tế không như vẻ ngoài: đó là, không phải một số tín hữu tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời, trong khi những người khác lại phản đối. Thật ra, tất cả những người tin Chúa đều tin vào sự tể trị của Ngài, chỉ là một số người không nhận ra điều đó, và trong sự hiểu lầm, họ tưởng mình đang bác bỏ lẽ thật ấy.
Vậy, điều gì dẫn đến trạng thái khó hiểu này? Nguyên nhân cốt lõi cũng giống như nhiều sai lầm trong Hội Thánh: đó là sự suy diễn theo chủ nghĩa lý trí, sự đam mê tính hệ thống tuyệt đối, sự ngần ngại trong việc chấp nhận các huyền nhiệm, và sự không muốn công nhận rằng Đức Chúa Trời khôn ngoan hơn loài người. Từ đó, họ bắt đầu áp đặt Kinh Thánh theo lối lý luận của con người.
Người ta nhận thấy rằng Kinh Thánh dạy về trách nhiệm của con người đối với hành động của mình, nhưng họ không (và thật ra con người không thể) hiểu được làm thế nào lẽ thật ấy lại phù hợp với quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên chính những hành động đó. Họ không bằng lòng để cho hai lẽ thật sống song hành như cách Kinh Thánh cho phép, mà vội vã kết luận rằng, để duy trì chân lý về trách nhiệm con người, họ buộc phải từ bỏ chân lý khác, cũng đến từ Kinh Thánh và cũng đúng đắn - đó là sự tể trị của Đức Chúa Trời - rồi từ đó tìm cách gạt bỏ hàng loạt câu Kinh Thánh minh chứng cho lẽ thật đó.
Khát khao làm cho Kinh Thánh trở nên dễ hiểu bằng cách loại bỏ những sự huyền nhiệm là điều tự nhiên trong tâm trí đầy giới hạn của chúng ta, và không có gì đáng ngạc nhiên khi ngay cả những người tốt cũng có thể trở thành nạn nhân của lối suy nghĩ ấy. Vì vậy mà cuộc tranh luận dai dẳng và rắc rối này vẫn tiếp diễn. Thế nhưng trớ trêu thay, khi chúng ta xem xét cách hai phe cầu nguyện, thì bỗng hiện rõ rằng những người tuyên bố bác bỏ sự tể trị của Đức Chúa Trời thật ra lại tin vào lẽ thật ấy một cách mạnh mẽ chẳng kém gì những người khẳng định nó.
Vậy thì, bạn cầu nguyện thế nào? Bạn có cầu xin Đức Chúa Trời ban đồ dùng hằng ngày cho mình không? Bạn có cảm tạ Ngài vì sự hối cải của chính mình không? Bạn có cầu nguyện cho sự hối cải của người khác không? Nếu câu trả lời là “không,” thì tôi chỉ có thể nói rằng tôi không nghĩ bạn đã thật sự được tái sinh. Nhưng nếu câu trả lời là “có” - thì đó chính là bằng chứng rằng, bất kể trong quá khứ bạn đứng về phía nào trong cuộc tranh luận liên quan đến vấn đề này, thì trong lòng bạn vẫn tin vào sự tể trị của Đức Chúa Trời một cách vững vàng chẳng thua ai. Khi đứng trên đôi chân, chúng ta có thể tranh luận về lẽ thật này; nhưng khi quỳ gối trong sự cầu nguyện, chúng ta đều đồng lòng. Và chính sự đồng lòng đó - được minh chứng qua những lời cầu nguyện của chúng ta - là điểm khởi đầu mà tôi chọn để bắt đầu cuộc hành trình khám phá về ân điển và sự tể trị của Ngài.